Cách cấu hình AD Users có quyền truy cập Bash và SSH port 22 của vCenter Server Appliance 6.x


Bước 0. Hãy đảm bảo rằng VCSA và / hoặc PSC của bạn được join domain và kết hợp với Active Directory trước khi tiếp tục bước tiếp theo. Nếu không, hãy xem tài liệu dưới đây:

Lỗi gì khi đặt tên Domain SSO trong PSC 6.0 và vCSA 6.0 trùng với tên domain AD-DC

Bài Labs: triển khai mô hình HA và SSO cho PSC với vCenter site A (Hà nội) và vCenter Site B (HCMC)

Cách cấu hình đăng nhập 1 lần SSO giữa AD Server với vCenter 6.0 (Platform Service Controller– PSC)

Bước 1 – Đăng nhập vào vSphere Web Client và dưới Administration-> System Configuration-> Nodes-> Manage-> Settings-> Access, đi trước và kích hoạt SSH và bash shell options.

  • Cài đặt đầu tiên chuyển SSH sang VCSA và
  • Cài đặt thứ hai cho phép người dùng (LocalOS, vSphere SSO và AD) truy cập thông qua Shell tới VCSA.


Bước 2 – Trong Web Client vSphere và trong Administration-> Single Sign-On-> Users and Groups-> Groups, chọn nhóm SystemConfiguration.BaseShellAdministrators và thêm một AD User và / hoặc Group mà bạn muốn cho phép truy cập bằng Shell.

Lưu ý: các bạn có thể làm như vậy với 3 nhóm đặc biệt khác: License Service Administrators, Component Manager Administrators, SystemConfiguration.Administrators


 

Khi bạn đã hoàn tất các bước ở trên, bây giờ bạn có thể dùng SSH truy cập đến VCSA / PSC của bạn bằng cách sử dụng AD User (định dạng UPN: kiểu email) mà bạn đã ủy quyền trước đó.

Trong ví dụ dưới đây, tôi đang đăng nhập vào một trong những VCSA của tôi bằng cách sử dụng người dùng: thang.le@vclass.local và như bạn thấy, account của tôi được đặt trong Shell theo mặc định.

Trước khi add account của tôi vào nhóm IThelpdesk thuộc vnet.local (SSO Domain của PSC/vCenter) thì tuy vào được SSH 22 nhưng lệnh shell gõ không chạy

Nếu chúng ta muốn thay đổi thành lệnh bash shell, chúng ta chỉ cần gõ “shell” cho phép truy cập shell, giả sử bạn đã thực hiện Bước 2.

Chúc các bạn thành công!

Advertisements

Cách cấu hình AD Users có quyền truy cập Shell và SSH port 22 của ESXi Host 6.x


Bước 1. Cấu hình DNS Server có bản ghi A (host) và PTR trở tới ESXi Host

Ví dụ hình dưới.

Bước 2. Truy cập ESXi Console để cấu hình bật các dịch vụ SSH 22, Shell

Bước 3. Sửa quyền truy cập SSH port 22 và cho phép dùng lệnh Shell

Bước 4. Dùng user root và VMware vSphere Client / Web Sphere client truy cập ESXi để cấu hình NTP, mở SSH, bật Shell


Bước 5. Đăng nhập và chọn mục: Configuration à Security Profile

Bước 6. Chọn Services Properties và sửa Remote Access à 2 service SSH và ESXi Shell cho chạy

Bước 7. Nhớ chọn Options của 2 dịch vụ là “Start and stop with host”

Bước 8. Cấu hình NTP Configuration à Tab General à NTP Client Enabled à Mục NTP settings khai NTP Servers: vn.pool.ntp.org

Bước 9. Cấu hình và kiểm tra DNS and Routing


 

Bước 10. Cấu hình Authentication Services, chọn Properties…


 

Bước 11. Cấu hình Directory Services và Join domain


 

Sau khi Join domain thành công:

 

Bước 12. Tạo 1 Group user có tên: ESX Admins và sau đó add thêm các thành viên là AD Users vào


 

Bước 13. Đăng nhập vào ESXi host bằng AD User nói trên


 

Lưu ý: cần đăng nhập theo user dạng email ví dụ: thang@vclass.local (do Unix/Linux không cho dùng ký tự \).

Bước 14. Dùng PuTTy và WINSCP kết nối bằng AD User:

Lưu ý: cần đăng nhập theo user dạng email ví dụ: thang@vclass.local (do Unix/Linux không cho dùng ký tự \).

Bước 15. Mở truy cập ESXi Host bằng PuTTy

Lưu ý: cần đăng nhập theo user dạng email ví dụ: thang@vclass.local (do Unix/Linux không cho dùng ký tự \).

Như vậy, user đăng nhập vào ESXI Host, WINSCP / PuTTy đều dùng là AD Users.

Chúc các bạn thành công !

Cách sửa lỗi khi truy cập Site Application trên máy chủ SharePoint Farm 2016


Chào các bạn Admin SharePoint,

Sau thời gian phát triển các sản phẩm SharePoint từ 2007, 2010, 2013 đến 2016. Chúng ta đều thấy có chung 1 trường hợp kỳ lạ khó hiểu:

Khi tạo ra 1 Site Application rất chuẩn chỉ theo sách hướng dẫn của Microsoft SharePoint hay theo khoá học bất kỳ đều có hiện tượng sau:

  • Khi bạn truy cập các ứng dụng web Application của SharePoint trực tiếp trên máy chủ SharePoint Farm sever, nó sẽ cứ tiếp tục yêu cầu xác thực mặc dù bạn nhập đúng mật khẩu, hay tài khoản là admin farm/ admin SQL. Trong lúc đó chúng ta đang cần cài đặt thêm các dịch vụ trên SharePoint Farm.

Như vậy, bạn có thể chạy lệnh PowerShell để áp dụng thay đổi trên máy chủ SharePoint Farm Server.

Khái niệm “Disable Loop Back Check in SharePoint 2007/2010/2013/2016″

Hãy chạy Powershell bằng quyền Run as Administration:

New-ItemProperty HKLM:\System\CurrentControlSet\Control\Lsa -Name “DisableLoopbackCheck” -value “1” -PropertyType dword

  


Hoặc bạn cũng có thể chạy run: nhập lệnh ngoại trú: regedit và tìm đến

ở mục: HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Lsa trong registry và tạo thêm dword32 có tên: DisableLoopbackCheck, sửa giá trị là 1.

Bạn nên khởi động lại máy chủ SharePoint Farm để đảm bảo các thay đổi trên có giá trị áp dụng được.

Hãy kiểm tra lại kết quả sau khi đã khởi động lại máy chủ SharePoint Farms.

Chúc các bạn thành công !

Veeam Agent Backup for Windows/Linux làm được những gì?


Chúng ta cần lưu ý về bản Veeam Agent backup for windows và for Linux (Ubuntu, debian, CentOS, REDHAT, SuSe, Fedora) thực tế đều là kiểu Agent Base phục vụ cho các công tác backup từ Physical vào hệ thống lưu trữ và giúp khôi phục các hệ thống dữ liệu của máy vật lý như:

  • Các máy vật lý: PC, Desktop, Workstation, Laptop, Servers, HPC physical.
  • VDI có vGPU đấu nối kiểu pass-through, các kiểu kết nối VM với Quorum disk trên nền ảo hoá MS Hyper-V / VMware Hypervisor, Virtual disk mount kiểu persistent disk independent, RDM, Oracle RAC, MS SQL Cluster node.

Trong đó lại có 2 dòng sản phẩm Veeam Agent Backup:

  1. Dòng Miễn phí bản quyền (Veeam Agent Backup for Windows hoặc for Linux Free 2.0) :

Truy cập trang: https://my.veeam.com/#/product-download


  • Hệ thống VAB Free license backup được tất các dữ liệu, HĐH bootable của bất kể các hệ thống OS từ 2008 R2 SP1 trở lên.

  • Nhưng để backup các dữ liệu chuyên dụng như Active Directory Domain Controller và giúp người quản trị có thể review và restore từng dữ liệu riêng biệt trong file dữ liệu đã backup, chúng ta nên backup chúng thông qua Veeam Backup and Replicate (VBR – sản phẩm này có phí license: Essential | Standard| Enterprise | Enterprise Plus).

  • Lại nhưng, bản VAB free chỉ backup qua VBR trong mạng LAN, (có thể qua VPN, qua mạng WAN hay Internet nhưng không qua Cloud Backup as a Service).

     

    Nhập IP public của mạng WAN/ Internet hoặc tên domain của máy chủ VBR

     

     

  1. Dòng có phí bản quyền (Veeam Agent Backup

Cũng Truy cập trang: https://my.veeam.com/#/product-download

Cái phiền phức là khi download về máy để cài thì tên bản Free và bản có phí license đều giống hệt nhau

Tôi phải đổi tên để đỡ bị nhầm lẫn dịch vụ backup (thực tế bản cài chỉ có 1 duy nhất, chỉ khác là key licenseJ)

Khi cài và backup xong HĐH xuất ra file ISO lưu ở USB eSATA/ Share file, hệ thống sẽ yêu cầu update license

Bạn thấy đấy bản VAB có License nó khác VAB Free 2.0 ở chỗ có thể đẩy qua Cloud Backup as a Service (BaaS).

Lưu ý: lúc đó key license của máy chủ Veeam Backup and Replicate ở mạng WAN / Internet đều đã có key enterprise / Enterprise Plus

Có thể có một số lỗi kiểu báo không kết nối được với hệ thống VBR qua WAN/ Internet:

S

Nguyên nhân: do NAT firewall từ hệ thống Host máy chủ VBR không NAT port forward cho IP LAN và Port LAN của VBR ra ngoài

Hãy tham khảo link Open port: https://helpcenter.veeam.com/docs/agentforwindows/userguide/used_ports.html?ver=20

Sau khi đã cấu hình NAT Firewall mở Port 10001 cho phép máy chủ VBR ra ngoài với IP Public trên internet/WAN

Trên máy vật lý/ VM có cài VAB đang cấu hình phần kết nối sẽ có thông tin kết nối như sau:

Mọi việc còn lại rất dễ thực hiện, chúng ta chỉ bấm Next to Finish cấu hình backup.

Tóm lại, VAB Free license 2.0 khác với VAB có License là ở chỗ phải dung VBR license Enterprise Plus và nó có thể giúp chúng ta nhìn được toàn bộ tình hình dữ liệu chuyên dụng của chúng ta trên VBR

Bottom Line của tôi:

  • Chúng ta rất biết việc backup AD-DC dễ như thế nào? có bao nhiêu phần mềm backup được chúng.
  • Nhưng chúng ta cũng nên biết chỉ một số phần mềm mới có thể restore một cách tường minh như: User, Password, Group, Group Policy Objects, Integrated DNS, Configure System DC.

 

Chúc các bạn chọn đúng license của VAB với VBR hợp lý, kinh tế, hiệu suất khai thác công cụ Veeam Backup and Replicate tối đa, và quan trọng nhất an toàn dữ liệu cho bạn !

Cách tăng kích thước ổ cứng Virtual disk của GVA trong HĐH Linux Ubuntu


Để tăng được kích thước ổ cứng ảo trong máy chủ Gravity Zone Appliance GVA chạy hệ điều hành Linux Ubuntu

Chúng ta sẽ có thể lựa chọn 2 phương án:

Phương án 1: tăng kích thước ổ cũ theo Group “gzvg”

  1. Mở cửa sổ console của GVA hoặc kết nối bằng SSH PuTTy qua cổng 22, gõ lệnh đăng nhập user: bdadmin.
  2. Gõ lệnh sudo -s để đổi sang quyền root
  3. Giả sử chúng ta muốn mở rộng ổ cứng ngầm định của GVA từ 125 GB lên 140 (thường ngâm định GVA có 80GB)
  4. Tạo bảng phân hoạch mới gõ lệnh: fdisk /dev/sda
  5. Gõ phím n
    à Tạo bảng phân hoạch mới.
  6. Gõ phím p
    à in ra bảng phân hoạch ổ cứng.
  7. Gõ phím w
    à Viết 1 bảng phân hoạch ổ cứng mới.
  8. Gõ lệnh: Reboot khởi động lại GVA mới cập nhật các bước trên.
  9. fdisk -l (xem tất cả các phân hoạch ổ cứng)
  10. gõ lệnh: pvcreate /dev/sdaX (X là số thứ tự có thể kiểm tra số đó trước bằng lệnh: fdisk -l) -> kết thúc lệnh trên sẽ tạo physical volume
  11. vgextend gzvg /dev/sdaX -> là lệnh để mở rộng kích thước ổ cho volume group có tên “gzvg” (dùng lệnh: vgdisplay -shows để xem chi tiết group gzvg)
  12. lvextend -rl +100%FR­EE /dev/gzvg/root -> đã thực hiện lệnh mở rộng logical volume (dùng lệnh: lvdisplay -shows để xem hết các ổ logic volumes) 


Phương án 2: tạo thêm 1 ổ cứng mới:

  1. Mở cửa sổ console của GVA hoặc kết nối bằng SSH PuTTy qua cổng 22, gõ lệnh đăng nhập user: bdadmin.
  2. Gõ lệnh sudo -s để đổi sang quyền root
  3. Giả sử chúng ta muốn tạo thêm ổ cứng mới 5GB, ngoài 1 ổ cứng của GVA 125 GB (thường ngâm định GVA có 80GB)
  4. Tạo phân hoạch mới bằng lệnh: fdisk /dev/sdb
  5. Ấn phím n để tạo phân hoạch mới.
  6. Ấn phím p để in bảng cấu trúc phân hoạch.
  7. Ấn phím w để viết bảng phân hoạch mới.
  8. Gõ lệnh: fdisk -l (để xem tất cả các phân hoạch)
  9. Gõ lệnh: pvcreate /dev/sdbX (X là số thứ tự của ổ cứng mới tạo, có thể kiểm tra số đó trước bằng lệnh fdisk -l) -> đã thực hiện tạo ổ physical volume.
  10. Gõ lệnh: vgextend
    gzgv /dev/sdbX -> là lệnh mở rộng kích thước ổ cho volume group có tên “gzvg” (dùng lệnh: vgdisplay -shows để xem chi tiết group gzvg)
  11. Gõ lệnh: lvextend -rl +100%FR­EE /dev/gzvg/root -> đã thực hiện lệnh mở rộng ổ logical volume (dùng lệnh: lvdisplay -shows để xem hết các ổ logic volumes)

 

Các bước Sao lưu, khôi phục dữ liệu máy chủ Microsoft Active Directory Vật lý


Tổng hợp các bước thực hiện Cài đặt, cấu hình backup từ máy chủ vật lý chạy Windows AD 2008 R2 Standard SP1 hoặc Windows 2012 R2, Windows 2016 nano server tới hệ thống Sao lưu và khôi phục hệ thống bằng Veeam Backup and Replicate Availability Suite.

Tôi hy vọng rằng bạn đã cập nhật các dịch vụ Quản lý tên miền AD trong tổ chức của bạn và hệ thống Domain Controller của bạn đã được ảo hóa trong một thời gian dài.

Nếu không, tôi hy vọng rằng bạn ít nhất đã cập nhật Domain Controllers của bạn và chúng đang chạy phiên bản Windows Server OS tương đối hiện đại, Windows Server 2008 R2 SP1 hoặc mới hơn.
Bạn muốn bảo vệ AD của bạn? hãy dùng Veeam Endpoint Backup hoặc Veeam Agent Backup, tiện ích này nhằm đảm bảo dữ liệu về các điểm cuối và điểm truy cập vật lý còn lại của bạn được an toàn và bảo mật. Veeam Endpoint Backup nắm bắt dữ liệu mong muốn của máy vật lý và lưu trữ nó trong một tệp sao lưu vbk, phần thông tin mã hoá lưu trong file vbm.

Sau đó, trong trường hợp xảy ra thảm họa, sự cố, bạn có thể thực hiện khôi phục bằng HĐH, dạng file, Volume, Images Snapshot hoặc cấp độ Object AD items (buộc phải có cấu hình và được sao lưu qua máy chủ Veeam Backup and replicate) – trong khi vẫn kiểm soát hoàn toàn thủ tục khôi phục.

Để phục hồi cấp độ AD và dùng được mục Veeam Explorer cho Microsoft Active Directory vật lý của bạn bằng công cụ này, bạn nên:
1.Tải xuống Veeam Endpoint Backup (VEB) hoặc Veeam Agent Backup for Windows (VAB) miễn phí từ trang này và sao chép nó vào DC của bạn.
2. Cài đặt, chấp nhận thỏa thuận cấp phép và cài đặt chương trình VEB/VAB.
3. Định cấu hình công việc sao lưu bằng cách chọn chế độ sao lưu thích hợp.

Sao lưu toàn bộ máy tính là cách tiếp cận đơn giản và được đề xuất.


4. Khi sử dụng chế độ sao lưu cấp tệp, hãy chắc chắn chọn Hệ điều hành như một đối tượng để sao lưu. Điều này đảm bảo rằng chương trình bắt tất cả các tệp tin cần thiết cho khôi phục bằng bare-metal, cơ sở dữ liệu Active Directory và danh mục SYSVOL cũng sẽ được lưu lại. Tham khảo hướng dẫn sử dụng sản phẩm để biết chi tiết.


Lưu ý: Nếu bạn có phiên bản Veeam Backup & Replication trong cơ sở hạ tầng của mình và bạn muốn sử dụng Veeam Backup Repository đã được cấu hình để chấp nhận các bản sao lưu điểm cuối, vui lòng cấu hình lại ngay từ Veeam Backup & Replication

Chạy bản sao lưu và chắc chắn rằng nó được thực hiện không có lỗi


Quá trình sao lưu đã hoàn tất và Domain Controller của bạn được bảo vệ từ bây giờ. Đi đến đích sao lưu và tìm sao lưu hoặc chuỗi các bản sao lưu


Chú thích. Nếu bạn đã cấu hình một kho Veeam Backup & Replication Repository như là một mục tiêu cho sao lưu DataCenter, để tìm sao lưu mới được tạo trong nút Backups > Disk, được đặt vào nút Endpoint Backups.


 
 

Chúc các bạn thành công với hệ thống AD-DC an toàn!

Có nhu cầu hãy đăng ký đi học lớp Veeam Backup Level Professional hoặc Information Storage V3 tổ chức tại Robusta.

Phương pháp backup tốt nhất cho Hệ thống VDI VMware Server và Client


Về khái niệm VDI, hay sản phẩm Horizon View của VMware thì tạm thời không phải nói tới chi tiết, chúng ta chỉ cần bàn tới vấn đề Sao lưu, khôi phục các hệ thống dữ liệu cho máy chủ ảo, máy trạm ảo trong đó như thế nào.

Câu hỏi: Có rất nhiều người đã rất ngạc nhiên và thắc mắc rằng đã không thể nào backup được các VM, máy trạm ảo hoá khi đang vận hành trong hệ thống VDI có dùng các thiết bị kết nối theo kiểu PCIe, pass-through như GPU, Full Flash PCIe-16…

Phương án tệ nhất: Những máy ảo có sử dụng loại thiết bị kết nối này sẽ phải Shutdown máy ảo, thậm trí phải tạm thời gỡ bỏ kết nối PCIe thì mới backup được dữ liệu (gây gián đoạn).

Tìm hiểu cách thức mới:

Tôi đã tự hỏi nếu có một phương pháp sao lưu VM Guest có kết nối kiểu passthrough qua thiết bị khe cắm PCIe (như trong trường hợp của chúng tôi hay dùng cho HPC/VDI là các vGPU hoặc pGPU).
Sao lưu các loại VM trên thường xuyên lỗi, do các máy ảo có thiết bị passthrough không thể dùng các VM Snapshots “hay còn gọi là chụp nhanh dữ liệu VM”.

Có còn cách nào để bỏ qua cách chụp nhanh các bản dữ liệu ảnh “VM Snapshots hay còn gọi Backup Snapshots-base” hoặc dùng cách sử dụng VSS mà có thể giúp ta không cần phải shutdown VM Guest “tắt Power VM” ?

Có người nhìn vào câu hỏi trên và nghĩ rằng đó là do phần mềm backup sao lưu thiếu chức năng hỗ trợ cho khả năng sao lưu các dạng dữ liệu kiểu kết nối thiết bị pass-through cho PCIe ?

Thực tế các bạn đã nhầm và đã không bám sát vấn đề rất nguyên lý cơ bản của việc Sao lưu các máy ảo là theo công nghệ VM Snapshots Base, tôi có chia sẻ trước đây bài viết: https://thangletoan.wordpress.com/2017/09/08/tai-sao-vmware-snapshots-alone-khong-phai-la-sao-luu-backup-su-khac-nhau-giua-vm-snapshots-va-veeam-backup-snapshots-base/ và có nhắc tới

Điều gì sẽ xảy ra nếu môi trường của ta không thể áp dụng kiểu ảnh chụp nhanh VM Snapshots?

Rất nhiều các hạ tầng kỹ thuật ngày này sẽ không thể áp dụng kỹ thuật VM Snapshot, đơn giản vì chúng là các:

  1. Máy tính vật lý – Physical Machine.
  2. Các hệ thống siêu máy tính vật lý – HPC.
  3. Các thiết bị đòi hỏi lưu trữ tốc độ cao và có sử dụng GPU như Camera IP có phân tích nhận dạng hình ảnh bằng GPU.
  4. Các máy chủ vật lý hoặc Ảo hoá chạy trên môi trường cấu hình Cluster Failover/Cluster HA.
  5. Các hình thức lưu trữ dạng đọc ghi Quorum disk, Cluster Node Hard disk.
  6. Raw device mapping – RDM (cả ở dạng ảo hoá – vRDM hay vật lý – pRDM).
  7. Oracle RAC.
  8. MS SQL Cluster Node.
  9. Exchange DAG cluster Mailbox.

Câu trả lời được trả lời bằng câu hỏi làm rõ hơn vấn đề ?

Các dạng dữ liệu được hình thành từ kiểu kết nối Pass-through device sẽ tự động bị bỏ qua khi xử lý backup, có 2 loại là:

– Pass-through device cho Graphic processor passed to VM Direct và

– Pass-through Disk như kiểu Quorum disk/ RDM), vì chúng không thể bị chụp nhanh kiểu Snapshots base.

Vậy bạn có muốn sao lưu máy ảo trên bằng cấp độ tập tin File – Level? hay vẫn quyết tâm backup cho được máy ảo bằng VM- Level ? không được tắt các VM khi chúng đang vận hành ?

Chốt nguyên nhân: Phần mềm Sao lưu như Veeam hoặc các hãng khác đều không hỗ trợ sao lưu ở cáp độ Guest- Level mà chúng luôn xử lý sao lưu ở cấp độ Hypervisor- Level và dùng thư viện VADP libraries kiểu như VMware snapshots, do vậy cho dù bạn có dùng PowerShell Script, khai báo Virtual Host Infrastructure trong Veeam Backup Manager Console đầy đủ, hợp lệ cũng không thể backup được các VM loại này.

 

Tóm lại – Bottom line:

Bạn có thể thử sao lưu các máy ảo như vậy từ bên trong bằng cách sử dụng Veeam Endpoint Backup hoặc Veeam Agent Backup for Windows hoặc Veeam Agent backup for Linux.

 

Chúc các bạn thành công!

Lợi ích của Đào tạo từ xa và học trực tuyến thông qua MOOC C3


   
 

I.Một số lợi ích cơ bản của hệ thống Đào tạo từ xa và học trực tuyến:

1) Đào tạo từ xa và học trực tuyến:
giúp người học vượt qua rào cản về không gian và thời gian. Với hình thức học này, người học có thể đăng kí và theo học bất cứ thời gian nào mình muốn. Học viên có thể học bất cứ lúc nào, tại bất kì nơi đâu… Tận dụng được nguồn giảng viên chất lượng từ nhiều nơi trên thế giới, nội dung truyền tải nhất quán, phong phú, phù hợp với yêu cầu của người học.


2) Đào tạo từ xa và học trực tuyến:
giúp cho người học chủ động hơn: dễ dàng tự định hướng và tự điều chỉnh việc học tập của bản thân. Việc đăng kí và chứng thực học viên đơn giản và thuận tiện. Người học có khả năng tự kiểm soát cao thông qua việc tự đặt cho mình tốc độ học phù hợp, bỏ qua những phần hướng dẫn đơn giản không cần thiết mà vẫn đáp ứng được tiến độ chung của khóa học. Đối với học viên, kèm theo việc tăng khả năng tiếp tục đáp ứng được công việc, giảm thời gian học lý thuyết, khái niệm và tăng thời gian thực hành, lĩnh hội chính kiến, học viên còn có thể học mọi lúc, mọi nơi, cho phép học viên có thể hoàn thành chương trình đào tạo một cách thuận tiện ngoài giờ làm việc hay ở nhà, ngày nghỉ lễ…

3) Đào tạo từ xa và học trực tuyến: giúp cho người học rèn luyện và phát triển khả năng tự học. Trong suốt quá rình học trực tuyến, học viên phải tự xây dựng kế hoạch học tập, lựa chọn môn học, tài liệu cần thiết, tự thực hiện các yêu cầu của khóa học… nhờ thế mà khả năng tự học mỗi ngày một tốt hơn.


4) Đào tạo từ xa và học trực tuyến
làm tăng lượng thông tin một cách rõ rệt, kiến thức thu được rất đa dạng và phong phú. Nhờ tính tương tác và hợp tác cao, dễ tiếp cận và thuận tiện, đào tạo trực tuyến tạo một môi trường giao tiếp thuận lợi giữa học viên với giáo viên, giữa học viên với nhau… Khi mọi người được trao đổi với giáo viên và bạn bè trong lớp, họ có thể tiếp thu nhiều thông tin hơn từ các nguồn khác nhau. Mặt khác, kết quả đào tạo và học tập cũng được tự động hóa và được thông báo nhanh chóng, chính xác, khách quan.


5) Rút ngắn thời gian đào tạo
. Học viên tận dụng được mọi thời gian rảnh rỗi, giảm thiểu thời gian rời khỏi văn phòng hoặc gia đình. Cơ sở đào tạo cũng dễ dàng kiểm soát thời gian thực hiện khóa học.


6) Chi phí cho việc học tập được cụ thể, tường mình:
chi phí cho người học, chi phí cho tổ chức và quản lí đào tạo. Nội dung khóa học có thể sử dụng lại được với các học viên khác nhau. Cắt giảm được chi phí in ấn, xuất bản và phân phối tài liệu, lương của giáo viên, chi phí thuê phòng học, chi phí đi lại, ăn ở cho học viên. Tiết kiệm được một khoản tiền lớn do giảm được chi chí đi lại. Theo một số thống kê: thông thường một học viên phải trả cho một khóa học khoảng 12 triệu đồng, thì đối với một khóa học trực tuyến chi phí chỉ vào khoảng 600.000 – 6.000.000 VND, nghĩa là chỉ 1/2 – 1/10.


7) Đào tạo từ xa và học trực tuyến
là một mô hình dạy học có hiệu quả kinh tế cao:
Học trực tuyến giúp học viên và các công ty có học viên đi học không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn đáp ứng đúng với nhu cầu của mình. Tỉ lệ học viên hoàn thành khóa học cao hơn.
Với cơ sở đào tạo: dễ dàng tạo các khóa học từ các tài nguyên có trước, thu được lợi nhuận nhanh hơn từ các sản phẩm mới, khóa học được cập nhật và triển khai nhanh chóng, liên tục ở nhiều nơi…

8) Đào tạo từ xa tích hợp hệ thống soạn giáo trình trực tuyến
cũng góp phần đơn giản hóa và tiết kiệm thời gian thao tác quy trình, công đoạn sản xuất nội dung, công bố nội dung, quản lý tác quyền, quản lý phiên bản, chống độc quyền hay chống sao chép tài liệu giữa giảng viên, ban giáo vụ, Trung tâm đào tạo, Học Viện hay các Công ty tổ chức đào tạo… Học viên và Giảng viên dễ dàng trao đổi nội dung học thuật, các bài thực hành hoặc ôn thi trắc nghiệm hoặc các bài cần thực hành trực tuyến cần có giáo viên trợ giảng chữa bài trực tuyến…

 

II.Công cụ soạn nội dung và tác quyền

Đào tạo từ xa tích hợp hệ thống soạn giáo trình trực tuyến
cũng góp phần đơn giản hóa và tiết kiệm thời gian thao tác quy trình, công đoạn sản xuất nội dung, công bố nội dung, quản lý tác quyền, quản lý phiên bản, chống độc quyền hay chống sao chép tài liệu giữa giảng viên, ban giáo vụ, Trung tâm đào tạo, Học Viện hay các Công ty tổ chức đào tạo… Học viên và Giảng viên dễ dàng trao đổi nội dung học thuật, các bài thực hành hoặc ôn thi trắc nghiệm hoặc các bài cần thực hành trực tuyến cần có giáo viên trợ giảng chữa bài trực tuyến…


Sử dụng các công cụ biên tập và phát triển mới nhất, chúng tôi có kinh nghiệm chuyên môn để phát triển các bài học dựa trên kịch bản, các chương trình giảng dạy, trình diễn, mô phỏng tương tác và đánh giá được phân phát qua nhiều phương tiện.

Chúng tôi chú ý đến nhu cầu của khách hàng, mục tiêu học tập, yêu cầu kỹ thuật và môi trường kinh doanh để đảm bảo rằng sản phẩm của chúng tôi sẽ cung cấp trên tất cả các khía cạnh. Cho dù bạn đang trong giai đoạn lập kế hoạch của một dự án hoặc đã có một sản phẩm hiện có, chúng tôi có thể giúp đỡ. Dịch vụ của chúng tôi có thể bao gồm bất kỳ giai đoạn nào của quá trình phát triển từ định nghĩa dự án đến phát triển front-end.

Thiết kế và Phát triển Dịch vụ

MOOC là phương thức đang ngày càng khẳng định vai trò và nhu cầu đào tạo của mỗi tổ chức là hiện hữu. Do đó, chúng tôi đã sớm bắt đầu tham gia công nghệ này bằng cách hiểu rõ các mục tiêu kinh doanh và yêu cầu đào tạo của khách hàng của chúng tôi. Điều này cho phép chúng tôi thiết kế một giải pháp học tập được thiết kế đặc biệt cho các yêu cầu độc nhất của họ, phù hợp với mục tiêu kinh doanh của họ và đạt được mức độ toàn vẹn, giảng dạy chất lượng cao nhất. Năng lực cốt lõi của chúng tôi bao gồm:

  1. Làm việc với chuyên gia về vấn đề quan trọng (MEMS) để hiểu được các nhu cầu và mục đích thông suốt của họ.
  2. “Phân lớp nội dung” để nâng cao kiến thức, dễ nhớ, hiểu siêu và xuyên suốt (Tham chiếu thông tin)
  3. Soạn thảo và tổng hợp các câu chuyện bằng cách sử dụng Các học thuyết, phương pháp luận căn bản và nâng cao (ADDIE, SAM, v.v …)
  4. Kết hợp các Kịch bản nhằm thống nhất nội dung hoạt động và tầm nhìn sáng tạo thành một khóa học hấp dẫn và luôn có tương tác giữa giảng viên và học viên.
  5. Phát triển đa ngôn ngữ thông qua việc đồng bộ hóa chính xác văn bản, giáo trình, phụ đề và hình ảnh được dịch trên màn hình với kịch bản nội dung đào tạo.
  6. Xuất bản khóa học theo yêu cầu của khách hàng
  7. Hỗ trợ triển khai khóa học

Các dịch vụ tư vấn

Các dịch vụ tư vấn của chúng tôi có thể giúp đảm bảo rằng các sáng kiến đào tạo của tổ chức bạn phù hợp với mục tiêu kinh doanh và đạt được các kết quả như mong muốn:

  1. Phân tích các chương trình đào tạo hiện tại của bạn
  2. Phát triển hoặc tinh chỉnh chiến lược đào tạo của bạn
  3. Soạn thảo các yêu cầu đào tạo và / hoặc chương trình giảng dạy của bạn
  4. Xác định phương pháp đào tạo phù hợp cho mỗi khóa học / chủ đề
  5. Tạo các kịch bản tập huấn của bạn

Chuyển đổi và nâng cao chất lượng Khóa học

Các nhân viên chuyên nghiệp có kinh nghiệm của chúng tôi xây dựng các khóa học và có thể dễ dàng chuyển đổi các khóa học hiện tại của bạn sang một khóa học e-learning AICC hoặc SCORM. Chúng tôi cũng có thể nâng cao các tài liệu đào tạo hiện có cho việc phân phối trên máy tính, sử dụng các khả năng phát triển đa phương tiện của chúng tôi để tạo ra những kinh nghiệm học tập trực tuyến hấp dẫn như:

  • CBTs đa phương tiện chuyên sâu và không dễ dàng tích hợp đăng tải vào một nền tảng dựa trên web service / máy chủ web hoặc hệ thống LMS.
  • CBTs hoặc WBTs không phù hợp với các khóa học theo chuẩn AICC hoặc SCORM.
  • Đào tạo, hướng dẫn/huấn luyện các giảng viên chỉ cần một bài thuyết trình PowerPoint đã có thể dễ dàng triển khai khóa học trực tuyến một cách tự tin, dễ dàng truy cập và hiệu quả kinh tế.

Các khóa học sẽ có cái nhìn lạc quan, hướng tới các khoá học hiện đại, sáng tạo vì tương lại của người học.

III. Chúng tôi tổng kết sơ bộ về 4 dòng công cụ soạn nội dung giáo trình nổi bật được áp dụng trên hệ thống MOOC gồm:

1. Dòng công cụ soạn giáo trình cá nhân không trực tuyến:

Các phần mềm xây dựng nội dung trên web truyền thống đòi hỏi những kiến thức không hợp lý, chúng không trực quan và các ứng dụng trước đây không được thiết kế để xuất bản nội dung kiến thức. Do vậy các giáo viên và các học viện đã không chấp nhận các kỹ thuật này để xuất bản nội dung kiến thức trực tuyến như: . eXe, QuickExam nhắm đến việc cung cấp một công cụ trực quan, dể sử dụng cho phép các giáo viên xuất bản các trang web chuyên nghiệp để dạy học.
đây được gọi là công cụ authoring offline mà không cần thiết phải kết nối mạng.

2. Dòng công cụ soạn bài thuyết trình qua các công cụ Office dễ dùng và trực quan:

Các phần mềm xây dựng nội dung dạng này thường là các bộ phần mềm có bản quyền hoặc Open source như: Microsoft Office PowerPoint, Libre Office, OpenOfficeCourseLabs, LDMC … Khi được tích hợp với các Plugin của hãng thứ ba cài thêm vào như iSpring, Learning SuiteCase… bạn có thể trở thành người sưu tầm Sliders các bài thuyết trình  được chiếu trên Web HTML, XHTML, Adobe Flash, SCORM, Smartphone…

3. Dòng công cụ chuyên convert hoặc soạn nội dung nhúng Media:

Các phần mềm xây dựng nội dung dạng này thường là các bộ phần mềm có bản quyền hoặc Open source như: Movie Marker, Adobe Premium, iSpring Pro … Khi được tích hợp với các Plugin của hãng thứ ba cài thêm… bạn có thể trở thành người sưu biên tập hình ảnh, lồng tiếng, cắt/ghép hình ảnh, dịch, lồng phụ đề và mọi nội dung đều phù hợp với Web HTML, XHTML, Adobe Flash, SCORM, Smartphone…

4. Dòng công cụ soạn nội dung trực tuyến:

Các nội dung dạng này thường là các Web platform có bản quyền hoặc Open source như:  Coursera, Udebo, Pluralsight … bạn có thể trở thành Giảng viên soạn giáo trình trực tuyến và làm chủ “owner BOX content” với đầy đủ quyền tác giả như: chống sao chép, chống “đạo văn” với những quyền như: cá nhân, duy nhất truy cập bài của chính bạn, truy cập nội dung cần có mã khóa, công khai … phù hợp với chuẩn Web HTML, XHTML, Adobe Flash, SCORM, Smartphone…

Hy vọng hệ thống MOOC đã có phần nào thông tin giúp ích cho các nhà quản lý, Phát triển đào tạo quốc tế !

Khái quát về Tạo Tài liệu Thiết kế Giảng dạy – Blueprint là gì ?


Để xây dựng bất cứ điều gì, chúng ta cần một “kế hoạch chi tiết – Blueprint” – một tài liệu hoạt động như một khuôn khổ cho dự án; cùng áp dụng với eLearning. Trước khi chúng ta bắt đầu phát triển một khóa học eLearning, chúng ta cần tạo một kế hoạch chi tiết và được gọi là “Tài liệu Thiết kế Giảng dạy – Instructional Design Document”.

Hình ảnh. High performance virtual desktop for 3D graphics application demo powered by iVIM and VMware Horizon (on 3G connection!)

https://www.youtube.com/watch?v=U94xJ8x-AmY&list=PLzKEVC4cA55YT2iwdXrkIyevKQRDEFWCb&index=30

 

Làm thế nào để Tạo Một Tài liệu Thiết kế Giảng dạy

Khóa học eLearning được phát triển thông qua nỗ lực kết hợp của Nhà thiết kế Giảng dạy, các nhà thiết kế học tập, các nhà phát triển đa phương tiện, các chuyên gia về công nghệ, Chuyên gia Môn học, và các nhà quản lý dự án. Khi bạn có nhiều bên liên quan tham gia, làm thế nào để bạn đảm bảo rằng dự án luôn hoạt động và không mất tập trung? Tài liệu duy nhất liên kết tất cả những người liên quan để làm việc hướng tới một mục tiêu chung? Tài liệu đó được gọi là Tài liệu Thiết kế Giảng dạy (IDD).

Tài liệu Thiết kế Giảng dạy hoạt động như một điểm tham chiếu duy nhất hướng dẫn nhiều bên liên quan khi họ thực hiện các nhiệm vụ cá nhân của mình liên quan đến việc phát triển một khóa học eLearning.

 

Tài liệu Thiết kế Giảng dạy cần làm những gì?

Tài liệu Thiết kế Giảng dạy cung cấp một khuôn khổ hướng dẫn tất cả các cá nhân chủ chốt tham gia vào quá trình phát triển eLearning.

Một Tài liệu Thiết kế Giảng dạy trả lời các câu hỏi như:

1. Mục đích của khóa học là gì?

  • Thực chất hiện nay hệ thống ELearning đã đi tới một cấp độ mới về khả năng mở rộng nội dung của khoá học, trên thế giới khái niệm mới ra đời viết tắt : MOOC.

  • Các mô hình MOOC được mở rộng và có các tiêu chuẩn về ứng dụng, tính năng, chức năng làm mới từ ELearning truyền thống như:

2. Người học dự kiến sẽ biết / làm gì vào cuối khoá học?

– Kho đề ôn tập ở đâu?

– Thi chứng chỉ như thế nào?

– Hướng dẫn ôn và thi có sát với chuẩn nội dung và thực hành?

– Chứng chỉ cấp phát và lưu trữ để tìm và chứng thực như thế nào?

 

3. Đối tượng là ai?

4. Khóa học sẽ được tiếp cận như thế nào?

 

5. Chiến lược giảng dạy sẽ là gì?

6. Các yếu tố tương tác được sử dụng là gì?

– Phải nói đến yêu cầu về nội dung tương tác, hợp chuẩn và linh hoạt phù hợp với những thiết bị tiện dụng cho người học

– Các công nghệ, công cụ thuận tiện và tích hợp chặt chẽ vào trong lớp học, chương trình đào tạo và là công cụ đắc lực cho giảng viên tương tác với học viên

7. Làm thế nào để người học được đánh giá?

Ngoài ra, nó cũng chỉ rõ cấu trúc khóa học tổng thể và phác thảo chi tiết cho các mô đun riêng lẻ.

Tóm lại, nó cung cấp một bộ quy tắc và hướng dẫn mà Nhà Thiết kế Giảng dạy và các nhà phát triển khoá học phải tuân theo khi họ xây dựng khóa học.

 

Tại sao tài liệu Thiết kế Giảng dạy lại quan trọng?

Quá trình phát triển điện tử học bao gồm nhiều người tham gia:

  • Chủ dự án,
  • Quản lý dự án,
  • Giảng viên,
  • Chuyên gia thuộc các chủ đề liên quan,
  • Các chuyên gia về thiết kế khoá học,
  • Các chuyên gia về công cụ biên tập, các chuyên gia công nghệ hình ảnh, dịch giả hoặc tác giả, người kể chuyện âm thanh/ hình ảnh/ bản vẽ/ mindmap / Game scarf và nhiều công cụ khác.

     

  1. Làm thế nào để bạn đảm bảo những nỗ lực của tất cả mọi người liên quan được định hướng theo cùng một hướng và mục đích?
  2. Làm thế nào để họ có sự hiểu biết như nhau về các mục tiêu khóa học và cách thức các khóa học là phải hình thành?
  3. Tài liệu Thiết kế Giảng dạy ghi lại được sự đồng thuận về cách tiếp cận giảng dạy toàn cầu sẽ được thông qua giữa các đối tượng chính của dự án.

Nó mô tả cấu trúc, điều hướng hoặc thiết kế của khóa học, các thành phần âm thanh và hình ảnh được sử dụng, v.v … Đây là một minh chứng chứng minh rằng tất cả các bên liên quan chủ chốt trong dự án đều đồng ý với tầm nhìn và mục tiêu của khóa học eLearning.

Nó đảm bảo rằng khóa học eLearning luôn được tiến hành và đạt được mục đích mà nó được thiết kế.

 

Một Đề cương cho Tài liệu Thiết kế Giảng dạy

Vì vậy, chúng ta có thể tạo một Tài liệu Thiết kế Giảng dạy sử dụng MS Word, MS PowerPoint, MS Project, MS Excel, PDF Adobe hoặc bất kỳ công cụ nào khác phù hợp cho nhóm.

Chìa khóa để chuẩn bị và nhận được sự kiểm soát của tất cả các bên liên quan chính của dự án và nhận được sự thúc đẩy của cả nhóm.

Dưới đây là một phác thảo mẫu bao gồm các thông tin chính cần thiết để chuẩn bị một Tài liệu Thiết kế Giảng dạy. Chúng ta có thể sử dụng bất kỳ mẫu hoặc định dạng nào phù hợp nhất với yêu cầu.

 

1. Bối cảnh dự án.

Cung cấp một nền tảng ngắn cho khóa học và mục tiêu cuối cùng của nó:

– Mục đích của khóa học.
–   Kết thúc mục tiêu.

2. Yêu cầu của dự án.

Bao gồm các thông số kỹ thuật được cung cấp bởi chủ dự án hoặc các bên liên quan chính:

–    Giá cả.
–    Dòng thời gian.
–    Tiêu chuẩn.

3. Yêu cầu học tập.

Thông tin về đối tượng:

–    Hồ sơ thông tin các đối tượng học.
–    Môi trường học tập (nơi họ sẽ truy cập vào khóa học – văn phòng, nhà, nơi công cộng).

4. Mục tiêu của khoá học.

–    Mục tiêu học tập.
–    Mục tiêu hoạt động.

5. Chiến lược dạy học.

–    Mẫu trình bày.
–    Chiến lược truyền thông.

(sử dụng âm thanh, hình ảnh, và các yếu tố đa phương tiện khác, như camera ghi hình hoặc Live Streaming, Máy chiếu..).

6. Chiến lược đánh giá.

Xác định mục đích, tần số và chiến lược ghi điểm:

–    Đánh giá quá trình.
–    Đánh giá tổng thể.

7. Định dạng khóa học hoặc cấu trúc.

Nội dung Nội dung chính:

–   Số lượng mô-đun.
–   Số lượng slide trong mỗi module.
–   Chiến lược nội dung ở mỗi trình độ.

8. Công cụ phát triển.

–    Các công cụ cho phép sử dụng.
–    Các công cụ khác.

9. Bảng chấm dứt dự án.

– Lấy ý kiến về sự đồng thuận từ tất cả các người tham gia chính.

–    Các mẫu điện tử khảo sát trước, trong và sau khi diễn ra khoá đào tạo.

–    Các báo cáo, bản giấy in để gửi kết quả cho Giáo vụ, Quản lý nhân sự, người lãnh đạo dự án phía chủ đầu tư, quản lý dự án phía Doanh nghiệp.

– Đánh giá nhu cầu đào tạo ELearning sau các khoá học dự án, hàng tuần/tháng/quý/năm

Ví dụ về xác định nhu cầu sử dụng MOOC 2015

 

Suy nghĩ cuối cùng

Định dạng và cấu trúc của tài liệu thiết kế có thể khác nhau, dựa trên cách nó hoạt động trong tổ chức của bạn.

Tuy nhiên, cơ bản, các phác thảo trên sẽ giúp bạn đảm bảo tất cả các thông tin quan trọng được nắm bắt trước khi thực hiện sự phát triển của khóa học.

Bạn có thể tùy chỉnh phác thảo này dựa trên nhu cầu cụ thể của bạn. Thời gian đầu tư để chuẩn bị Tài liệu Thiết kế Giảng dạy đảm bảo rằng có sự rõ ràng về tầm nhìn tổng thể của khóa học và cung cấp hướng dẫn cụ thể về hướng các bên liên quan cá nhân như:

– Nhà Thiết kế Giảng dạy,

– Các nhà phát triển đa phương tiện.

– Các chuyên gia công nghệ phải đảm nhận vai trò cá nhân và trách nhiệm.

Nó đảm bảo rằng tất cả các yếu tố của một khóa học eLearning như các mô-đun học tập, tương tác, và đánh giá bổ sung cho nhau và làm việc theo cùng mục tiêu học tập.

Việc chuẩn bị Tài liệu Thiết kế Giảng dạy chỉ là một bước trong quá trình Thiết kế Giảng dạy của việc phát triển khoá học eLearning.

 

Nếu bạn muốn biết thêm về các bước khác liên quan như là một phần của quá trình Thiết kế Giảng dạy,

Hãy truy cập trang http://robusta.vn

Hệ thống đào tạo E-learning của chúng tôi sẽ có khoá đào tạo cho các Giảng viên Điện tử chuyên nghiệp – là phương pháp tốt nhất để Hướng dẫn tiện dụng dành cho Nhà Thiết kế ĐTDĐ.

 

Chúc các bạn thành công trong sự nghiệp giáo dục toàn cầu!

Tại sao VMware snapshots alone không phải là Sao lưu backup – sự khác nhau giữa VM Snapshots và Veeam Backup Snapshots Base?


Do có quá nhiều bạn thắc mắc, hiểu nhầm lẫn về VM Snapshots, nên Tôi muốn làm rõ ràng hơn bức tranh về VM Snapshots và các hình thức sao lưu của VM, nó có thể làm cho các bạn hiểu điều quan trọng khi dữ liệu của bạn bị đe dọa, muốn rollback, undo lại các dữ liệu cũ, khi dữ liệu hiện tại đang bị sự cố.

Để xua tan bất kỳ nghi ngờ nào, khẳng định lại VM Snapshots KHÔNG phải là bản sao lưu. Đó là hai quá trình khác nhau được thiết kế để đáp ứng các nhu cầu khác nhau. Bây giờ, tôi sẽ giải thích sự khác nhau giữa các bức ảnh chụp nhanh của VM “VM Snapshots” và các bản sao lưu “VM Backup” và cung cấp cho bạn một vài kịch bản mà một trong số chúng sẽ phù hợp nhất.

Mặc dù đúng là nhiều sản phẩm như Veeam Backup sẽ sử dụng Snapshots như một phần của tiến trình bản sao lưu – Snapshots vẫn không phải là bản sao lưu backup. Logic này đang áp dụng cho VMware VM Snapshots, Hyper-V checkpoints và và Storage Snapshots.

Snapshots làm việc như thế nào?

Tóm lại, một ảnh được chụp nhanh của máy ảo “VM SnapShots” là quá trình lưu trạng thái dữ liệu của máy ảo với khả năng khôi phục về đúng dữ liệu thời điểm đó “hoàn nguyên”. Máy ảo có thể được tắt, bật, tạm dừng hoặc bị treo khi Snapshots. (các Snapshots được tổ chức theo cấp phân cây: bậc cha, mẹ và con…)

Thông thường, VM snapshots được sử dụng để kiểm tra bản cập nhật phần mềm hoặc hoạt động không an toàn trên máy ảo và sau đó quay lại trạng thái ban đầu nếu cần thiết – hãy nghĩ về nó như một cách đánh dấu trang “bookmark” hoặc nút hoàn tác “undo/redo”. VM Snapshots không phải là bản sao đầy đủ của đĩa dữ liệu cơ sở “Base Disk gồm: OS, Bootable record, Drivers…” do đó chúng không đủ dữ liệu để khôi phục lại máy ảo trong trường hợp lưu trữ hỏng.

 

VMware Snapshots làm việc như thế nào?

Trong máy ảo VMware, đĩa ảo “virtual disk /Logic disk” là một tệp tin .vmdk nằm trên một kho dữ liệu (Data storage: LUN). Khi ảnh chụp nhanh được tạo ra trong Trình quản lý Ảnh chụp, đĩa gốc sẽ trở thành chỉ đọc, và tất cả các thay đổi dữ liệu mới được ghi vào đĩa tạm thời .vmdk delta, các thông tin về OS, bootable vẫn trỏ đến bản gốc. Đĩa delta này có sự khác biệt giữa trạng thái dữ liệu tại thời điểm khi chụp nhanh VM Snapshots và trạng thái hiện tại của đĩa ảo Virtual disk.

Quá trình chụp ảnh VMware Snapshots cũng bao gồm việc tạo ra hai tệp bổ sung: Snapshots và tệp thông tin siêu dữ liệu “Metadata” (.vmsd) và tệp thông tin trạng thái đang chạy (.vmsn). Sau khi ảnh chụp nhanh Snapshots bị xóa đi (đã cam kết), tất cả thay đổi được hợp nhất “consolidate” về tệp vmdk .và ban đầu nó sẽ trở lại chế độ đọc-ghi.

Hình 1. Snapshots trong VMware vSphere Client

Để đảm bảo sử dụng các ảnh snapshots hợp lý trong các môi trường ảo hóa vSphere, VMware cung cấp một số phương pháp hay nhất:

1. Sử dụng tối đa 32 lần liên tiếp bản ảnh chụp nhanh Snapshots trong một chuỗi, nhưng để có hiệu suất tốt hơn, chỉ sử dụng hai đến ba ảnh chụp nhanh liên tiếp, do mỗi một lần để lại kế tiếp bản snapshots thì việc truy xuất từ dữ liệu ở Virtual disk mới với các dữ liệu delta và dữ liệu gốc sẽ làm độ chễ truy xuất tang lên từ 1 – 15% “Letancy và timeout”.

  1. Không nên để lại ảnh chụp nhanh “bản VM snapshots” lâu hơn 24 – 72 giờ. Nó sẽ tăng kích thước, và bộ nhớ của bạn có thể chạy vượt ra khỏi không gian trống của Data Storage.
  2. Không sử dụng ảnh chụp nhanh “VM Snapshots” làm bản sao lưu. Vì nếu đĩa ảo gốc “Virtual disk ban đầu” tức là file *.vmdk bị xoá, bạn sẽ không thể khôi phục lại máy ảo từ VM Snapshots.

 

Hyper-V checkpoints:

Có một số điểm khác biệt đôi chút về Hyper-V snapshots (đổi tên thành Hyper-V checkpoints – bắt đầu từ phiên bản Windows Server 2012 R2). Khi một Hyper-V checkpoints được tạo ra trong Hyper-V Manager, máy ảo đang chạy đã bị tạm dừng và một đĩa ảo differencing .avhd (x) được tạo ra trong cùng thư mục với đĩa ảo gốc cha mẹ (.vhd / .vhdx) để lưu trữ các thay đổi , cùng với tệp sao chép tệp cấu hình .xml. Đĩa ảo gốc được thiết lập là chỉ đọc và, nếu máy ảo đang chạy, sẽ có thêm hai tệp liên quan – VM lưu trữ (.bin) và thông tin về bộ nhớ (.vsv), sau đó VM sẽ được tiếp tục khôi phục lại trạng thái chạy trước đó.

Hình 2. Các điểm kiểm tra “Hyper-v Checkpoint” trong Quản lý Snapshots “Hyper-V Manager”

Các khuyến nghị của Microsoft dành cho chế độ snapshots VM bằng Hyper-V checkpoint bao gồm:

  1. Không sử dụng ảnh chụp nhanh VM snapshots trên máy ảo lưu trữ có các dịch vụ nhạy cảm với thời gian thay đổi dữ liệu mật độ cao, chẳng hạn như:
    1. Microsoft Exchange Server hoặc
    2. Active Directory Domain Services.
  2. Không mở rộng lưu trữ ảo hiện tại của máy ảo khi đang có ảnh chụp nhanh VM Snapshots hay Hyper-V Checkpoint” trên đó, vì chúng sẽ bị xâm nhập hoặc làm lỗi cấu trúc định dạng dữ liệu gốc.
  3. Bạn nên sử dụng trình quản lý Hyper-V Manager để xóa các tệp .avhd (x) khỏi cây phân cấp Snapshots, đừng xóa chúng theo cách thủ công có thể gây lỗi hệ thống VM.

 

Điều gì lạ với Storage Snapshots?

Ảnh chụp nhanh lưu trữ “Storage Snapshots” là một phương án tuyệt vời để tận dụng như một phần của công việc sao lưu. Veeam Backup & Replication hỗ trợ nhiều mảng lưu trữ “Storage arrays” cho cả Sao lưu từ Storage Snapshots và Veeam Explorer cho Storage Snapshots. Có một vài điểm đề cập đến ở đây:

  1. Ngay cả với một mảng hỗ trợ để tận dụng Veeam Explorer cho Storage Snapshots, bạn vẫn cần phải sao lưu để chuyển đến phân vùng lưu trữ khác nhau (làm từng VM). Veeam Explorer for Storage Snapshots là một kỹ thuật phục hồi chỉ từ mảng nguồn mà đã được chụp theo kiểu VM snapshots.
  2. Sao lưu theo kiểu Ảnh chụp lưu trữ “Storage Snapshots” lại là một cách tuyệt vời hơn để sao lưu bằng sức mạnh của mảng lưu trữ và để di chuyển dữ liệu đến phân vùng lưu trữ khác nhau (làm cả cụm mảng storage).

Một trong những nhà truyền giáo của Veeam, Rick Vanover, thích nói rằng: “Chúng tôi không có gì ngoài những bằng chứng dưới hình thức những câu chuyện thành công của khách hàng mà các mảng tốt thực sự lại từ cái họ không thành công – do đó hãy lấy bản sao lưu của bạn vào các kho lưu trữ khác nhau và theo Quy tắc 3-2-1-0 . ”

 

Khi nào ta nên sử dụng ảnh chụp nhanh Snapshots?

Ảnh chụp nhanh “Snapshots” là giải pháp ngắn hạn được sử dụng chủ yếu trong môi trường thử nghiệm và phát triển để vá lỗi, tái khôi phục dữ liệu, cập nhật hoặc để kiểm tra mọi thứ nhanh chóng và quay lại dữ liệu của VM trong trường hợp thất bại. Chúng ít được đề nghị trong sản xuất, vận hành hệ thống chính thức. Tuy nhiên, có một số tình huống mà các bức ảnh chụp nhanh “snapshots” thực sự có ích cho môi trường sản xuất.

Ví dụ: nếu bạn thực hiện hành động rủi ro, chẳng hạn như cập nhật hệ điều hành hoặc thay đổi cấu hình ứng dụng, dịch vụ có thể gây hại cho hệ thống của bạn, thì ảnh chụp nhanh là một ý tưởng hay phù hợp.

Tại sao snapshots không phải là công cụ được đề nghị cho các môi trường sản xuất, vận hành chính thức? Chủ yếu vì lý do tính toàn vẹn dữ liệu. Với ảnh chụp nhanh “snapshots”, bạn không phải sao chép đĩa cứng ảo. Có đĩa ảo VM và đĩa delta, có nghĩa là nếu số lượng đĩa VM gốc bị hỏng, thì ảnh chụp nhanh “snapshots” của bạn cũng bị lỗi theo vì chúng không thể được hợp nhất trên đĩa cơ sở “disk base” khi đĩa gốc hỏng. Ảnh chụp nhanh “snapshots” không hề bảo vệ bạn khỏi sự cố của đĩa gốc, và bạn vẫn sẽ có một điểm thất bại duy nhất nằm ở đĩa gốc dữ liệu.

Một lý do khác là việc snapshots thực hiện dựa trên việc Snapshots có thể ảnh hưởng đến hiệu năng của máy ảo. Điều này không xảy ra thường xuyên – điều này chỉ xảy ra trong một số trường hợp cụ thể, nhưng nó có thể xảy ra. Chẳng hạn, chạy các máy ảo có tốc độ tải cao khi có bản snapshots mà thời gian tồn tại của bản snapshots để lâu (và do đó tăng kích thước nhanh) chắc chắn sẽ làm trầm trọng, suy giảm thêm hiệu năng của những máy ảo đó, đặc biệt là khi sử dụng đĩa động “Dynamic disk”.

Đó là một sai lầm phổ biến để giữ một máy ảo chạy trên một ảnh chụp VM Snapshots trong một thời gian dài – ảnh chụp nhanh Snapshots sẽ tăng kích thước vì nó sẽ hấp thụ/lưu trữ tất cả thay đổi dữ liệu, thay vì đĩa nguồn/gốc (lúc này chuyển thành trạng thái chỉ đọc). Do đó, cam kết sẽ mất nhiều thời gian hơn và nó thậm chí có thể làm lỗi, timeout việc truy xuất VM trong quá trình hợp nhất (consolidate).

 

Veeam Backup không sử dụng ảnh chụp nhanh Snapshot?

Hãy quan sát thật kỹ nhé! Veeam Backup & Replication thực sự có sử dụng ảnh chụp nhanh “VM snapshots” như là một phần của công việc sao lưu “là đoạn tiến trình khoảng 7% đầu tiên của việc sao lưu” . Nó có thể sử dụng ảnh chụp VM Snapshots của VMware, Microsoft tra Hyper-V Checkpoint hoặc ảnh chụp nhanh lưu trữ Storage Snapshots.

Điều quan trọng cần lưu ý là ảnh chụp nhanh “Snapshots” bản thân nó không phải là bản sao lưu – nhưng nó có thể được sử dụng như là một phần quan trọng của quá trình sao lưu. Điều này là do snapshot được sử dụng như là một phần của quá trình chuyển dữ liệu đến một tệp sao lưu hoặc một các để nhân bản máy ảo. Ảnh chụp nhanh sẽ bị xóa khi tác vụ sao lưu hoàn tất.

 

Các cách Sao lưu khác với kiểu ảnh chụp nhanh Snapshots?

Bản sao lưu “VM Backup” là một bản sao VM nhất quán cho phép bạn khôi phục lại nó trong trường hợp tệp vmdk/vhd gốc bị tổn hại do thiên tai, khách quan, chủ quan hoặc lỗi của con người. Không giống ảnh chụp nhanh VM Snapshots, bản sao lưu (tệp vbk) độc lập với máy ảo, và chúng có thể dễ dàng được xuất và lưu trữ ngoài cơ sở lưu trữ hiện tại của Doanh nghiệp (như: trong đám mây, trên băng tape drivers hoặc các hệ thống lưu trữ từ xa khác – DRSite storage). Xin hãy tìm đọc về Quy tắc kim Cương 3-2-1-0 và quy tắc vàng 3-2-1.

Veeam Backup & Replication thúc đẩy công nghệ VSS (Volume Shadow Copy Service) và xử lý ứng dụng-nhận dạng kiểu image để tạo sao lưu máy ảo ở cấp độ image-level. Các bản sao lưu VM cấp độ image cho phép bạn bảo vệ toàn bộ khối lượng công việc – đĩa ảo, hệ điều hành, ứng dụng phần mềm và tệp cấu hình hệ thống. Tất cả đều được lưu trữ trong một tệp sao lưu VM cấp độ image duy nhất cung cấp nhiều tùy chọn khôi phục cho các ứng dụng quan trọng về kinh doanh của bạn

  1. Khôi phục từ cấp máy chủ hoàn chỉnh.
  2. Khôi phục cho cụm/nhóm máy chủ ảo.
  3. Khôi phục đến cấp Datacenter/cloud.
  4. Khôi phục ứng dụng/dịch vụ.

Hơn thế nữa, Veeam Backup & Replication được thiết kế với nhiều công nghệ để tối ưu hóa lưu lượng truy cập và giảm kích thước tệp sao lưu bằng kỹ thuật Nén/mã hoá, chống trùng lặp, nén và tăng tốc WAN và cho phép bạn kiểm tra khả năng khôi phục sao lưu bằng SureBackup.

Ngoài ra, Veeam cung cấp cho bạn một cách khác để nhanh chóng kiểm tra và khắc phục sự cố VM của bạn, Virtual Labs để thí nghiệm hệ thống các bản đã backup máy ảo. Tại đây bạn có thể tạo ra một môi trường ảo riêng biệt không ảnh hưởng đến môi trường máy chủ sản xuất/vận hành của bạn và thực hiện các hoạt động khác nhau, như kiểm tra cập nhật phần mềm hoặc chạy cho chương trình đào tạo.

 

Điều gì sẽ xảy ra nếu môi trường của ta không thể áp dụng kiểu ảnh chụp nhanh VM Snapshots?

Rất nhiều các hạ tầng kỹ thuật ngày này sẽ không thể áp dụng kỹ thuật VM Snapshot, đơn giản vì chúng là các:

  1. Máy tính vật lý – Physical Machine.
  2. Các hệ thống siêu máy tính vật lý – HPC.
  3. Các thiết bị đòi hỏi lưu trữ tốc độ cao và có sử dụng GPU như Camera IP có phân tích nhận dạng hình ảnh bằng GPU.
  4. Các máy chủ vật lý hoặc Ảo hoá chạy trên môi trường cấu hình Cluster Failover/Cluster HA
  5. Các hình thức lưu trữ dạng đọc ghi Quorum disk, Cluster Node Hard disk.
  6. Raw device mapping – RDM (cả ở dạng ảo hoá – vRDM hay vật lý – pRDM).
  7. Oracle RAC.
  8. MS SQL Cluster Node.
  9. Exchange DAG cluster Mailbox.

Veeam backup đã trình bày sản phẩm công cụ mới:

Một cách để thực hiện quá trình sao lưu là sử dụng Veeam Agent cho Microsoft Windows hoặc Veeam Agent cho Linux. Các sản phẩm sao lưu mới của Veeam không sử dụng bất kỳ ảnh chụp nhanh “Snapshot” đối với cơ sở hạ tầng ở bên dưới hệ điều hành (nghĩa là đã không dùng snapshot để sao lưu HĐH, Firmware hoặc trình điều khiển driver các thiết bị có trong máy vật lý). Thay vào đó:

  1. Đối với Windows, VSS framework đã được sử dụng để tạo một bản sao lưu dựa trên hình ảnh “image base”,
  2. và đối với Linux, veeamsnap được sử dụng để có một hình ảnh “image system” của tập tin hệ thống.

Bật mí:

Ngoài ra, trong Veeam Backup & Replication v10, khả năng Veeam CDP sẽ cung cấp một công cụ nhân bản cho các máy ảo VMware mà không sử dụng ảnh chụp nhanh của VMware (không dùng VM Snapshots). Đây là cách thúc đẩy các API vSphere cho I/O Filtering hoặc VAIO làm việc trong đường dẫn lưu trữ của máy ảo.

 

Video Labs demo: https://youtu.be/ovMIum7hyo0

 

Tóm lại “Bottom line”:

Ảnh chụp nhanh trên máy ảo – VM Snapshots không thể được sử dụng như một phương cách đáng tin cậy để bảo vệ dữ liệu của bạn và khôi phục lại dữ liệu trong trường hợp không thành công, nhưng chúng rất tiện dụng cho việc kiểm tra nhanh và khắc phục sự cố. Ngoài ra, một ảnh chụp nhanh VM Snapshots có thể được sử dụng nếu nó là một phần của một chuỗi sự kiện toàn diện để thực hiện công việc sao lưu hoặc sao chép. Hãy nhớ rằng, bài viết trên đây chỉ giúp bạn hiểu snapshot có quy tắc và cách quản lý VM là công cụ để tránh bất kỳ vấn đề lưu trữ và hiệu suất.

Mặt khác, các bản sao lưu VM ở cấp độ Image-based lại là kỹ thuật cung cấp mức độ cao về các ứng dụng và bảo vệ dữ liệu, cho phép RPO thấp và hỗ trợ hầu như bất kỳ kịch bản phục hồi nào từ VM đầy đủ cho đến khôi phục ứng dụng.

Chúc các bạn hiểu thấu đáo vấn đề quan trọng khi dùng Backup Snapshots-base!

Quý vị quan tâm các chương trình đào tạo tại Robusta vui lòng liên hệ: Bộ phận Tư vấn qua

Email:
learn@robusta.vn

Hotline:
(+84) 939 586 168

%d bloggers like this: