Hồi ký tháng 2: Tìm hiểu những thuyết tin nhưng không lý giải được Cận tử nghiệp, sống – chết, khởi nguyên và thống nhất


Ngày cha tôi mất, 2.2.2011 lúc 8:28 năm tân mão ( tức 30.12 tết Canh dần).

Năm Cha tôi đi là năm “con mèo”. nó làm tôi liên tưởng đến năm 1986 năm Đinh mão cũng năm “con mè”, con mèo mướp tôi yêu quý mất rồi đến Bà nội tôi mất  cũng gần đến thời gian bước sang năm “Bính dần” năm mà cả nhà buồn tê tái, tết là những chuỗi ngày không có cảm nhận của “Mùi tết” biết bao hình ảnh về người Bà, người Cha thân yêu tràn ngập trong tâm trí tôi.

Tôi đã đọc kinh Địa tạng không chỉ vì anh Trai cả đã dậy tôi, cũng không phải do Sư Bác Yến đọc tụng 1 thất, nhị, tam … thất thất. Anh em tôi luôn nghĩ mình phải làm gì đó để Cha tôi và những người đang sống quanh Ông luôn thương yêu, kính trọng Ông, người thân đều vui vẻ, sống có tâm và xứng đáng với những gì Ông đã làm , đã dậy, đã nuôi nấng chăm sóc chúng tôi.

Đối với Tôi, Cha tôi là người đàn ông vĩ đại.

Có nhiều điều kì lạ về Cha tôi, tôi đã từng tự đặt câu hỏi về cuộc đời bình dị của Cha như:  Tại sao thời gian Cha tôi sinh ra, trưởng thành đã diễn ra 3 cuộc chiến tranh lớn: Pháp, Mỹ, Trung Quốc.

Cha tôi đã không phải tham gia chúng như guồng máy chiến tranh , phá hoại hạnh phúc gia đình, hủy hoại tương lại đất nước, thế hệ và thế giới văn minh loài người. Tôi cho đó lại là kết quả kỳ diệu, nếu tôi là Ông tôi cũng sẽ như vậy hoặc buôn vũ khí để tiếp thêm sức mạnh giúp đất nước có nhiều “Thù Thắng” làm bao kẻ thù tà kiến ngoại đạo khiếp sợ.

Năm 2005 tôi làm việc tại Ấn Độ đã có dịp tìm hiểu về Đạo Ấn và Phật Giáo với những giá trị đem lại cho con người, giáo dục và xã hội.  Nó dần ấp ủ trong tôi những dự định thay đổi ở tuổi 40 mươi.

Bodhgaya

Bồ Đề Đạo Tràng là nơi kỷ niệm sự thành đạo, chứng đắc quả vị giác ngộ siêu việt của Bồ tát Tất Đạt Đa. Ở nơi ấy Ngài đã trở thành Đấng Chí Tôn, bậc thầy của cả trời người với tôn hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Năm 2005 đi từ Việt nam sang công tác còn có anh Hoàng Mộc Kiên, con trai Ông Hoàng Thủy Nguyên – Viện sĩ, cựu Viện Trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ. Anh là người khiếm thị (Thong manh) với nghị lực phi thường, anh từ người biết tiếng Đức đã tự học tiếng anh, đọc thông nói thạo, viết và dịch thạo tiếng anh.

Anh có tâm nguyện và tôi cũng có những thứ đó nhưng chưa thực hiện được là: buộc những sợi dây vào hai chân và thả cho ướt chân trên dòng sông Hằng.

Varanasi_panorama

cũng giống như  “Tâm nguyện lớn nhất của người Ấn là trong đời người ít nhất được một lần đến tắm tại sông Hằng và khi chết được mang xác về Varanasi, thành phố bên bờ sông Hằng để làm lễ hỏa thiêu rồi thả tro xuống dòng sông ngay tại nơi này”

Tóm lại theo suy nghĩ của tôi:

– Có Sống “tồn tại” thì phải có cái Chết “biến đổi đi” và trước khi Chết sẽ có cái gọi là Cận tử nghiệp như thể là dấu hiệu của cái chết và cho họ biết trước khi chết linh hồn sẽ đi về đâu.

– Không có khời nguyên nào tồn tại ngoài thế giới tự nhiên.

– Mọi cái đều thống nhất và cũng hỗn loạn với tính thống nhất bởi thế giới tự nhiên vốn đa dạng và phức tạp.

– Tôi biết con người chỉ cần làm chậm lại, sống từ tốn hơn, làm chăm chỉ hơn cần cù hơn, suy nghĩ nhiều hơn trước khi nói, trước khi làm sẽ làm cho thế giới này tốt hơn lên rất nhiều.

Trong cuộc đời tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chính Pháp làm ngọn đèn, lấy Chính Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác.

– Khởi nguyên thế giới và nguồn gốc của cuộc sống trên thế gian này được giải thích từ Đức phật: sự tất yếu ấy có tồn tại và thay đổi bới 4 truyền thống:

truyền-thống 1, thì có chư Thiên từ cõi Quang-âm đến, sau khi hết phước thác-sanh xuống cõi nhơn-gian.

truyền-thống 2, thì có chư Thiên từ cõi Khiddàpadosikà đến, chư Thiên nầy bị nhiễm dục-lạc, nên sau thác-sanh xuống cõi nhơn-gian

–  truyền-thống 3, thì có chư Thiên từ cõi Manopadosikà đến, vì tâm-trí bị ô-nhiễm ganh-ghét lẫn nhau, nên sau thác-sanh xuống cõi nhơn-gian;

–  truyền thống 4, thì có chư Thiên cõi Vô-tưởng hữu-tình thiên đến, và khi một tưởng-niệm khởi lên nơi họ thì họ bị thác-sanh xuống cõi nhân gian.

Đức Phật kết-luận: Giáo-pháp của Ngài, chẳng chú-trọng đến thần-thông, hay khởi-nguyên thế-giới, mà nhằm giúp chúng sinh tận-trừ vĩnh-viễn mọi Khổ.

”Ta biết như vậy, (nhưng) Ta không có chấp-trước. Vì không có chấp-trước, Ta tự-thân thấu hiểu được sự an-tịnh. Chính nhờ chứng-ngộ sự an-tịnh nầy mà Như-Lai không rơi vào lầm-lỗi.”

Giáo dục của Phật giáo chính là con đường tiếp theo nửa đời người của tôi sẽ đi.

About thangletoan

Hallo Aloha

Posted on 09/06/2012, in Công nghệ và Giáo dục, Giác ngộ giáo dục, Giác ngộ giáo dục, Giáo dục Phật giáo, Hồi ký tùy bút, Phật giáo, Phật giáo cánh cửa thứ 3 của NGHIỆP, Phật pháp nhiệm màu. Bookmark the permalink. Để lại bình luận.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: