Category Archives: Cho muôn đời sau

Lưu bút của Bác sĩ Hùng về Sức khoẻ Đời sống–kỷ vật cuối cùng của Cha tôi


Lưu bút: ý kiến cảm nghĩ của Bác Sĩ Lâm Đức Hùng, một trong số những kỷ niệm của Cha tôi trước khi cụ đi xa, tôi xin mạn phép lưu lại bút ký của người và BS. Lâm Đức Hùng để chia sẻ tình yêu đối với những Y, Bác Sĩ, Lương Y của bệnh viện Hữu Nghị và toàn thể ngành Y Việt Nam, những con người ngày đêm tận tuỵ với nghề, với bệnh nhân. 

WP_20170607_001WP_20170607_002

Ấn tượng về Khoa Tiêu hóa BV Hữu nghị

SKĐS – Mới đây, sau khi ăn rau bắp cải luộc còn tồn dư hóa chất bảo quản thực vật, tôi bị ngộ độc. Dù đã nôn khá nhiều cho hết, nhưng chứng rối loạn tiêu hóa vẫn hoành hành làm cho tôi cảm thấy rất mệt, huyết áp kẹt…

Mới đây, sau khi ăn rau bắp cải luộc còn tồn dư hóa chất bảo quản thực vật, tôi bị ngộ độc. Dù đã nôn khá nhiều cho hết, nhưng chứng rối loạn tiêu hóa vẫn hoành hành làm cho tôi cảm thấy rất mệt, huyết áp kẹt… Gia đình phải đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị. Tại đây, tôi được các BS và điều dưỡng khẩn trương khám và kiểm tra cận lâm sàng như xét nghiệm máu, chụp Xquang, siêu âm ổ bụng… và truyền dịch để bù phụ nước, điện giải, rồi đưa tới Khoa Tiêu hóa để điều trị nội trú.

BS. Sự trực tiếp điều trị cùng chị Thủy – Điều dưỡng trưởng của Khoa Tiêu hóa đã có mặt, thu xếp giường và thăm khám, chỉ định chế độ theo dõi sát sao, dù khi đó đã gần 6 giờ chiều (sau hỏi lại, được biết các anh, chị vừa tiếp đoàn kiểm tra, dù hết giờ làm việc từ lâu, nhưng vẫn ở lại vì có bệnh nhân vào cấp cứu). Với phong cách cởi mở ân cần, các anh chị hỏi han về hoàn cảnh ngộ độc, diễn biến trước khi đến bệnh viện với sự chia sẻ, động viên thật chân tình làm cho tôi rất cảm động và yên tâm.

Chăm sóc bệnh nhân nặng. Ảnh: Trần Minh (Báo Sức khoẻ và Đời Sống)

Từ đó, từ sáng trước giờ giao ban hàng ngày của khoa, BS. Sự luôn dành thời gian để thăm các bệnh nhân. Gặp tôi, với gương mặt và nụ cười dễ gần, anh hỏi cặn kẽ về sức khỏe của tôi, giải thích tỉ mỉ về tác dụng các loại thuốc mà tôi được dùng… Các điều dưỡng viên đều đặn hằng sáng vào đo huyết áp, ghi theo dõi giấc ngủ, ăn uống và tình hình sức khỏe của bệnh nhân, rồi chỉ định người phụ trách từng công việc. Tất cả những điều đó được ghi lại trên các bảng biểu và lồng trong tấm bảng được treo ở đầu mỗi giường bệnh nhân để bất kì ai muốn biết đều được đáp ứng, rất minh bạch, theo đúng quy chế của ngành y. Trước khi truyền dịch, sau nụ cười thân thiện và thăm hỏi, các nữ điều dưỡng viên làn nào cũng nhẹ nhàng đưa ra những lời nhắn nhủ thân tình: “Bác cố gắng chịu đau một chút để chúng cháu truyền dịch nhé”.  Các chị hộ lý khi vào làm vệ sinh hoặc đưa quần áo cho bệnh nhân thay đổi, lần nào cũng cất lời chào và hỏi thăm như người trong gia đình, làm cho bênh  nhân cảm thấy nhẹ bớt cảm giác nằm viện, thiếu vắng tình cảm của những người thân. BSCKII Trưởng khoa Đinh Quý Minh đã đến khám và chỉ định làm thủ thuật soi dạ dày và đại tràng cho tôi với lời giải thích để việc chẩn đoán và điều trị toàn diện, là dịp tổng kiểm tra cơ quan tiêu hóa của tôi, có hướng chăm sóc sức khỏe lâu dài. Để chuẩn bị cho việc soi dạ dày và đại tràng, các anh chị đã đưa cho tôi các gói thuốc xổ kèm theo một bảng hướng dẫn cụ thể cách dùng. Theo hướng dẫn đó, tôi đã uống 3 lít nước lọc pha thuốc xổ trong 48 giờ để làm thật sạch đường ruột. Thú thật trong lòng vẫn lo lắng, không biết việc soi đó có đau quá sức chịu đựng của mình hay không. Liệu có xảy ra sự cố gì khi soi hay không. Nhưng vào buổi sáng hôm soi dạ dày và đại tràng, những điều âu lo của tôi đã được giải tỏa, bởi BS. Minh Trưởng khoa và cộng sự của anh đã thao tác thật nhẹ nhàng, chuẩn xác, cảm giác đau của bệnh nhân khi soi chỉ thoáng qua và mọi sự đã diễn ra êm đẹp. Trở lại buồng bệnh, tôi cảm thấy thật sự an lòng. Một buổi chiều, tôi được báo chuyển buồng vì có một chị mới vào viện cần chỗ nằm, tôi nảy ra ý nghĩ xin về nhà, bèn bước ra, rất may trên hành lang của khoa gặp BS. Minh và BS. Sự đang đi buồng thăm bệnh nhân, sau khi nghe nguyện vọng của tôi, hai anh bảo tôi cứ về buồng, sau sẽ trả lời. Ít phút sau, BS. Sự quay lại gặp tôi và nói là “bác cứ yên tâm nằm ở đây, vì khoa đã thu xếp có giường cho bệnh nhân nữ mới vào rồi. Bác cần ít nhất một tuần nữa mới kết thúc đợt điều trị rồi mới tính đến chuyện xuất viện”. Hàng ngày, sau khi truyền dịch xong, nằm nghỉ một lúc, tôi tập đi lại dọc theo hành lang của khoa nhiều lần, phần tránh sự trì trệ để lưu thông tuần hoàn, phần để có dịp giao lưu hỏi chuyện với các bệnh nhân. Ngày nào cũng như ngày nào, các chị y công luôn chân luôn tay lau chùi từng căn phòng bệnh nhân lẫn hành lang của khoa và các nơi làm việc, nên nền nhà lúc nào cũng sạch bóng như thể soi gương được. Khung cảnh Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Hữu nghị đã tạo nên hình ảnh gần gũi, ấm áp tình người đối với người bệnh, một guồng máy được vận hành nhịp nhàng và hiệu quả, luôn được người bệnh ghi nhận và ghi lại những dòng cảm tưởng tốt đẹp trên cuốn sổ ghi nhận xét của bệnh nhân dành cho Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Hữu nghị.

Buổi sáng ra viện còn in lại trong tâm trí tôi những ấn tượng khó quên về BS Trưởng khoa Đinh Quý Minh – người có đôi bàn tay vàng – theo cảm nhận của nhiều người bệnh đối với anh, về BS. Sự và các thầy thuốc khác của khoa dầy tâm huyết với công việc, với đội ngũ điều dưỡng thành thạo trong các thao tác và sự ân cần khi chăm sóc bệnh nhân dưới sự điều hành của chị Thủy – Điều dưỡng trưởng của khoa, các chị y công có trách nhiệm cao trong công tác và lịch duyệt trong giao tiếp.

Khoa Tiêu hóa là một nét son, góp phần tô điểm thêm cho vẻ đẹp rực rỡ của Đơn vị Anh hùng thời kỳ đổi mới – Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội.

BS. Lâm Đức Hùng

Vai trò của Tướng Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV


Hoàng Anh Tài

Tam quan đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí

(xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An). Ảnh: Thảo Nguyên

Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (1379-1465) sinh quán tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Trong cuộc đời 69 năm của Cương quốc công thì đã có 60 năm Ngài gắn bó với sự nghiệp triều Lê sơ, từ khi còn là một cậu thiếu niên đến lúc trở thành một công thần, rường cột của triều đình.

Nói về Nguyễn Xí, vua Lê Thánh Tông từng có nhận xét: “Nguyễn Xí: Khí chất cứng cỏi to tát, tính vốn trầm hùng, giúp Cao Hoàng khi mở nước trăm trận gian nan. Giúp Tiên khảo lúc thủ thành một lòng phò tá. Trong ngoài hết chức phận tướng văn, tướng võ, trước sau giữ trọn tiết làm tôi, làm con. Giữ mình có đạo hồn nhiên như viên ngọc không lộ sáng. Nghiêm sắc mặt ở triều, lẫm liệt như thanh kiếm mới tuốt. Các quân đều tưởng mộ phong thái, bốn biển đều trông thấy uy danh. Tiên đế mất trong khi đi tuần phương Nam, người ân cần nhận chiếu ký thác. Ta lên ngôi như mặt trời mới mọc, người bày tỏ hết mực mưu mô giúp rập. Tôn miếu xã tắc được yên vững, trung châu man di đều thuần phục…”(1)

Cùng với những công lao to lớn trên bình diện quốc gia đã được lịch sử dân tộc ghi nhận, Nguyễn Xí còn có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành nên nhiều làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ và trên địa bàn tỉnh Nghệ An ở thế kỷ thứ XV. Phạm vi bài báo này xin đề cập tới: Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành làng xã ở Nghệ An.

Ngay sau ngày đất nước đại định, triều Lê sơ đã thực thi việc bình xét công trạng đi liền với ban cấp lộc điền cho hoàng thân, quốc thích và các khai quốc công thần – những người đã có nhiều công lao giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, giải phóng đất nước. Việc làm này của Lê Lợi và vương triều Lê sơ còn nhằm gắn chặt trách nhiệm của quan lại đối với triều đình phong kiến trung ương tập quyền, đang là xu thế tiến bộ bấy giờ.

Cũng như nhiều vị khai quốc công thần thời Lê sơ, Nguyễn Xí đã được triều đình ban thưởng hàng nghìn mẫu ruộng lộc điền, mà phần lớn là thế nghiệp điền – loại ruộng đất được quyền sử dụng vĩnh viễn.

Tuy gia tộc Nguyễn Đình không còn lưu giữ được các sắc chỉ của triều Lê ban cấp ruộng đất cho Nguyễn Xí, nhưng nội dung Di huấn của Nguyễn Xí hiện còn lưu tại nhà thờ, gia phả dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp và một số thư tịch cũ đã cho ta biết cụ thể số ruộng lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 5.135 mẫu ở rải rác từ Hải Dương đến Nghệ An, Hà Tĩnh, bao gồm 6 trấn, 25 huyện, 93 xã(2). Trong đó, tại trấn Nghệ An (bao gồm địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 1009,5 mẫu, được phân bổ trên địa bàn của các phủ: Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và 5 huyện: Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương và Thiên Lộc.

Cùng với việc xác nhận số đất đai được ban cấp, Di huấn của Nguyễn Xí cũng nhắc nhở trách nhiệm của con cháu trong việc ghi nhớ công lao của tiền nhân: “Vua ra sắc lệnh ban cho Ta được hưởng ruộng đất lộc điền và Ta mới tương tậu thêm một số ruộng đất ở các xứ, phủ, huyện xã đều đặt làm sản nghiệp vĩnh viễn. Nay chúng mày được hưởng sự giàu sang, nhà đẹp, ruộng đất, nên nhớ lại khi Ta khó nhọc phát bụi, chặt gai. Thấy cảnh trí, ca nhi, vũ nữ, nên nghĩ đến lúc Ta chịu khổ gối gươm, nằm đất(3)

Ngoài hàng ngàn mẫu “lộc điền” được ban cấp, số đất ruộng do Nguyễn Xí tương tậu (mua) và tổ chức khai khẩn thêm còn có trên 765 mẫu, tập trung chủ yếu vùng xung quanh làng Thượng Xá quê hương Ngài.

Do bận việc quân cơ, triều chính, Nguyễn Xí không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình mà giao chủ yếu cho con cháu quản lý và thu hoa lợi. Thông thường mức địa tô mà người cày ruộng lộc điền phải nộp cho Nguyễn Xí trong khoảng 1/3 sản lượng, sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cần thiết. Mức thu này bằng, hoặc thấp hơn qui định của nhà nước; những năm mất mùa thì được miễn giảm tùy theo tình hình thực tế của mùa vụ.

Tuy nhiên, theo thời gian và sự biến động của lịch sử, số ruộng đất của Nguyễn Xí cũng bị thất thoát dần. Trong đó, một phần bị tư nhân hóa, một phần bị cường hào các địa phương chiếm đoạt; thậm chí do một số con cháu quá đói, buộc phải bán “ruộng họ”. Do đó, trong thực tế mức hoa lợi mà Nguyễn Xí cũng như con cháu thu được chỉ ở mức nhất định. Nhưng, việc khai thác, sử dụng ruộng đất của Nguyễn Xí đã góp phần đáng kể vào công cuộc mở mang kinh tế và quá trình hình thành nên nhiều làng xã ở nước ta trong thế kỷ thứ XV, mà chỉ tính riêng trên địa bàn Nghệ An thì đã có hàng chục làng xã thuộc 4 phủ, 5 huyện. Đây là một trong những đóng góp quan trọng nữa của Cương quốc công Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình rất cần được ghi nhận.

Theo Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở xã Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết: Nguyễn Xí đã giao cho Nguyễn Trọng Đạt (người con thứ 10) cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chàm, gồm các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp tiến hành khai khẩn đất đai tại vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc. Kết quả công cuộc khai khẩn ruộng đất đã hình thành nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng (nay thuộc địa bàn xã Nghi Hương và xã Nghi Thu, (thị xã Cửa Lò). Số hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử tử tế như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi những làng xã mới khai khẩn. Quá trình lao động và chung sống lâu đời, những nhóm người Chăm đó đã hoàn toàn hòa hợp với nông dân ngưòi Việt(5).Ngoài ra, Nguyễn Xí còn sử dụng bọn hàng binh nhà Minh, như Nguyễn Sĩ, Nguyễn Tiếp cùng dân địa phương khai hoang lập ra làng Phú Ích (nay thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc). Di huấn của Nguyễn Xí cũng ghi lại điều đó.

Đề cập đến vấn đề này, học giả người Pháp Hippolyte Le Breton trong cuốn An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh) được Tập san Đô thành hiếu cổ xuất bản lần đầu vào năm 1936 đã viết những dòng, như sau:

“Nguyễn Xí được cấp lãnh địa cả miền duyên hải nằm giữa Cửa Lò và Cửa Hội (Hội Thống) ngày nay. Trong số các đầm phá này có Bàu Ó, cái bàu mà theo các sách Dư địa chí thì gọi là hồ nước biển. Dọc theo bờ Bàu Ó, Nguyễn Xí lập nên làng Bàu Ó mà đất đai thì do một đám tù binh người Tàu mà Nguyễn Xí bắt được trong các cuộc chiến tranh ở An-Tĩnh (1418-1428) khai khẩn. Trên những đầm phá khác, Nguyễn Xí lập ra rất nhiều làng. Đất đai mới nổi lên đều do những người Chăm khai khẩn. Những người này do Nguyễn Xí bắt được trong cuộc đánh nhau với nước Chăm Pa năm Thái Hòa thứ 3, đời Nhân Tôn, tức năm Ất Sửu (1445)”.(5)

Tương truyền Làng Long Trảo (Móng Rồng), xưa thuộc làng Khánh Duệ, (nay thuộc xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc), là nơi được Nguyễn Xí chọn làm địa điểm tổ chức lễ mừng công sau ngày đất nước đại định. Lễ hội được tổ chức vào ngày mồng 01 tháng Hai âm lịch. Hàng năm đến ngày này, quan khách và con cháu khắp mọi miền đất nước kéo về đây dự lễ. Để có hàng hóa phục vụ lễ hội, Nguyễn Xí đã cho cưới chợ Sơn và giao làng thu thuế chợ nộp cho họ Nguyễn Đình mỗi năm 6 quan để góp vào việc tổ chức lễ hội mừng công. Chợ Sơn ra đời từ đó, mà người có công cưới chợ là Cương quốc công Nguyễn Xí.

Về sau, vào ngày 16 tháng 6 âm lịch hàng năm, tại chợ Sơn, dòng họ Nguyễn còn tổ chức tiểu lễ (lễ nhỏ) để tri ân những người có công với nhà Lê, với Nguyễn Xí, nhưng chưa được ban thưởng mà đã chết. Tại lễ này, Nguyễn Xí hoặc con cháu thay mặt Ngài tạ lỗi với những oan hồn đã bỏ xác trong các cuộc binh đao…Việc làm này, nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đó là sự biểu hiện của tình cảm “uống nước, nhớ nguồn“ – tấm lòng nhân văn cao cả của Cương quốc công Nguyễn Xí và gia tộc Nguyễn Đình.

Nguyễn Xí có 15 người con trai, 8 người con gái. Tất cả 15 người con trai đã noi gương thân phụ, đều hết lòng trung quân, ái quốc; trong 15 người thì có 7 người giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình và 8 người điều khiển chỉ huy 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu của nước Đại Việt. Nhiều người trong số họ đã được phong tước Hầu, hoặc Quận công; có người được phong làm Quốc công. Còn 8 người con gái đều lấy chồng thuộc các gia đình quí tộc. Quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất của con cháu Nguyễn Xí cũng góp phần mở mang kinh tế và hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn nước ta.

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết: Thái úy Nguyễn Sư Hồi – con trai cả của Cương quốc công Nguyễn Xí là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành làng Vạn Lộc – tiền thân của phường Nghi Tân, (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài ngót 5 cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc kinh dinh của Nguyễn Sư Hồi ở thế kỷ thứ XV.

Tương truyền: Chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng Vạn Lộc. Đến thế kỷ thứ XIX đã trở thành một trong số 10 chợ lớn của huyện Chân Lộc(6).

Đền thờ Nguyễn Sư Hồi trên địa bàn phường Nghi Tân vẫn trường tồn đến tận ngày nay cùng đôi câu đối ca ngợi công đức của Người “một thuở mang gươm đi mở cõi”:

“Dẹp giặc, yên dân, nghĩa khí ngàn năm ghi nhớ,

Khai cơ, lập nghiệp, công ơn muôn thuở lưu truyền.”

Trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, dọc sông Mai Giang đến núi Tùng Lĩnh có một giải đất với diện tích trên 5 mẫu, dân địa phương gọi là cánh đồng Dần. Truyền rằng do Ngọc Linh Vệ quản lệnh Nguyễn Đình Dần (con thứ 13 của Cương quốc công Nguyễn Xí) khai phá từ thế kỷ thứ XV(7).

Có thể dẫn ra nhiều ví dụ nữa cho thấy lộc điền và các loại đất ruộng của Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình đã tạo những tiền đề vật chất cho việc hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn Nghệ An, góp phần quan trọng vào việc mở mang kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, đưa Nghệ An từ vùng đất trại, từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của quốc gia Đại Việt.

Tài liệu tham khảo:

(1) Lê Quí Đôn Toàn tập, tập III (Đại Việt Thông sử) Nxb KHXH, H.1978, tr.181.

(2) Đỗ Danh Gia, Luận án tốt nghiệp khoa Sử, K11, Hà Nội, 1976.

(3) Di huấn của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí.

(4) Lịch sử Nghệ – Tĩnh, Tập I, Nxb Nghệ Tĩnh, 1984, tr.181.

(5) Hippolyte Le Breton, An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh), Nxb Nghệ An, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005; tr.99.

(6) Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh – quá trình hình thành và phát triển, tr.24.

(7) Hoàng Anh Tài, Quỳnh Xuân xưa và nay

Nguồn: Tập san KHXH &NV Nghệ An

%d bloggers like this: