Chính sách nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin phát triển chính phủ điện tử tại Việt Nam


Quá trình hình thành và xây dựng cơ sở pháp lý, chính sách nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin phát triển chính phủ điện tử tại Việt Nam.

Giai đoạn 1- Những năm 90: Thiết lập nền tảng về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước

Hộp 1. Danh mục văn bản quy phạm pháp luật về CNTT và ứng dụng CNTT trong những năm 90 của thế kỷ 20

Nghị quyết số 173-CP năm 1975 của Chính phủ về tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong quản lý nhà nước.

Nghị quyết số 245-CP năm 1976 của Chính phủ về tăng cường quản lý và sử dụng máy tính điện tử trong cả nước.

Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 30/3/1991 của Bộ Chính trị về “Khoa học công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”.

Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 của Chính phủ về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90.

Quyết định số 212/TTg ngày 6/5/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Chương trình quốc gia về CNTT.

Quyết định số 211/TTg ngày 7/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình quốc gia về CNTT- Kế hoạch tổng thể đến năm 2000.

Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương vận dụng công nghệ – thông tin trong một số lĩnh vực. Sau khi thống nhất đất nước, Hội đồng Chính phủ đã hai lần ra các Nghị quyết (số 173-CP/1975 và số 245-CP/1976) về tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong quản lý kinh tế, tăng cường quản lý và sử dụng máy tính điện tử trong cả nước. Sau Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, việc thực hiện chính sách đổi mới kinh tế – xã hội đòi hỏi trong các hoạt động kinh tế xã hội phải có thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời. Việc nhập khẩu tương đối dễ dàng máy vi tính vào nước ta đã tạo điều kiện cho nhiều cơ sở được trang bị các phương tiện CNTT hiện đại. Song sự phát triển đó chủ yếu còn là tự phát, cơ sở kỹ thuật chỉ mới là các máy vi tính làm việc riêng lẻ hoặc trong các mạng cục bộ, hiệu quả sử dụng máy tính trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội còn thấp.

Bước sang thời kỳ đổi mới, chủ trương ấy đã liên tục được nhấn mạnh và cụ thể hoá. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991 của Bộ Chính trị về Khoa học và Công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: “Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học,…”.

Tại thời điểm đó, nước ta cơ bản vẫn là một nước lạc hậu về thông tin vì chưa thiết lập được hệ thống thông tin tin cậy và chưa đáp ứng kịp thời cho quản lý và điều hành của bộ máy Nhà nước từ trung ương tới địa phương và thiếu thông tin từ trong nước cũng như từ nước ngoài cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của xã hội. Mạng lưới bưu chính viễn thông nước ta, ngoài các khả năng truyền điện thoại, điện báo, fax, đã có khả năng truyền số liệu để từ đó có thể tổ chức các mạng thông tin máy tính. Tuy vậy, các mạng nội hạt còn cần được cải thiện nhanh cả về chất lượng lẫn dung lượng để có thể xây dựng mạng truyền số liệu quốc gia và nối ghép với các mạng quốc tế. Hơn nữa, số cán bộ chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực CNTT còn ít, chưa được phân công và phối hợp theo một mục tiêu thống nhất để tạo sức mạnh tổng hợp. Lực lượng cán bộ trẻ chưa được hỗ trợ và khuyến khích một cách tương xứng để phát huy hết năng lực lao động và sáng tạo. Các trường đại học mới chỉ đào tạo được một số ít sinh viên trong các lĩnh vực có liên quan đến CNTT. Trang thiết bị và thông tin phục vụ cho công tác đào tạo còn thiếu thốn. Do nhu cầu dùng máy tính phát triển, việc phổ cập tin học ở một số thành phố lớn đã được tiến hành khá tích cực trong những năm gần đây. Lúc đó, chúng ta mới chỉ có một số ít cơ sở nghiên cứu và triển khai liên quan đến CNTT nhưng do điều kiện vật chất và thông tin của các cơ sở này còn yếu nên chưa có khả năng nghiên cứu sâu theo phương hướng của CNTT hiện đại. Mấy năm gần đây một số tập thể nghiên cứu đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ trong việc phát triển một số phần mềm ứng dụng và phần mềm công cụ.

Ngành công nghiệp CNTT là ngành công nghiệp tạo ra các sản phẩm phần cứng và phần mềm của máy tính, các dịch vụ máy tính, các thiết bị viễn thông và các dịch vụ viễn thông. Mặc dù chúng ta đã xác định ưu tiên cho phát triển công nghệ điện tử, tin học, viễn thông và tự động hoá, nhưng chưa đủ sức để hình thành một ngành công nghiệp CNTT. Sau đó, công cuộc đổi mới kinh tế đang được tiến hành mạnh mẽ đặt ra nhu cầu cấp bách cho việc áp dụng CNTT và tạo điều kiện cho việc phát triển CNTT. Nhờ có sự thay đổi nhanh chóng công nghệ trong lĩnh vực này trên thế giới giúp chúng ta có điều kiện tiếp thu và áp dụng ngay những thành tựu mới của công nghệ này; chúng ta lại có tiềm năng nhân lực to lớn là người Việt Nam đang sống ở trong nước cũng như ở nước ngoài có khả năng hoạt động tích cực và sáng tạo trong lĩnh vực CNTT. Tình hình trên đây đòi hỏi nước ta phải nhanh chóng phát triển CNTT trong mọi lĩnh vực hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đẩy mạnh hơn nữa tiến trình đổi mới toàn diện đất nước.

Để thể chế hoá về mặt nhà nước, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 về “Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90”. Đây là lần đầu tiên khái niệm “công nghệ thông tin” được định nghĩa và sử dụng một cách chính thức trong một văn bản của Nhà nước. Nghị quyết nêu rõ: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế – xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ Điện tử – Tin học – Viễn thông và tự động hoá”.

Nghị quyết này khái quát tình hình CNTT của nước ta, khẳng định quan điểm, mục tiêu phát triển CNTT ở nước ta đến năm 2000 là xây dựng những nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cấu hạ tầng về thông tin trong xã hội có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản về thông tin trong quản lý Nhà nước và trong các hoạt động kinh tế – xã hội, đồng thời tích cực xây dựng ngành công nghiệp CNTT thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, góp phần chuẩn bị cho nước ta có vị trí xứng đáng trong khu vực khi bước vào thế kỷ 21. Theo đó Chính phủ đã đề ra nội dung phát triển và ứng dụng CNTT đến năm 2000 trong quản lý nhà nước, hoạt động kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo, hoạt động nghiên cứu cũng như xây dựng cơ sở công nghiệp CNTT và kết cấu hạ tầng máy tính – viễn thông.

Nghị quyết số 49 cũng đã đề cập đến nhiều “cột trụ” quan trọng của ngành CNTT, nhiều nội dung đề ra trong Nghị quyết số 49 đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự. Nghị quyết số 49/CP cũng là cơ sở để Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 211/TTg ngày 7/4/1995 phê duyệt Chương trình quốc gia về CNTT – Kế hoạch tổng thể đến năm 2000. Ngày 6/5/1994, Ban chỉ đạo Chương trình quốc gia về CNTT được thành lập theo Quyết định số 212/TTg ngày 6/5/1994 của Thủ tướng Chính phủ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) ngày 30/7/1994 xác định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như CNTT phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân”. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: “Ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả; hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế”. Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, từ những năm 90, CNTT ở nước ta đã được ứng dụng và phát triển, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển KT-XH của đất nước.

Tuy nhiên, CNTT Việt Nam trong giai đoạn này vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm, có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trên thế giới và khu vực. Việc ứng dụng CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu về hội nhập khu vực và quốc tế, vai trò động lực và tiềm năng to lớn của CNTT chưa được phát huy mạnh mẽ; việc phát triển nguồn nhân lực CNTT chưa được chuẩn bị kịp thời cả về số lượng và chất lượng, về chuyên môn cũng như về ngoại ngữ, viễn thông và Internet chưa thuận lợi, chưa đáp ứng các yêu cầu về tốc độ, chất lượng và giá cước cho ứng dụng và phát triển CNTT; đầu tư cho CNTT chưa đủ mức cần thiết; quản lý nhà nước về lĩnh vực này vẫn phân tán và chưa hiệu quả, ứng dụng CNTT ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và còn lãng phí.

Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của CNTT chưa đầy đủ; thực hiện chưa triệt để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chưa kết hợp chặt chẽ ứng dụng CNTT với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, cải cách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; chậm ban hành các chính sách đáp ứng nhu cầu ứng dụng và phát triển CNTT; quản lý nhà nước trong các lĩnh vực máy tính, viễn thông và thông tin điện tử chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, chưa tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho việc cung ứng dịch vụ viễn thông và Internet, chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thông tin là loại đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội.

Giai đoạn 2- Thập niên đầu của thế kỷ XXI (2000-2010)

Những văn bản quy phạm pháp luật ban hành trong giai đoạn 2000-2010

Hộp 2. Danh mục văn bản quy phạm pháp luật về CNTT và ứng dụng CNTT trong thập niên đầu của thế kỷ XXI(2000-2010)

Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/07/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005

Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW.

Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg ngày 17/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ ban hành phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam đến 2005.

Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước;

Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30),

Quyết định số 43/2008/QĐ-TTgNgày 24/3/2008phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008;

Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg ngày 03/12/2008về việc tăng cường sử dụng hệ thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước;

Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010.

Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010

Quyết định 94/2006/QĐ-TTg ngày 27/4/2006, củaThủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2006-2010

Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30)

Nhằm tạo ra bước phát triển và ứng dụng mạnh mẽ hơn CNTT trong ngay thập niên đầu của thế kỷ mới, Bộ Chính trị (khóa VIII) ra “Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Trong giai đoạn này, Chính phủ khẳng định CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại với mục tiêu chính nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, đến năm 2010, CNTT Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực với một số mục tiêu cơ bản sau đây :

– CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh – quốc phòng.

– Phát triển mạng thông tin quốc gia phủ cả nước, với thông lượng lớn, tốc độ và chất lượng cao, giá rẻ; tỷ lệ người sử dụng Internet đạt mức trung bình thế giới.

– Công nghiệp CNTT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác; có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng.

Trên cơ sở đó, chủ trương của Chính phủ được cụ thể hóa như sau :

– Ứng dụng và phát triển CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước.

– Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển.

– Mạng thông tin quốc gia là kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội quan trọng, phải tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ứng dụng và phát triển CNTT, đảm bảo được tốc độ và chất lượng cao, giá cước rẻ.

– Phát triển nguồn nhân lực cho CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển CNTT.

– Phát triển công nghiệp CNTT thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là phát triển công nghiệp phần mềm.

Thực hiện các nhiệm vụ đã được cụ thể trong Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 25/01/2001 như ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả CNTT trong toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho ứng dụng CNTT và phát triển CNTT, đẩy mạnh việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho ứng dụng và phát triển CNTT, đẩy nhanh việc xây dựng mạng thông tin quốc gia, bao gồm hệ thống viễn thông và Internet Việt Nam, tăng cường, đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005; ngày 24/5/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW; ngày 17/7/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam đến 2005. Trong các Quyết định của Thủ tướng, đều xác định ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước là nhiệm vụ hàng đầu, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, với các nội dung chủ yếu là:

– Phát triển mạng viễn thông và Internet tiên tiến;

– Nâng cấp mạng tin học diện rộng của Chính phủ;

– Xây dựng các hệ thống tin học hoá quản lý hành chính nhà nước, phục vụ trực tiếp công tác chỉ đạo điều hành trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước;

– Xây dựng và tích hợp các cơ sở dữ liệu quốc gia, trước hết là ở những Bộ, ngành trọng điểm để sử dụng chung;

– Tin học hoá các dịch vụ công nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc phục vụ nhân dân và doanh nghiệp thuận tiện, nhanh gọn và bảo đảm chất lượng;

– Triển khai các hệ thống thông tin chuyên ngành như ngân hàng, tài chính, hải quan, thống kê, an ninh, quốc phòng.

– Phục vụ công tác tiếp tục kiện toàn hệ thống văn bản, chính sách nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới xây dựng CPĐT.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể:

– Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. Trong đó, có nội dung “Triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính nhà nước; áp dụng các công cụ, phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại trong các cơ quan hành chính nhà nước” nhằm thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính.

– Quyết định 94/2006/QĐ-TTg ngày 27/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2006-2010, một trong các nội dung được tiếp tục triển khai thực hiện trong giai đoạn này là cải cách thủ tục hành chính và xây dựng, phát triển hành chính điện tử.

– Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30), với mục tiêu là: “Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của thủ tục hành chính; tạo sự thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện thủ tục hành chính; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; góp phần phòng, chống tham nhũng và lãng phí”.

– Ngày 10/4/2007 nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Đây là căn cứ pháp lý liên quan đến chỉ đạo của Chính phủ về quy hoạch ngành CNTT, là cơ sở vững chắc để Chính phủ hướng dẫn Luật CNTT về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước. Mục đích ban hành nghị định này nhằm công khai, minh bạch thông tin trên môi trường mạng, bảo vệ thông tin cá nhân do cơ quan nhà nước nắm giữ trên môi trường mạng, số hoá thông tin và lưu trữ dữ liệu, chia sẻ thông tin số, tăng cường sử dụng văn bản điện tử, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm. Để đạt được những mục đích đó, Chính phủ đã định hướng cụ thể trong Nghị định một số nội dung chính như: (1) nội dung và điều kiện bảo đảm ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, cung cấp nội dung thông tin, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực CNTT, đầu tư cho ứng dụng CNTT; (2) hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng bao gồm quy trình công việc, quản lý văn bản điện tử, bảo đảm an toàn thông tin trên môi trường mạng, tổ chức thực hiện ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và các điều khoản thi hành. Để thực hiện tốt những định hướng cụ thể đã được Chính phủ ban hành trong Nghị định này, bên cạnh các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cải cách hành chính nêu trên, trong Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 cũng đã nêu rõ nhiệm vụ:” Hợp lý hóa, cải tiến và minh bạch các quy trình công việc, thủ tục hành chính trong các cơ quan nhà nước và các quy trình liên cơ quan để có thể ứng dụng CNTT hiệu quả, bảo đảm việc hợp lý hóa quy trình công việc được thực hiện trước khi đầu tư cho các hệ thống CNTT”.

– Cụ thể và sâu sát hơn trong Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010, đã nêu nhiệm vụ: ”Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện cải tiến quy trình công việc, thủ tục và chuẩn hóa nghiệp vụ; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000”.

Trong các văn bản này, nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước cần tập trung triển khai trong giai đoạn này là: ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước để nâng cao năng lực quản lý, điều hành; ứng dụng CNTT trong việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp; xây dựng nền tảng phục vụ CPĐT; xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Một số kết quả nổi bật đã đạt được trong quá trình thực hiện những văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ về ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước giai đoạn (2000-2010).

a) Kết quả thực hiện Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30)

Với sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp, cùng với sự nỗ lực triển khai các cơ quan nhà nước, trong thời gian qua các thủ tục hành chính trong các cơ quan nhà nước đã được công khai, bước đầu được đơn giản, chuẩn hóa, tạo điều kiện cho việc ứng dụng CNTT, phát triển CPĐT. Cụ thể, cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính đã được công bố trên mạng Internet (theo kết quả giai đoạn 1 Đề án 30) với hơn 5700 thủ tục hành chính và hơn 100.000 biểu mẫu thống kê, hiện tại giai đoạn 2 của Đề án đang được các Bộ, tỉnh hoàn tất, theo đó sẽ cắt giảm, đơn giản hóa khoảng 30% số thủ tục hành chính trên toàn quốc.

b) Tình hình thực hiện Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg ngày 03/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường sử dụng hệ thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước

Căn cứ tổng hợp tình hình sử dụng hệ thống thư điện tử trong các cơ quan nhà nước như ở trên, có thể thấy rằng đa số các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có những nỗ lực, nghiêm túc trong việc thực hiện Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hệ thống thư điện tử đã được sử dụng rộng rãi trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, bước đầu đã làm tăng năng suất lao động, giảm thời gian xử lý công việc, tiết kiệm chi phí. Có thể điểm qua những kết quả chính đã đạt được so với những nội dung Chỉ thị đề ra, đó là:

– Bước đầu đã bảo đảm hạ tầng kỹ thuật cho triển khai hệ thống thư điện tử trong các cơ quan nhà nước; nhiều cán bộ, công chức đã được cung cấp hộp thư điện tử để sử dụng.

– Phần lớn cơ quan nhà nước đã ban hành quy chế về quản lý, sử dụng hệ thống thư điện tử, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cán bộ, công chức khi sử dụng thư điện tử trong công việc.

– Nhiều văn bản đã được các cơ quan nhà nước trao đổi qua hệ thống thư điện tử, bước đầu minh chứng rõ hiệu quả của việc sử dụng thư điện tử, tạo lòng tin, quyết tâm sử dụng thư điện tử trong thời gian tới.

c) Tổng kết 10 năm thực hiện thành công Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin

Qua mười năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngành thông tin và truyền thông Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao năng suất lao động, tốc độ xử lý công việc, tăng hiệu quả, tăng cường mức độ tương tác giữa các cơ quan nhà nước cũng như giữa cơ quan nhà nước với cá nhân và tổ chức. Theo đó, lĩnh vực ứng dụng CNTT đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành cũng như trong công tác chuyên môn ở các cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới, trở thành động lực thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác, cụ thể:

– Đã hình thành thói quen và nhu cầu ứng dụng CNTT vào giải quyết công việc, rút ngắn khoảng cách, thời gian và nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước đối với người dân và doanh nghiệp;

– Hạ tầng kỹ thuật CNTT bao gồm: mạng truyền dẫn trên quy mô quốc gia; mạng, máy tính trong nội bộ các cơ quan nhà nước đã được cải thiện đáng kể đáp ứng việc triển khai ứng dụng CNTT cơ bản trong các cơ quan nhà nước trước mắt và tạo cơ sở cho việc nâng cấp, mở rộng phục vụ cho các ứng dụng CNTT trong tương lai;

– Một số ứng dụng CNTT cơ bản trong nội bộ cơ quan nhà nước đã được triển khai, phát huy hiệu quả rõ rệt, tiêu biểu như sử dụng thư điện tử và các phần mềm phục vụ công tác trao đổi văn bản, quản lý điều hành, tài chính – kế toán; tổ chức các cuộc họp trên môi trường mạng;

– Một số ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp đã bắt đầu phát huy được hiệu quả, bước đầu tạo lòng tin, thói quen của nhân dân trong việc tiếp xúc với các dịch vụ của cơ quan nhà nước có ứng dụng CNTT; đồng thời là cơ sở rút kinh nghiệm, mở rộng các ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp trong thời gian tới. Tiêu biểu như ứng dụng CNTT cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên mạng Internet, ứng dụng CNTT tại bộ phận hành chính một cửa.

– Một số hệ thống thông tin chuyên ngành có quy mô quốc gia bắt đầu được triển khai, tạo cơ sở cho việc thiết lập và mở rộng hạ tầng thông tin phục vụ các hoạt động trong nội bộ cơ quan nhà nước, cũng như cung cấp các dịch vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp.

d) Tổng kết hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin theo Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009- 2010

Qua hai năm triển khai thực hiệnQuyết định số 48/2009/QĐ-TTggiai đoạn 2009-2010, hoạt động ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước đã đạt được những mục tiêu cơ bản đề ra, cụ thể:

Về ứng dụng CNTT nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước:

– Hoàn thành mục tiêu đưa các thông tin chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử.

– Tỉ lệ trung bình cán bộ, công chức sử dụng thư điện tử cho công việc ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương là 85% (chỉ tiêu đề ra là 80%); Ủy ban nhân dân tỉnh là 75% (chỉ tiêu đề ra là 60%),

– Tỉ lệ cơ quan nhà nước cấp Trung ương triển khai sử dụng phần mềm ứng dụng quản lý văn bản và điều hành trên môi trường mạng là 95% (chỉ tiêu đề ra là 90%); Ủy ban nhân dân tỉnh là 98% (chỉ tiêu đề ra là 80%).

– Nâng tỉ lệ trung bình máy tính trên cán bộ, công chức tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ở mức 88% và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở mức 63%. Giảm thiểu việc sử dụng giấy tờ. Khuyến khích cán bộ, công chức khai thác thông tin trên môi trường mạng phục vụ công tác.

– Hầu hết các cơ quan đã trang bị và sử dụng khá hiệu quả các phần mềm quản lý nhân sự, quản lý tài chính – kế toán. Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ đạt tỉ lệ 73%, đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt tỉ lệ 74%.

– Tăng dần và khuyến khích sử dụng các hình thức truyền thông cơ bản: thư điện tử, điện thoại, fax, hội nghị và họp trên môi trường mạng, đưa thông tin lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử để trao đổi thông tin ở khoảng cách xa. Tỉ lệ các cơ quan đã tổ chức được các cuộc họp, giao ban trên môi trường mạng đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ là 63%, đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 38%.

Về ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp:

– Hầu hết các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử với đầy đủ thông tin theo quy định tại Điều 28 của Luật CNTT. Hiện nay đa số các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã có trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử đạt tỉ lệ 21/22, trừ Bộ Quốc phòng. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử đạt tỉ lệ 62/63 tỉnh, hiện chỉ còn tỉnh Đắk Nông chưa có Website chính thức.

– Khoảng 60% (chỉ tiêu đặt ra là 80%) số cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, 55.6% (chỉ tiêu đặt ra là 100%) cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 cho người dân và doanh nghiệp.

– Tỉ lệ cơ triển khai cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trên cổng thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ đạt 37.5%, và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt 33.3%. Một số đơn vị đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4.

Về phát triển các dự án ứng dụng CNTT chuyên ngành:

Trong thời gian qua, nhiều ứng dụng CNTT chuyên ngành đã được triển khai. Đây là những dự án ứng dụng CNTT có quy mô quốc gia. Việc triển khai thành công các ứng dụng này đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự phát triển hạ tầng kỹ thuật, thông tin, các dịch vụ thiết yếu phục vụ người dân và doanh nghiệp trên quy mô toàn quốc. Tiêu biểu đó là các dự án ứng dụng CNTT trong lĩnh vực thuế (Dự án hiện đại hóa quản lý thuế, Dự án xây dựng và triển khai thí điểm hệ thống nộp tờ khai thuế qua mạng Internet), lĩnh vực Hải quan (Dự án hiện đại hóa hải quan,, Dự án triển khai thủ tục hải quan điện tử), lĩnh vực quản lý đầu tư (Dự án xây dựng hệ thống mua sắm CPĐT thử nghiệm, Dự án hệ thống Quản lý thông tin đầu tư nước ngoài), lĩnh vực tài chính (Dự án Hệ thống Thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc – TABMIS), lĩnh vực quản lý dân cư (Dự án cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư), lĩnh vực an toàn, an ninh thông tin (Dự án triển khai hệ thống chứng thực điện tử và chữ ký số trong các cơ quan nhà nước), lĩnh vực tư pháp (Dự án phát triển hệ thống thông tin về quản lý văn bản pháp luật thống nhất từ Trung ương tới địa phương), lĩnh vực thương mại (Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về kinh tế công nghiệp và thương mại), lĩnh vực y tế (Dự án Hệ thống thông tin quản lý y tế dự phòng, Dự án xây dựng bệnh án điện tử và quản lý hệ thống khám chữa bệnh).

Chủ trương, chính sách và định hướng của chính Phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước trong giai đoạn mới.

Định hướng của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong thời kỳ hiện tại:

– Đổi mới phương thức cung cấp thông tin và dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3 hoặc 4, người dân và doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ thanh toán phí dịch vụ, nhận kết quả dịch vụ qua mạng;

– Đổi mới phương thức quản lý tài nguyên thông tin trong các cơ quan quản lý nhà nước, phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia về con người, đất đai, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại tạo nền tảng triển khai CPĐT;

– Xây dựng môi trường làm việc điện tử giữa các cơ quan nhà nước trên phạm vi toàn quốc;

– Chủ trương của Chính phủ về môi trường pháp lý trong việc phát triển ứng dụng CNTT;

– Xây dựng các quy định về an toàn, an ninh thông tin, đẩy mạnh sử dụng chữ ký số trong các hoạt động ứng dụng CNTT của cơ quan nhà nước

– Xây dựng quy định về quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý văn bản điện tử trên toàn quốc; bảo đảm tận dụng triệt để hạ tầng kỹ thuật được trang bị để trao đổi các văn bản điện tử giữa các cơ quan nhà nước;

– Xây dựng các chính sách thu hút, phối hợp với doanh nghiệp trong công tác triển khai các ứng dụng CNTT của cơ quan nhà nước; Phát triển các hình thức thuê, khoán trong triển khai ứng dụng CNTT;

– Xây dựng các quy định nhằm giảm văn bản giấy, tăng cường chia sẻ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

– Xây dựng các quy trình, chuẩn nội dung tích hợp thông tin từ cấp xã, huyện, tỉnh về các Bộ và Văn phòng Chính phủ;

– Xây dựng, ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn về ứng dụng CNTT quốc gia;

– Xây dựng, ban hành các chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử giữa các cơ quan nhà nước;

– Xây dựng quy định ưu tiên biên chế cán bộ CNTT cho các cơ quan nhà nước;

– Xây dựng chính sách ưu đãi thích hợp cho cán bộ, công chức chuyên trách về CNTT trong cơ quan nhà nước, nhằm duy trì và thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao;

– Và hoàn thiện các văn bản quy định về tài chính phù hợp đặc thù ứng dụng CNTT.

Chính sách thúc đẩy và kế hoạch xây dựng ứng dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực quan trọng phục vụ cộng đồng trong giai đoạn mới.

Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông”

Ngày 22/9/2010, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT và Truyền thông (CNTT-TT)” (gọi tắt là Đề án tăng tốc). Đề án được xây dựng theo quan điểm coi CNTT-TT là động lực quan trọng góp phần bảo đảm sự tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước, nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của cơ quan nhà nước, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Tăng tốc phát triển CNTT-TT Việt Nam trên cơ sở đảm bảo tính kế thừa, tận dụng những kết quả, thành tựu đã có, phù hợp với các chiến lược, quy hoạch phát triển trong lĩnh vực CNTT-TT song cần có những đột phá trong phát triển với những mục tiêu cao hơn, tốc độ nhanh hơn.

Mục tiêu đặt ra của Đề án là: phát triển nguồn nhân lực CNTT đạt tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng ngành công nghiệp CNTT, đặc biệt là công nghiệp phần mềm, nội dung số và dịch vụ CNTT trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tăng trưởng GDP và xuất khẩu; thiết lập hạ tầng viễn thông băng rộng trên phạm vi cả nước; ứng dụng hiệu quả CNTT trong mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; tốc độ tăng trưởng doanh thu hằng năm đạt từ 2 – 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP trở lên; đến năm 2020, tỷ trọng CNTT và truyền thông đóng góp vào GDP đạt từ 8 – 10%.

Sự phát triển của ngành CNTT-TT được phát triển dựa trên việc giải quyết những nhiệm vụ lớn bao gồm: (1) Phát triển nguồn nhân lực CNTT; (2) Phát triển ngành công nghiệp CNTT; (3) Phát triển và hoàn thiện hạ tầng viễn thông và CNTT; (4) Xây dựng và triển khai các giải pháp hỗ trợ phù hợp để phổ cập thông tin đến các hộ gia đình; (5) Ứng dụng hiệu quả CNTT trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và xã hội; (6) Tăng cường năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực CNTT-TT, làm chủ và từng bước sáng tạo ra công nghệ cho chế tạo sản phẩm mới, xây dựng doanh nghiệp và phát triển thị trường CNTT-TT.

Bên cạnh đó, trong khuôn khổ Đề án, các nhóm giải pháp chính được đưa ra tập trung trên các phương diện: (1) Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức; (2) Tích cực xã hội hóa đầu tư cho CNTT-TT, đặc biệt là phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng; (3) Đẩy mạnh việc đầu tư của Nhà nước (đầu tư đột phá có trọng tâm, trọng điểm) đối với các chương trình, dự án ứng dụng và phát triển CNTT; (4) Xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo điểu kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành CNTT-TT; (5) Xây dựng và áp dụng một số cơ chế đặc thù và chính sách đột phá nhằm khuyến khích sự phát triển của CNTT-TT như: chính sách về đầu tư, chính sách về tài chính, chính sách về đất đai, địa điểm, v.v.;(6) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNTT-TT.

Theo tinh thần của Đề án tăng tốc, để đạt được những thành tựu vững chắc, CNTT-TT sẽ được quy hoạch phát triển hợp lý cả chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng trên cơ sở phát huy nội lực, tận dụng tri thức và các nguồn lực quốc tế. Nhà nước chủ trương áp dụng mức ưu tiên, ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật dành cho công nghệ cao, cho công tác nghiên cứu, đào tạo về khoa học và công nghệ cho các khu CNTT tập trung, tăng cường đầu tư cho các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các doanh nghiệp, cá nhân cung cấp các sản phẩm, dịch vụ CNTT.

Sự ra đời của Đề án tăng tốc đã tạo ra nền tảng cơ sở cho nhiều lĩnh vực phát triển của CNTT-TT trong giai đoạn mới, trong đó có hoạt động ứng dụng CNTT. Các nội dung của Đề án sẽ được nghiên cứu và triển khai cụ thể hóa trong hoạt động ứng dụng CNTT tại nhiều cấp, nhiều lĩnh vực rộng rãi trên quy mô toàn quốc.

Chương trình quốc gia về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 – 2015.

Ngày 27/8/2010, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân ký Quyết định số 1605/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015. Theo đó, mục tiêu đến năm 2015 là xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển CPĐT; ứng dụng CNTT rộng rãi trong nội bộ cơ quan nhà nước; cung cấp các dịch vụ công trực tuyến sâu rộng phục vụ người dân và doanh nghiệp; hướng tới làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Đây là kế hoạch bản lề, mang tính định hướng cho sự phát triển của ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn 2011-2015. Cụ thể định hướng đến năm 2020:

– Tích hợp các hệ thống thông tin, tạo lập được môi trường mạng rộng khắp phục vụ đa số các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hầu hết các giao dịch của các cơ quan nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau;

– Hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau;

Để thực hiện những mục tiêu lớn kể trên, Chương trình đề ra những nội dung và hoạt động cụ thể trên các lĩnh vực:

Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển CPĐT:

– Phát triển và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm cho các hoạt động ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng an toàn, hiệu quả.

– Phát triển và hoàn thiện các hệ thống thông tin, các cơ sở dữ liệu lớn, trước hết tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về con người, tài nguyên và môi trường, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại, bảo đảm tính cấu trúc, hệ thống, tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp giữa các cơ quan nhà nước.

Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước:

– 60% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan nhà nước được trao đổi hoàn toàn dưới dạng điện tử.

– Hầu hết cán bộ, công chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc.

– Bảo đảm các điều kiện về kỹ thuật cho 100% các cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể được thực hiện trên môi trường mạng.

– Bảo đảm các điều kiện về kỹ thuật để 100% hồ sơ quản lý cán bộ, công chức các cấp có thể được quản lý chung trên mạng với quy mô
quốc gia.

– Triển khai Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc tới 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

– Bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong cơ quan nhà nước.

Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp:

– 100% các cơ quan nhà nước từ cấp quận, huyện, Sở, ban, ngành hoặc tương đương trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin theo Điều 28 của Luật CNTT, cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tối thiểu mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp.

– 50% hồ sơ khai thuế của người dân và doanh nghiệp được nộp qua mạng.

– 90% cơ quan hải quan các tỉnh, thành phố triển khai hải quan
điện tử.

– Tất cả kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, kết quả đấu thầu, danh sách nhà thầu tham gia được đăng tải trên mạng đấu thầu quốc gia; khoảng 20% số gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư vấn sử dụng vốn nhà nước được thực hiện qua mạng; thí điểm hình thức mua sắm chính phủ tập trung trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

– 100% hộ chiếu được cấp cho công dân Việt Nam phục vụ công tác xuất, nhập cảnh là hộ chiếu điện tử.

– 30% công dân Việt Nam đủ độ tuổi theo quy định được cấp chứng minh nhân dân sản xuất trên dây chuyền hiện đại, với một số chứng minh nhân dân duy nhất không trùng lặp, chống được làm giả.

– 30% số hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng được nộp qua mạng.

Căn cứ chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước được quy định tại Quyết định số 1605/QĐ-TTg, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố và các cấp địa phương trên cả nước đã tiến hành xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin giai đoạn 2011-2015 theo những điều kiện đặc thù và mục tiêu phát triển cụ thể của từng đơn vị. Bộ Thông tin và Truyền thông có chức năng tư vấn hỗ trợ các cơ quan trong xây dựng và thẩm định kế hoạch ứng dụng CNTT. Đến tháng 30/5/2011 đã có 12/30 đơn vị cấp Bộ và 38/63 địa phương đã phê duyệt kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin giai đoạn 2011 – 2015,nhiều đơn vị khác đã hoàn thành kế hoạch và đang trong quá trình chờ thẩm định và phê duyệt.

About thangletoan

Hallo Aloha

Posted on 30/03/2012, in Công nghệ, Công nghệ và Giáo dục, chính phủ điện tử, Chính sách CNTT, Chính sách nhà nước, CNTT, Giác ngộ giáo dục, Giác ngộ giáo dục, Sống và đam mê khoa học. Bookmark the permalink. Để lại bình luận.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: