Category Archives: Đạo lý sống ở đời làm người con trung hiếu Đất Việt

Phần 2. Triển khai cấu hình đăng nhập 1 lần SSO giữa Moodle và AD server – ROBUSTA Distance Learning 2015


10. Cấu trúc hệ thống đăng nhập 1 lần – SSO:

1. Đăng nhập một lần (SSO – Single Sign On): Khi người dùng đăng nhập lần đầu vào một WBT, tài khoản đăng nhập đó sẽ tự động được sử dụng cho phiên làm việc của người đó trong toàn bộ hệ thống.

Hệ thống đào tạo ở đây được hiểu là tập hợp các ứng dụng khác nhau có thể được dùng thông qua giao diện Web. Cơ chế này có thể xây dựng dựa vào một điểm chứng thực trung tâm (Central Authentication Service – “CAS”), dựa vào giao thức LDAP (Lightweight Directory Access Protocol), hoặc hoặc thậm chí dựa vào cookie của trình duyệt để giữ xác thực.

image

image

 

2. Sơ đồ đăng nhập 1 lần với LMS vs LCMS:

screenshot_technologists_03 image

3. Khả năng đáp ứng đăng nhập 1 lần với các ứng dụng hiện nay:

image

image

4. Khả năng tích hợp giữa e-learning với các mô hình hệ thống dịch vụ khác:

image  

Dựa trên các phân tích và thực tế triển khai, phát triển sản phẩm công nghệ đào tạo trực tuyến hiện nay, chúng ta thấy được Moodle là một trong các mô hình E-learning phát triển mạnh mẽ nhất trên thế giới.

5. Cấu trúc vận hành xác thực trong SSO:

image

Với mô hình cấu trúc xác thực SSO nói trên đã có rất nhiều các gói ứng dụng, giao thức và giải pháp xác thực, đăng nhập 1 lần khác nhau.

Nhưng tất cả đều phải tuân thủ 1 nguyên tắc cơ bản là bảo mật, quản lý và vận hành theo nguồn dữ liệu người dùng đơn giản và hiệu quả nhất.

 

6. Lý do lựa chọn giải pháp tích hợp Moodle với AD Server:

    • ROBUSTA Distance Learning 2015 đã và đang sử dụng hạ tầng quản lý người dùng trên nền Windows Active Directory (AD Server) và tích hợp các nền tảng dịch vụ Office 365 – Exchange – Lync – SharePoint Online, CRM online. Do vậy, việc lựa chọn giải pháp tích hợp đăng nhập 1 lần giữa Moodle và AD là hiển nhiên.
    • Ngoài ra, các hệ thống thực hành Labs trên Private Cloud, Hybrid Cloud, Public Cloud, VMware vSphere đều được kết nối, đồng bộ tài khoản giữa các ứng dụng đó với AD Users.
    • Đây là 1 phần quan trọng để thống nhất quản lý người dùng, đồng thời đem lại sự đơn giản hóa cho người dùng khi sử dụng hệ thống Đào tạo trực tuyến của ROBUSTA.

image

7. Các bước cấu hình đăng nhập 1 lần trên Moodle Admin:

Tham khảo link: https://docs.moodle.org/28/en/Active_Directory#Troubleshooting_AD_and_LDAP_authentication 

Tham khảo link: Tích hợp Moodle với Microsoft Office 365 thông qua AD: http://www.moodlenews.com/2013/integrate-moodle-and-microsoft-office-365-through-ad/ 

Tham khảo link:  Lỗi tích hợp xác thức trên nền IIS http://support.microsoft.com/kb/896861 

Tham khảo link: cấu hình SMTP relay gửi thư qua Office 365 trên windows server 2008 http://www.configureoffice365.com/configure-office-365-smtp-relay/ 

Tham khảo link: cấu hình phân quyền và chức năng sử dụng trong Moodle: https://docs.moodle.org/28/en/Standard_roles 

Tham khảo link: cách xóa quyền truy cập của Guest / Anonymous: https://moodle.org/mod/forum/discuss.php?d=65614

 

8. Chi tiết các bước tích hợp Moodle với AD  thông qua giao thức xác thực LDAP Authentication và NTLM SSO:

Bước 1:  chuẩn bị

– Moodle 2.8 Server đang chạy trên máy chủ Windows Server 2012 đã Join domain.

– 1 máy chủ Domain Control Center “DCC” chạy trên windows server 2008 r2.

Bước 2:  kiểm tra tình trang kết nối LDAP qua cổng 389 từ máy chủ Moodle 2.8 tới máy chủ DCC.

– Bạn nên download công cụ LDP.zip để kiểm tra các công việc trên máy chủ Moodle 2.8

(tham khảo hướng dẫn dùng ldp.exe : https://technet.microsoft.com/en-us/library/cc794810%28v=ws.10%29.aspx ) 

– Giải nén file ldp.zip vào thư mục c:\LDAP trên máy chủ Moodle.

– Chạy file ldp.exe

image

 

– Chọn menu Connection sau đó bấm chọn Connect.

– Nhập tên máy chủ AD server bạn cần để kiểm tra tình trạng làm việc của LDAP. (nếu bạn không chắc chắn tên hoặc ip của máy chủ AD thì hãy nhập dòng lệnh sau:

nltest/dclist:yourdomain.name.com nó sẽ giúp bạn nhìn được danh sách các máy chủ Domain controllers trong hệ thống mạng LAN của bạn.) sau đó bấm OK.

– Nếu mọi thứ thực hiện đúng nó sẽ kết nối và nó sẽ hiển thị tất cả cấu hình LDAP server /phiên bản của máy chủ AD.

image

– Bấm menu ConnectionBind.

– Bây giờ chúng ta cần nhập username, password và domain (nhập tài khoản administrator username và mật khẩu, tên miền domain).

– Nếu thực hiện thành công sẽ thấy xuất hiện Authenticated as dn:’username’. (cần khởi tạo hoặc kiểm tra tài khoản này với quyền admin privileges).

– Chúng ta có thể bấm menu View sau đó chọn popbar  Tree.

– Một menu sổ xuống và bạn chọn BaseDN cho việc hiển thị thông tin trong domain của bạn.

image

– Bạn sẽ nhìn thấy phía bên trái domain của bạn, các thông tin về OU và CN trong máy chủ AD đang quản lý.

– Bước tiếp theo ta sẽ cần dùng các thông tin trong OU, CN và DC để khai báo vào máy chủ Moodle LDAP 

 

Bước 3: kích hoạt Moodle LDAP

– Trước hết chúng ta cần kích hoạt LDAP plugin.

–  Đăng nhập vào Moodle bằng admin, bấm: Site administration, Plugins, Authentication và chọn Manage authentication.

– Trong danh sách các plug-in sẽ thấy kiểu xác thực có giá trị  “available authentication types” ta bấm tiếp vào hình “con mắt”  để kích hoạt “LDAP Server –> enable”.

image

Bước 4: Cấu hình Moodle LDAP:

– Bấm vào LDAP Server để truy cập trang cấu hình LDAP:

  • Host URL: ldap://ip (đây là tên FQDN hoặc IPv4 của máy chủ AD domain controller, nếu  có nhiều máy chủ DC bạn có thể nhập các địa chỉ phân cách nhau bằng dấu;  ví dụ: ldap://10.66.28.42;ldap://10.66.28.43 ).
  • Version: 3  
  • Use TLS: No (bạn có thể nâng cấp dùng TLS sau)
  • LDAP encoding: ulf-8

Bind Settings

  • Hide password: yes (không cho lưu mật khẩu trong Moodle database.)
  • Distinguished Name: CN=LDAP,OU=Other,OU=Admin,OU=School Users,DC=***,DC=***,DC=****,DC=*** (có thể sao chép kết quả từ OU,CN,DC của công cụ ldp.exe).

image

  • Password: ******** (mật khẩu của account admin dùng cho Bind account)

User Lookup Settings

  • User Type: MS ActiveDirectory (đây là kiểm truy cập bằng account LDAP AD User).
  • Context: OU=school users,DC=***,DC=***,DC=***,DC=*** (nặp lại có thể sao chép kết quả từ OU,CN,DC của công cụ ldp.exe).
  • Search Subcontext: Yes (giúp tìm cấc tài khoản theo kiểu nặp lại OU nhiều cấp OU –> OU1 –> OU11).
  • User Attribute: samaccountname (các thuộc tính người dùng để tìm kiếu theo kiểu tên / email có trong cấu trúc cây LDAP user. Thông thường là kiểu domain\username hay còn gọi sAMAccountName hiếm khi có trường hợp đặc biệt kiểu UPN hoặc email address) , Nó thường dùng kiểu: cn (Novell eDirectory and MS-AD) , uid (RFC-2037, RFC-2037bis cho SAMBA 3.x LDAP extension), nhưng nếu bạn dùng MS-AD bạn cần nhớ rằng ta cần phải dùng theo chuẩn đăng nhập NTLM SSO nên thường dùng sAMAccountName (là kiểu đăng nhập The pre-Windows 2000 logon account name).

Force Change Password

  • Force Change Password: no (Chúng ta không nên cho user Moodle được phép thay mật khẩu, người dùng có thể thay từ AD server hoặc từ việc đăng nhập computer và dùng tổ hợp phím Ctrl+Alt+Del).

LDAP password expiration Settings

  • Expiration: no (Không nên giới hạn tuổi của mật khẩu ở Moodle LDAP vì sẽ rắc rối lớn nếu người dùng không đăng nhập được Moodle vì mật khẩu truy cập vào Moodle bị hết hạn sử dụng).
  • Grace Login: no (Nếu đã không đăng nhập được Moodle qua mạng thì hiển nhiên họ sẽ không vào được trang My Moodle cá nhân hoặc trang admin Moodle).

Enable User Creation

  • Create User Externally: no (Chúng ta muốn chỉ có những tài khoản thuộc AD mới truy cập được Moodle).

Course Creator

  • Creators: OU=Staff,OU=School Users,DC=***,DC=***,DC=***,DC=*** (nặp lại có thể sao chép kết quả từ OU,CN,DC của công cụ ldp.exe).

NTLM SSO (đây là cấu hình bắt buộc)

  • Enable: yes (cho phép sẽ đăng nhập tài khoản bằng Moodle single sign-on).
  • Subnet: IP/22 (đây là dải địa chỉ IP Subnet address  nhằm cho phép sử dụng truy xuất NTML SSO single sign-on, kiểm soát việc các computer có thuộc dải được phép SSO).
  • MS IE fast path: Yes, attempt NTLM other Browsers (đảm bảm mức tương thích với các phiên bản IE là tối đa).
  • Authentication Type: NTLM.
  • Remote Username Format: %domain%\%username% (default)

Data Mapping

  • First Name: givenname
  • Sure Name: sn
  • Email Address: mail

Tham khảo linK: các trường thông tin dùng trong AD  http://www.kouti.com/tables/userattributes.htm 

image

image

 

Bước 5: Lưu lại những thay đổi:

 

Bước 6: Cấu hình NTML trên IIS Server:

– Tìm đến file trong thư mục sau auth/ldap/ntlmsso_magic.php thông qua IIS Management Console,

    Nếu dùng IIS 6.0 thì bấm phải chuột vào file và chọn properties:

    • Ở tab “file security” bấm quyền truy cập Authentication and Access control chọn nút edit.
    • Bỏ chọn  “Enable Anonymous Access” và bấm chọn “Integrated Windows Authentication”

    Nếu dùng IIS 7.0 thì bấm phải chuột vào file và chọn properties

    • Sau mục chỉ dẫn navigating chọn thư mục ‘auth/ldap’ và bấm chuyển “switch to Content View”.
    • Bấm phải chuột trên file và chọn “Switch to Features View”.
    • Bấm vào biểu tượng Authentication icon nằm cửa sổ bên phải.
    • Chọn ‘Anonymous Authentication’ và  bấm nút ‘Disable’.
    • Chọn ‘Windows Authentication’ và bấm nút ‘Enable’.

    Nếu dùng IIS 7.5  bạn sẽ cần chọn ‘Windows Authentication’ và chọn ‘Providers’. Nó sẽ hiển thị danh sách enabled providers Negotiate and NTLM. hãy chuyển đổi thứ tự để cho NTLM lên đầu danh sách.

    Moodle_SSO

    image

     

    Bước cuối: Thử nghiệm

    – Bấm chọn (Đăng nhập):

    image

    – Nhập domain name\username và mật khẩu của AD:

    image

    – Màn hình tự động đăng nhập Moodle bằng NTML:

    image

    – Bạn sẽ nhận được thư gửi có nội dung và link để kích hoạt tài khoản truy cập sử dụng các dịch vụ của Moodle sau khi khai báo thêm các thông tin về User Profile (đặc biệt là địa chỉ email)

    image

    Tham khảo: Phần 3. Triển khai cấu hình đăng nhập 1 lần SSO giữa AD server On-Premise với Microsoft Office 365 – ROBUSTA Distance Learning 2015

    P.S: Rất tiếc phần 3, chỉ công bố trong chương trình đào tạo MS Office 365, Private Cloud.

    Các bạn hãy đăng ký tham gia các khóa học của http://robusta.vn để được trải nghiệm, hỗ trợ và thực hành tốt hơn.

     

    Chúc các bạn thành công !

    Phần 1. Cấu hình Hệ thống đào tạo trực tuyến thế hệ mới – ROBUSTA Distance Learning 2015


    1. Tổng quan:

    Đào tạo từ xa (E-learning) với khả năng cung cấp bài giảng đa phương tiện và hỗ trợ việc dạy và học cho mọi người, ở mọi nơi và mọi lúc , đây là một phương pháp hữu hiệu để hỗ trợ bổ sung hoặc thậm trí thay thế một số bộ môn trong hình thức đào tạo truyền thống.

    Mô hình E-learning phổ biến nhất hiện nay là phát triển các hệ thống đào tạo trực tuyến dựa trên nền web (Web-Based Training  “WBT”) cho phép quản lý một số lượng lớn người dùng thuộc 6 nhóm chính:

    1. Quản trị hệ thống mạng và dịch vụ (đảm bảo về kỹ thuật, cấu hình dịch vụ cho hoạt động ổn định của hệ thống).
    2. Quản trị hệ thống nội dung, chương trình đào tạo (Nhóm người quản lý các chức năng đào tạo, theo dõi qui mô, tiến trình, báo cáo và đánh giá chất lượng đào tạo để có thể ra các quyết sách hợp lý).
    3. Giảng viên (nhóm đối tượng khai thác chức năng của cả đào tạo “LMS” và quản lý nội dung giáo trình dạy “LCMS” để xây dựng bài giảng và quản lý việc sử dụng bài giảng).
    4. Trợ giảng, người theo dõi quản lý lớp/ khóa học.
    5. Học viên (nhóm đối tượng sử dụng đông đảo và đa dạng nhất của hệ thống. đối với một hệ WBT cho cộng đồng, học viên có thể là mọi đối tượng trong xã hội. Học viên chủ yếu khai thác trực tiếp các chức năng của phân hệ đào tạo “LMS”).
    6. Phụ huynh / người quản lý trực tiếp nhóm của học viên.

    và cung cấp các hình thức tương tác giữa 6 nhóm phong phú như:

    1. Lưu sổ điểm, học bạ,điểm danh, chứng chỉ, theo dõi tình hình học tập, tiến trình ôn tập của từng cá nhân học viên.
    2. Hệ thống tương tác qua email, sms, trao đổi qua văn bản / hình ảnh / âm thanh, streaming media.
    3. Cung cấp các nguồn thư viện điện tử, media, video/audio, giáo trình tham khảo điện tử , trình chiếu powerpoint slides, adobe flash, silverlight …
    4. Hệ thống ôn tập thi chứng chỉ các chuyên ngành học dạng ngân hàng đề thi trắc nghiệm, thi mô hình simulators / hotspot, điều khiển Labs thực hành trên máy tính và mạng ảo, chấm điểm tự động.
    5. Khả năng remote hỗ trợ từ xa các máy desktop của giảng viên, học viên chuyên các bộ môn: ITIL, Helpdesk, chăm sóc khách hàng CRM …
    6. Khả năng học nhóm, họp phòng, hội thảo, triển lãm CNTT từ xa bằng tích hợp các hệ thống điện toán đám mây như: Google App, Office 365 hoặc Lync Conferencing 2010/2013, VMware Virtualization…
    7. Hệ thống thực hành trực tuyến điều khiển từ xa giúp học viên, giảng viên và quản trị hệ thống mạng xây dựng được các bài thực hành : Virtualization Data center, SharePoint, BizTalk, Virtualization System, Hybrid Cloud, Private Cloud…
    8. Tích hợp với các mạng xã hội như: facebook, linkedin, youtube, flickr, google, Microsoft Azure, Moodlenews… giúp việc ad/pr, marketing tin tức hoạt động, chương trình đào tạo của hệ thống hiệu quả cao hơn.

    Moodle-social

    Chính vì vậy đã có nhiều hệ thống WBT được phát triển và số người tham gia vào các hệ thống này ngày càng tăng.

     

    2. Cấu trúc cơ bản của WBT:

    Một hệ thống WBT hoàn chỉnh thường bao gồm hai thành phần chính:

    1. Phân hệ quản lý đào tạo (Learning Management System – LMS).
    2. Phân hệ quản lý nội dung đào tạo (Learning Content Management System-LCMS).

    image

    • LMS là một hệ thống quản lý các quá trình học tập, bao gồm việc đăng ký khoá học của học viên, phân phối các nội dung học cho học viên, các hoạt động kiểm tra đánh giá, và các hoạt động tương tác trong cộng đồng người sử dụng. Một số LMS còn hỗ trợ nhà quản lý và giảng viên thực hiện giám sát tiến trình học và chất lượng học, hỗ trợ các hình thức tương tác trực tuyến và bài giảng đồng bộ.
    • LCMS là hệ thống hỗ trợ việc xây dựng nội dung học tập bao gồm việc tạo, cập nhật, tìm kiếm và sử dụng lại các module bài giảng. Bài giảng có thể được thể hiện dưới nhiều mức khác nhau từ văn bản cho đến bài giảng đa phương tiện chứa video và bài giảng dạng mô phỏng hỗ trợ tương tác. Hầu hết các hệ LCMS đều tiến tới hỗ trợ việc biểu diễn bài giảng theo các chuẩn thống nhất (ví dụ: SCORM hay XML) để dễ dàng chia sẻ và sử dụng lại.

    image

     

    3. Công nghệ đáp ứng nền tảng:

    1. Web Server: Apache / IIS 7.5 trở lên.
    2. Hệ quản trị CSDL: MySQL 5.x / MS SQL Server 2008 R2 trở lên.
    3. Directory: AD, LDAP / OpenLDAP.
    4. Ngôn ngữ lập trình: PHP 5.x / ASPX 2 trở lên, XML/XSL/ Notes.js
    5. Trình duyệt web: Internet Explorer 6 trở lên; Chrome; Firefox, Opera, Safari, WAP 1.x; Nescape 5.x trở lên

     

    4. mô hình các thành phần của hệ thống đào tạo trực tuyến:

    image

    5. Cấu trúc các chức năng hệ thống:

    image

    6. Cấu trúc của một môn học trực tuyến:

    image

     

    7. Yêu cầu kỹ năng tương tác của giảng viên:

    image

    8. Triển khai mô hình LMS vs LCMS trong đào tạo trực tuyến:

    MOOC

    Lưu ý: Trong mô hình trên chúng ta sẽ vướng phải yêu cầu về đăng nhập 1 lần (SSO) sử dụng giao thức LDAP:// 389 hoặc LDAPS để trao đổi thông tin, đăng nhập xác thực 1 lần giữa WBT, web service với email, ftp, portal và LMS – LCMS của các sản phẩm công nghệ quản lý đào tạo sẵn có như: Moodle, Blackboard, SharePoint Learning gateway …

    (xin xem phần 2. Triển khai cấu hình đăng nhập 1 lần giữa Moodle và AD server).

    9. Triển khai mô hình hệ thống Cân bằng tải:

    image

    Hết phần 1.

    Lịch khai giảng đầu năm 2015 tại ROBUSTA Hà nội


    Nếu quý khách có yêu cầu chương trình học ngoài lịch khai giảng trên đây, vui lòng liên hệ với Robusta

    STT

    Tên khóa học

    Ngày KG

    Giờ học

    Ngày học

    Thời lượng

    Học phí

    Giảng viên

    Các khóa đào tạo công nghệ VMware

    1

     Triển khai, quản trị hạ tầng ảo hóa với VMware vSphere 5.5

    02-03-2015
     

    18h-21h Thứ 2,4,6 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    2
    01-04-2015 18h-21h Thứ 2,4,6 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    4
    03-03-2015 18h-21h Thứ 3,5,7 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    5 10-03-2015 14h-17h Thứ 3,5 Học Online Ngôi sao Liên hệ Việt Nam
     

    31-03-2015

    18h-21h Thứ 3,5,7 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    6

    VMware vSphere: Optimize & Scale [v5.1]

    09-03-2015 09h-17h Trong tuần

    40 giờ

    Liên hệ Việt Nam

    7

    Cài đặt, cấu hình và vận hành hệ thống đồng bộ an toàn dữ liệu doanh nghiệp – Horizon Mirage 4x

     

    16-03-2015

    9h-17h 

    Trong tuần

    18 giờ

    Liên hệ

    Việt Nam

    8

    06-04-2015

    9h-17h

    Trong tuần

    18 giờ

    Liên hệ

    Việt Nam

    10

    VMware vCenter Operations Manager: Analyze and Predict [V5.x]

    23-03-2015

    09h-17h

    Trong tuần

    16 giờ

    Liên hệ

    Nước ngoài

    Các khóa đào tạo Microsoft

    1

    Microsoft Excel: Xây dựng bài toán Quản lý vs Phân tích dữ liệu 

    18-05-2015 14h-17h Thứ 7, CN 20 giờ Liên hệ Việt Nam
    2 Phát triển BizTalk trong tích hợp ứng dụng vs dữ liệu doanh nghiệp 16-04-2015 09-17h Trong tuần 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    3 10-08-2015 18h-21h Thứ 3,5,7 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    4 KHÓA ĐÀO TẠO: XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỰC HÀNH LABS OFFICE365 24-01-2015 14h-16h Thứ 3,5,7 18 giờ Liên hệ Việt Nam
    5 KHÓA ĐÀO TẠO: OFFICE365đồng bộ ADSync 
    24-01-2015 14h-16h Thứ 2,4,6 học Online Ngôi sao Liên hệ Việt Nam
    30-03-2015 14h-16h Thứ 2,4,6 học Online Liên hệ Việt Nam
    6 KHÓA ĐÀO TẠO: XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỰC HÀNH LABS SHAREPOINT 21-04-2015 18h-21h Thứ 3,5,7 18 giờ Liên hệ Việt Nam
    7

    KHOÁ ĐÀO TẠO NÂNG CAO: ĐIỀU CHỈNH SHAREPOINT 2010 CHO HIỆU SUẤT CAO

    09-02-2015 09h-17h Trong tuần 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    09-32-2015 09h-17h Trong tuần 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    8

    KHÓA ĐÀO TẠO:XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỰC HÀNH LABS BIZTALK

    31-01-2015 09h-12h Thứ 7, CN 18 giờ Liên hệ Việt Nam
    9 Thiết kế các giải pháp BI với Microsoft SQL Server 20-03-2015 09h-17h Trong tuần 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    Các khóa đào tạo khác
    1 IT Scrum Master – Quản lý quy trình – xây dựng mô hình giải háp vs Kỹ năng quản lý công nghệ thông tin 6-04-2015 09h- 17h Trong tuần 40 giờ Liên hệ Việt Nam
    2 CEH8 Plus Mobile 04-05-2015 18h-21h Thứ 2,4,6
    30 giờ Liên hệ Việt Nam

    Thông tin ưu đãi:

    – Giảm giá đặc biệt cho các học viên đăng ký và thanh toán trước ngày khai giảng tối thiểu 02 tuần hoặc đăng ký nhóm 02 người trở lên.

     

    Thông tin chi tiết vui lòng liên hệ:

    Lê Trường Sơn (Mr.) – Mobile : (+84) 0904 411 933 – Email : son.le@robusta.vn 


     

    Xin cám ơn và mong được hợp tác và hỗ trợ Quý Anh/Chị cùng đơn vị trong thời gian tới!

    Bài sám hối trước tượng phật Ngài Quán thế âm Bồ tát


    Quì trước Tượng Quán thế âm Bồ tát

    1 Bát nước trong vắt 9 hạt gạo thơm

    Cúi đầu chấp tay

    Con xin lay phật

    Lòng con thành thật

    Chí nguyêh theo Ngài

    Lãnh cõi trần ai

    Mong về Tịnh độ

    Thấy đời thật khổ

    Lắm kẻ điêu tàn

    Sống kiếp lầm than

    Vì chưa giác ngộ

    Nay con đã rõ

    Dù trễ hơn không

    Cố sức gắng công

    Xả thân cầu đạo

    Lánh vòng phiền não

    Núp bóng từ bi

    Mạn tham sân si

    Con nguyện từ khước

    Lỗi lầm từ trước

    Vì tánh còn mê

    Nay con xin thề

    Thành tâm sám hối

    Lấy công chuộc tội

    Quyết chí tu hành

    Lánh dữ theo lành

    Vun trồng cội phúc

    Nước nay tuy đục

    Lọc mãi phải trong

    Con nguyện hết lòng

    Bồ đề kiên cố

    Lợi danh cám dỗ

    Chẳng chút động tâm

    Bụi tục bụi trần

    Con nguyện dũ sạch

    Cho lòng thanh bạch

    Cho chí thanh bình

    Chánh niệm quang minh

    Cầu xin chư Phật

    khi con nhắm mắt

    Xin phóng đạo hào quang

    Tiếp dẫn cho con

    Nương về Tịnh độ

    Nguồn mê bể khổ

    Nghiệp chướng luân hồi

    Nay đã dứt rồi

    Con xin thệ nguyện

    Nguyện thành chánh giác

    Nguyện độ chúng sinh

    Nguyện thành Phật đạo

     

    HỒI HƯỚNG

    Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ a di đà phật.

     

    Nguyên tác: Đệ tử Phùng Thị Thơm

    Hiệu Pháp Danh: Cư sĩ Diệu âm : Diệu Hương

     

    Chế tác: Đệ tử Lê Toàn Thắng

    Hiệu Pháp danh: Đàm Hiếu

     

    Hoàn thành 6 tháng tu tập bằng lời dậy của Phật


    Con đường hướng thượng là con đường tu tập chuyển hóa những nghiệp nhân bất thiện, hướng đến sự đoạn tận khổ đau, đạt đến quả vị giải thoát. Con đường hướng thượng ấy, mỗi người là chủ nhân của chính mình và phải tự mình cất bước.

    Lời giảng dạy của Đức Thế Tôn, chúng ta phải ý thức được rằng, đời sống của mỗi người có hạnh phúc và thánh thiện hay không, không nằm ở sự nguyện cầu van xin, hay dựa dẫm vào một thế lực thần linh nào khác, hay ước vọng một sự che chở nào của thế lực bên ngoài, mà ở chính sự tu tập của chính mỗi người, nếu mỗi người biết tu tập chuyển hóa những nghiệp ác thành nghiệp thiện.

    Con người sinh ra trên cuộc đời này, có người được sống an vui hạnh phúc, có người lại chịu nhiều khổ đau bất hạnh, thiết nghĩ tất cả sự đau khổ hay hạnh phúc đều có sự tác động mật thiết của ý nghĩ, lời nói và việc làm của mỗi người. Nếu ai biết thực hành những thiện pháp thì sẽ hưởng được đời sống an lành hạnh phúc, còn trái lại nếu thực hành những pháp bất thiện thì sẽ tự chuốc lấy khổ đau. Như vậy, cuộc sống hạnh phúc hay đau khổ là do chính mình quyết định, chứ không phải một ai khác can thiệp vào. Điều này được minh chứng qua lời dạy minh triết của Bậc Giác ngộ cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm, lời dạy ấy được ghi lại trong kinh Tạp A Hàm thông qua cuộc đối thoại giữa Đức Thế Tôn và vua Ba Tư Nặc.

    Có bốn hạng người là những hạng người chúng ta nên biết:

    Thứ nhất:  Hạng người từ bóng tối đi vào bóng tối

    Thứ hai: Hạng người từ bóng tối đi ra ánh sáng

    Thứ ba: Hạng người từ ánh sáng đi vào bóng tối

    Thứ tư: Hạng người từ ánh sáng đi vào ánh sáng

    Qua quan điểm trên của Đức thế tôn về cách đánh giá và là cái nhình mới mẻ về Con người, Chúng ta sẽ ý thức được giá trị thực sự của con người là ở chính mình, và con đường hướng thượng. Như vậy, con đường hướng thượng, là con đường mà chính mỗi người chúng ta phải tu tập chuyển hóa những nghiệp nhân bất thiện, hướng đến sự đoạn tận khổ đau, đạt đến quả vị giải thoát. Con đường hướng thượng ấy, mỗi người là chủ nhân của chính mình và phải tự mình cất bước tiến lên thôi bạn à.

    Lưu trữ tư liệu


    Thánh điển Phật giáo
    Tam.jpg
    Kinh

    Luận

    Lưu bút chuẩn bị đón Xuân 2013


    Tiễn mùa Đông 2012

    Những hình ảnh kỷ niệm Năm tháng đã qua của các Anh Chị người thân trong Đại gia đình Việt

     

    Scanner_0005Scanner_0006Scanner_0007

    Tiễn biệt Mùa Đông lạnh giá, xa xôi và đơn độc:

    DSC_0074

    Minh Trang, Mát-x-cơ-va, 2012

    DSC00721

    Anh Dzich, Hà-nội 2011

    DSCF4123

    Ngọc Hà, Luân-đôn, 2009

    31012009_231012009_1

    Đào miền bắc, Mai miền nam đang đợi nàng tiên Mùa Xuân trở về để kịp khoe sắc hương.

    16 Điều tâm niệm trong cuộc đời làm người mà bạn luôn tu tập làm theo

    1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.

    2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là giả dối, dối trá.

    3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự cao tự đại.

    4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen ghét, ghen tỵ.

    5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.

    6. Tỗi lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu, bất trung.

    7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty.

    8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên khi đã từng bị vấp ngã.

    9. Phá sản lớn nhất của đời người là Tuyệt vọng.

    10. Tài sản lớn nhất của đời người là Sức khỏe và Trí tuệ.

    11. Món nợ lớn nhất của đời người là Tình cảm.

    12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

    13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

    14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

    15. Thành công lớn nhất của đời người là không làm khổ người khác.

    16. Hạnh phúc lớn nhất đời người là đem niềm vui đến cho mọi người.

     

    Thơ năm 2011 Tân Mão:

    Tiễn “Đông chí” đón “Xuân về”

    Mong sao năm nay Tân Mão
    Nhiều cái mới, cơ hội mới
    Khó khăn thách thức vẫn vượt qua
    Như truyền kỳ “Bát tiên quá hải”.

    Đường đi mới, thấy chân trời sáng
    Phía cuối đường hầm, bóng tối mờ dần
    Sau những ngày lao động nghiên cứu miệt mài
    Sẽ là tiền tài, lộc phát, niềm vui thành quả.

    Năm mới đến, Đông sắp tàn, Xuân sắp về
    Lòng này hướng tới Niềm tin “Ất Thái Lai”
    Bao công sức quyết giữ gìn
    Anh em đoàn kết quyết tiến lên Thắng lợi !

    Đầu năm, Đông Chí – Tân Mão 2011.

    我希望今年茅挞嗯
    新事物,新机会
    挑战依然克服
    由于公共电视,“第一蝙蝠的习俗。“

    新航线,看到明亮的视野
    该隧道的尽头,消失在黑暗中
    经过几天的辛勤劳动研究
    将金钱,财富播放,娱乐性能。

    新的一年,东方印染,明年春天
    信托目的是请“佚来泰
    包括保全工作
    兄弟俩决定搬到团结的胜利!

    今年早些时候,冬至谈呒熬2011年。

     

    Chúc tết Xuân Canh Dần, 10/1/2010:

    image

     

    Mong Xuân Kỷ Sửu sớm trở về , 26/1/2009:

    image

     

    image

    image

    image

    Hồi ký tháng 10: lí do hoảng sợ cuối cùng cho những thay đổi cuộc đời tôi.


    Đầu tháng 10 là những ngày tôi bắt tay vào việc tổng kết một số điểm chính về những bức tượng tôi đã sưu tầm hơn 10 năm qua những dịp đi công tác trong và nước ngoài.

    1. Vòng 108 hạt xá lợi – Ngày tôi tham gia lễ Truyền Thọ, Quy Y Tam Quy, 8/2007 – KLCC Malaysia

    – Pháp sư Tịnh Không truyền thọ giáo cho tôi và 3.000 người, với 50.000 người qua mạng với những lời đẹp ý hay:

    o Cảm ứng thiên.

    o Thọ Ngũ giới

    o Thập thiện nghiệp đạo

    – Tôi đã đi học ngược lại với những gì mà những người tu hành đã làm đó là:

    o Học tiểu học: bậc tiểu thừa – học A hàm: 12 năm

    o Học trung học: bậc trung thừa – phương đẳng 18 năm

    o Học đại học: bậc đại thừa – bát nhã 22 năm

    o Học sau đại học: bậc bồ đề – Pháp hoa – 25 năm

    o Niết bàn: có thể vài phút – giờ – vài năm (tuỳ nghiệp báo) ?

    – Tôi bị ảnh hưởng và cũng là theo đuổi nền văn hoá đa nguyên, đó là xã hội giáo dục khoa học của Phật giáo, không chỉ tin vào trí thiện viên mãn, có nhiều sự cống hiến vĩ đại trong giáo dục loài người. Chính vì lý do theo đuổi này mà đã hơn năm nay đi nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực Khoa học tự nhiên:

    o Thực hành khí công luyện tập Trường Năng lượng sinh học.

    o Tập nhìn thấu thị, mở dần từng luân xa  (luân xa 6: góc tam giác với 2 mắt, 7: đỉnh bách hội, 3: trên rốn điều khiển thể Vía, 4: luân xa Tim điều khiển tốc độ bơm máu, 2: luân xa thận, 5: cổ điều khiển phế quản, 1: luân xa xương cùng điều khiển máu và xương hoạt động).

    o Nhìn được ánh sáng Vàng (Hoàng đản) phát ra từ các vùng chấn thương của người thân. Tôi đã đọc cuốn “Bàn Tay Ánh Sáng” và luyện tập đến khi có thể nhìn được các thể “Vi tế” và “Hoàng đản” phát thành dòng sáng có màu “Óng ả” bằng thấu thị và đã dừng lại ở đây.

    Tập hơn 2 tháng thì bắt đầu liên tục bị mất khả năng kiểm soát, sau khi đọc các kinh phật thì phát hiện bị nhiễm tạp niệm: ăn cá, uống rượu/bia, thuốc lá thì những chất đó làm mất ổn định và không điều khiển tâm trí tập trung được.

    Tôi bắt đầu tập trung vào Yoga và Thiền định để tìm cách chữa  – một dạng tu hành của hành giả, điều khiển 3 thể di chuyển theo ý nghĩ tâm tưởng, vào ngày 1 tháng 8 tôi nhận được 2 kết quả kinh khủng sau:

    o Nhìn và tiếp xúc được với vài người “Xưa” – thân thiết của mình, lúc đầu họ cũng sợ cái tôi đang cầm trên tay là ánh sáng Hoàng đản. Lúc đầu tôi cũng hoảng sợ và đọc niệm chú liên tục, họ dần nghe tôi đọc niệm chú.

    o Những đêm choàng tỉnh dậy do không biết đóng mở luân xa, tự học và tự kiểm soát.

    Tất cả đứng trên cao hoặc trong góc và hỏi tôi nhiều chuyện, tôi chỉ nói trong suy nghĩ của mình, chú tôi, cậu tôi, Bác đằng ngoại và cả Bà nội tôi. Tôi hẹn họ một ngày tới khi tôi chuẩn bị lễ tắm tượng phật.

    Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/1-QuiY_TamBao-ThoNguGioi

    Đây là con đường tôi đã đi “Road map” xin bạn đọc lưu ý đừng đi theo nếu không đủ tự tin, và xin đừng ngã mạn quá khi có kiến thức cuộc sống mà đánh giá coi thường niệm phật, đọc kinh là một trong những phương pháp đơn giản hiệu nghiệm bao người đã chứng quả.

    ConDuongPhatGiaoCuaToi

    2. Bức tượng về Thần Shiva – New Delhi 4/2005

    P1090156Người phụ nữ luống tuổi đã nói với tôi bằng tiếng Hin-đu pha chút tiếng anh, đây là vị thần may mắn cho những người lưu giữ tượng, vị thần có sức mạnh huỷ diệt sẽ làm cải tạo cuộc sống dân tộc Ấn và những người có niềm tin vào sức mạnh của người.

    Tôi đã cảm nhận lại được cái gọi là Đạo Ấn Độ: tìm thấy cái “Chân Ngã” hay phát triển tinh thần “Thân Ái”.

    Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/2-Kinh_NhanQua-ThienAc

     

     

     

    3. Bức tượng về Apsara Vũ nữ Chăm –  Pô-sha-nư, Bình thuận 6/2009

    P1090152Người phụ nữ  trung niên đã giới thiệu tôi về nữ thần và cái nhìn của Cô về thế giới tâm linh:

    Con người có 3 thể “thế giới tồn tại trong mỗi con người” tồn tại trong chính “Thể thức hiện tại” của mỗi người:

    1. Thể xác (thế giới vật chất – nó tồn tại và phát triển được nhờ Đạo, thuyết ).

    2. Thể vía (thế giới tâm linh – nó phát triển được nhờ Thiền định).

    3. Thể trí (thế giới tinh thần – nó phát triển được nhờ có ý niệm – Phật giáo gọi là niệm phật – Tịnh độ).

    Xin hãy niệm phật theo kinh:   http://phatgiao.help24x7.net/3-Kinh_VuLanBaoHieu

     

    3. Bức tượng Phật Di Lặc – Thiền viện Trúc Lâm Đà lạt, 7/2008

    Một vị hoà thượng trước khi đưa cho tôi bức tượng đã nói cho tôi một số điều, về sau tôi có tra cứu lại và ngạc nhiên vì nó chính xác, như vậy vị này theo phái Phật giáo “mật tông” ?

    P1090159Tôi hợp cung số 7: 7 phần tinh 1 cung phần tử, 7 vị tinh cung là 7 con đường vận hạn và cũng là 7 đưc tính, nếu là theo đạo thiên chúa, tôi sẽ là tông đồ của Thánh Gio-an. Còn lại có 3 thể tôi có xu hướng kiểm soát chúng. Như vậy,Tôi là người có thiên hướng Âm nhạc và khoa học tự nhiên, có quan điểm sống “Sống thật với chính mình và không bao giờ chấp nhận sống trong sợ hãi”.

    – Vị hoà thượng đã nói cho tôi biết thêm 7 cung và tôi thuộc cung nào:

    o Cung 1: Sức mạnh ý chí, quan điểm mạnh mẽ, cương quyết.

    o Cung 2: Thích lý luận, để ý kỹ lưỡng các v/đ, lựa chọn phương pháp hữu hiệu.

    o Cung 3: Nghiên cứu kỹ lưỡng các thời khắc thuận lới nhất để thực hiện.

    o Cung 4: Chỉ tin cái độc tôn, triết lý Khoa học.

    o Cung 5: Nhậy cảm, thích hoạt động xã hội.

    o Cung 6: Tin vào lễ giáo, theo đuổi niềm tin tôn giáo.

    o Cung 7. Đức tính cẩn thận, bác ái, nghi lễ nghiêm trang đảnh lễ.

    Xin hãy niệm phật theo bài kinh:  http://phatgiao.help24x7.net/5-Kinh_Dia_Tang

     

    4. Bức tượng Phật bà – Quán thế Âm Bồ Tát – Chùa Niễu, Láng Trung, Hà nội 2/2011

    Sư Bác Yến nói cho tôi những điều tôi chưa bao giờ biết về nghiệp thức và lương duyên của tôi đối với đạo Phật:

    P1090162Ngày tôi nhận bức tượng là ngày: “Thiên văn – chiêm tinh” điều này là:

    – Nghiệp báo ở kiếp trước, tôi có Thiên ý đó là Mãnh lực của Thể trí trong tôi.

    – Bên cạnh đó, tôi có tập luyện Yoga và Khí công từ nhỏ do đó có thể dễ dàng tập Thiền định và mở luân xa tiếp nhận Vũ trụ năng lượng và lĩnh hội chúng.

    – Tiềm thức của tôi có lực và tâm thức hướng đến vấn đề tâm linh và Phật giáo chính vì vậy, không ai mách bảo tôi, tôi cũng có thể tự mình Quy y, sám 6 căn, thọ ngũ giới … như là đệ tử của Phật với tinh thần học hỏi và tu hành với ý trí tự do, nó thể hiện rõ tiềm thức kiếp trước Tôi có luân hồi Tu hành, có mầm thiện, hành vi bác ái, có nhận thức thay đổi rất rõ ràng trong sự nghiệp về sau của tôi.

    – Đường tử vi về học vấn trên bàn tay của tôi xuất hiện thêm đường thứ 3:

    o Đường 1: Con đường Công nghệ thông tin.

    o Đường 2: Con đường Công nghệ Vi sinh.

    o Đường 3: giờ mới xuất hiện con đường Phật giáo và giáo dục.

    – Đức tin “Nhân – Quả” của tôi thực sự đã có tuần hoàn vị trí theo các vì tinh tú, hoán đổi bình thường và thực sự đã ảnh hưởng đến nghiệp sau này của tôi.

    – Tôi đã thực sự có “Phát tâm bồ đề” hay chưa ? Sư bác nói: tôi hợp với Thiên Ý vậy là tôi sẽ cải số Mệnh bằng nhiều hành vi hữu ích cho đời (xã hội, gia đình). Chính nhờ đó, tôi đã có những quãng đời sau này luôn “Tin tưởng chính mình” nghĩa là không lạc quan cũng không bi quan, luôn tìm ra sự “An vui tự tại”, thêm ý trí tự do nên Tôi luôn có niềm tin “Cải số mệnh , đẩy lùi mầm ác, đánh bật cái xấu, kể cả động lực của cái xấu, đẩy lùi sự tác động ngược của vị trí luân hồi Tinh tú”, làm ẩn mầm ác”…

    – Tôi tin luật: “Nhân nào quả đó” ? đó chính là nghiệp lực tạo ra giống “Nhân” tốt/xấu nhờ có vận động theo vũ trụ, tôi cũng như mọi người vẫn tuần hoàn vũ trụ, tác động của Tinh tú hình thành lên “nghiệp quả” tốt /xấu. 

    – Tôi đã biết Cung của mình (trong 7 cung trên), biết chân lý vẫn là duy nhất đó là: niềm tin Phật giáo,

    Cung của tôi thuộc: Tin tưởng thanh cao, sự biến chuyển rõ nhất từ 1975 và thường là 25 năm cuối của một thế kỷ, từ năm 2000 trở lại đây, dần con người chúng ta không có ý thức được nguyên nhân, thế giới duy vật dần sụp đổ do tác độc kinh tế xã hội và thế giới tâm linh càng ngày càng nghiên cứu rõ ràng và xâu sắc hơn.

    Xin hãy niệm phật theo bài kinh:  http://phatgiao.help24x7.net/6-Kinh_CauSieu

     

    5. Bức tượng Hồ Chí Minh, Viện bảo tàng HCM , 8/2007, Hà nội.

    Một ông già bán đồ lưu niệm nói với tôi:

    P1090155Hiện nay đang là thể kỷ Cách mạng tâm hồn, sự tiến hoá về tâm linh rất nhanh chóng,

    Tôi cũng có ghi nhận sau: “Những tác động xấu từ thế giới vật chất ngày càng tăng như: tin vào sự hưởng thụ vật chất tầm thường, tìm niềm vui và không tin đạo, dẫn tới ngày càng đau khổ vì sự phụ thuộc vật chất, xuất hiện nhiều vấn đề huyền bí Phương đông -> ánh sáng rực rỡ làm hé lộ Khoa học nhưng vẫn bị tác động bởi nối sống thực dụng Phương tây nó làm biến mất nhiều điều đặc biệt trong Huyền bí Phương Đông -> cuối cùng thì với quá nhiều đau khổ, con người lại đi tìm tinh thần trong “Đức tin”. Thay vì tìm hiểu 4 thế giới tồn tại trong chính con người mình”.

    – Tự mình xét lấy mình, hãy dẹp bỏ cái áo đang khoác trên mình và ngày càng dày lên, cái áo “Ngã mạn”  cái tôi ích kỷ: công danh, ngã mạn, ham muốn,  hãy sống và thành thật với chính mình.

    – 1 con người phát triển cả 7 cung = 7 tính cách sẽ trở lên hoàn thiện, dĩ nhiên chúng ta đều là bất toàn, chỉ có Chúa mới là người thập toàn.

    – Ví như khi con người bị bệnh, cố chữa và khỏi bệnh , khi khỏi bệnh lại quên đi nguyên nhân bệnh hoạn, sau này bị bệnh lại thì không nhớ.

    Vậy ra, những thứ quên quên nhớ nhớ đó là do không có tâm, không phát ra từ tâm nên sẽ có kết cục luẩn quẩn như vậy.

    – Mọi thứ phải chinh phục bằng lòng thương cao cả, con đường giải thoát , nỗ lực bản thân để vượt ra khỏi tư tưởng đau khổ.

    – Những suy nghĩ ngược lại chỉ là: 

    Trốn thoát khỏi thực tại của chính con người mình khi gặp khó khăn, ước vọng nông cạn, cố gắng ảo tưởng, uống rượu để xua đuổi thực tại, ước vọng thấp hèn, sự tranh chấp nội tại, quan điểm chứa quá nhiều thành kiến, mất đi khả năng sáng tạo, nhậy cảm, rung động trước cái đẹp, chỉ còn là dục vọng thấp hèn, không có sự chiêm ngưỡng cái đẹp kiểu Chúc phúc vì người và cảnh vật đẹp mà chỉ là sưu tập chúng, muốn sở hữu chúng, trói buộc chúng.

     

    6. Bức tượng Phật Di lặc, nhà sách Minh Khai, 9/2008, HCM

    P1090160– Tôi tự nghĩ rằng: ta đang cần đạt tới tâm trạng & thâm tâm an lạc, đạt tới cái chân ngã, hạnh phúc chính là phải vượt lên trên lỗi sợ hãi, thoát ra khỏi sự đau khổ.

    Ví như vào nhà hàng muốn ăn món ngon nhưng bạn đang là tầng lớp nghèo thì phải nhìn kỹ thực đơn chọn món có giá tiền thấp, nếu không có Thực đơn đề giá thì tự động ra khỏi nhà hàng (“câu chuyện nghèo năm 1980-1998 tránh sự cố”),

    – Sau khi vươn lên được tầng lớp Trung phú thì tôi vào nhà hàng ung dung hơn, xem Thực đơn chọn món nếu không xem Thực đơn thì cũng không thể tuỳ tiện gọi món được, vẫn rất có thể bị vượt tiền có trong ví (lúc đó thì không thể có tâm trạng an lạc được).

      Xin hãy niệm phật theo bài kinh: http://phatgiao.help24x7.net/8-Kinh_VoLuongTho

     

     

    7. Bức tượng Phật tổ Như lai đang toạ thiền: Nhà sách NVC, 7/2012, Hà Nội.

    P1090163– Tôi tự nguyện cầu và phát nguyện đời đời theo chân người để làm đúng, giúp đỡ , giáo dục con người có niềm tin , đức tin đạo đức, nhận thức được Phật pháp & kiến thức yêu thương, tôn kính và bác ái.

    – Để được gì ở đời này, đời sau? đó là Ý nghĩa cuộc sống đẹp, giúp con cháu mình có giáo dục Phật giáo.

    – Tôi trợt nghĩ: vậy những đứa trẻ Ốm yếu là do không được lo đủ lòng yêu thương của Cha mẹ, chứ không chỉ là thiếu dinh dưỡng vật chất mọi người thường nghĩ.

     

    Xin hãy niệm phật theo bài kinh: http://phatgiao.help24x7.net/7-Kinh_ADiDa

     

     

    4. Bức tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Vịnh Nghiêm, Bắc Ninh, 6/2005.

    DuocSuLuuLyQuangVuongPhat– Đây là cách mà tôi hiểu, rồi tôi và những người khác đều phải chuẩn bị làm không sớm thì muộn đó là “Di chúc trước khi đi xa”.

    – Tôi viết sẵn sơ lược di chúc cho chính tôi ngay từ những tháng ngày này “tuổi nửa đời người trước khi về với cõi Phật”.

    1. Cầu nguyện và niệm phật để cho người mất thâm tâm an lành.

    2. Hoả táng để không còn luyến tiếc cái thân xác ở cõi Ta bà này.

    3. Phát nguyện trọn đời Thiên ý theo Phật.

    4. Sống muôn đời chọn vẹn giữ gìn hạnh phúc cá nhân và bao người xung quanh mình, sống chân thực mọi lúc, mọi nơi để có thể kết nối giáo dục tư tưởng giữ gìn đạo đức muôn đời.

    5. Nếu mắc bệnh hiểm nghèo thì phải rèn luyện chính mình, theo đuổi quy luật sống theo tự nhiên, phương pháp chữa bệnh hoàn toàn vứt bỏ “bệnh Tâm”, tiền tài, nhà cửa, sự vô thường ở đời, lo tu dưỡng, loại bỏ dục vọng, tham lam, sống lệch lạc mất đi cân bằng với trạng thái tự nhiên “con người phải hiểu biết chính mình, trở về với chính con người thật, làm chủ cảm giác, ăn ít, uống nước suối loại bỏ độc tố trong người, tim đập chậm lại làm thận nghỉ ngơi”.

    6. Tìm hiểu và tu hành sâu sắc Dược sư Lưu Ly Quang Vương Phật dậy trong Kinh: đó là ăn lạc, ăn vừng giúp dạ dày loại bỏ độc tố, tập yoga làm cho Vô cầu, vô niệm mọi thứ trở về tự nhiên.

    Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/4-Kinh_DuocSu

     

    10. Tượng bà Quán thế Âm Bồ tát đứng tay cầm bình nước Cam lồ, 8/2012.

    a. Ngày 24/10 tôi gặp bà nội tôi trong một buổi niệm phật, câu chuyện như sau:

    P1090164Tôi điều khiển thể vía đến nơi mộ dòng họ Lê nhà tôi ở Quảng Yên, Quảng Xương, Làng Bình Yên.

    Bà tôi bảo: “bữa trước con cầu siêu cho 2 chú và bố con rồi, giờ con cần cầu siêu cho Bà để bà siêu thoát nhé !”

    Tôi chỉ kịp có dạ vâng, nước mắt trực trào ra khoé mắt. Bỗng như có một dòng điện chập vào người, mắt tôi chỉ còn thấy 1 màn đen và 2 chấm xanh di chuyển rồi chập vào nhau, vậy là thể xác tôi đã bị 1 người nào đó nhập vào hoặc đứng gần đó chặn thể vía của tôi.

    Tôi (thể xác) vung tay vung chân như muốn xua đuổi vật gì đó, còn thể vía thì đang cố quay về với thực tại để nhập vào thể xác, tôi chỉ cảm thấy rốn mình đau nhói (nó là dấu hiệu không thể vào được).

    b. Một dọng cười khà khà, tôi đoán tầm 60 tuổi văng vẳng trong vùng tối của thể vía, tôi bất giác hoảng sợ thực sự. Tôi nghĩ rằng thể xác kia đang có ai đó (chắc chắn giỏi hơn mình nhiều mới có thể nhập vào mình và đang nói với mình bằng suy nghĩ).

    c. Tôi cố trấn tĩnh bằng cách nhẩm niệm phật tên 84 vị Bồ tát và niệm Nam Mô A Di Đà Phật vì nhớ rằng tất cả linh hồn đều biết nghe kinh phật, cho dù ít nhiều. Vậy là tâm chí tôi đổ dồn vào đọc niệm phật. Tiếng cười đó vẫn cất lên, tôi đoán người này cũng theo đạo Phật…

    d. Ngày nào, khoảng 12h đêm tôi cũng để bên tai nghe bằng Nokia các bản Kinh niệm phật, lúc này tôi cố hết sức điều khiển tay trái (tay trái lúc đó có cảm giác bồng bềnh, như bị tiêm thuốc tê, và mọi thứ cứ từ từ di chuyển có lẽ phải mất chừng 15 phút tôi mới điều khiển tay trái và bấm nút bật Play list bản: kinh Sám 6 căn cho Quy y tam bảo, thọ ngũ giới, vừa đủ tôi nghe thì tiếng cười có vẻ bé đi chút ít, tôi đoán người này cũng Quy y tam bảo rồi.

    e. Tiếng người đó trợt vọng lại bên tai tôi, tôi hiểu ra, người này cũng đang luyện tập thể vía và vô tình tìm thấy tôi, nhưng chắc chắn đẳng cấp và thời gian luyện thiền của người này hơn hẳn tôi, ông ấy có tâm linh hoạt và thể trí hơn tôi bởi đường sáng từ thể vía trở về một chân trời hướng trỏ tây bắc sáng trắng đậm, bởi tôi bao giờ cũng nằm giường khác với người bình thường “Chân Bắc đầu Nam” tôi thì “Đầu Đông ghé bước đi tây”.

    f. Một điều tâm niệm mãnh liệt vụt qua trí óc, lúc đó tôi chỉ kịp hình dung mình như đang là Tôn hành giả, một mình đang nói chuyện tâm thức với người này, còn 1 mình vụt theo đường chỉ sáng vía của người đó tới 1 ngôi làng, rồi hiện ra 1 cổng nhà ở đâu đó vùng Vân Nam hay Côn minh với kiểu nhà hình chữ U 3 tầng, cổng vào duy nhất, trên cổng đề “Pháp Tích Môn Không “. Vậy là đụng phải 1 vị Pháp sư Thiền đây.

    g. Bỗng người kia cất tiếng suy nghĩ vẻ buồn buồn, không còn cười nữa.

    Ông ta nói: “Tôi biết anh đang nghiên cứu vấn đề y học trong Phật giáo, tôi thấy anh nghe và niệm Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật trong 1 lần bị đau bụng do bị các Linh hồn đến viêng thăm”, bàn tay phải của anh để vào phía bụng bị đau khoảng 4 tiếng sau thì khỏi hẳn, anh có biết anh bị bệnh 2 hôm liền và rất nguy hiểm hay không?

    Tôi ngạc nhiên đôi chút và hiểu rằng người này hoặc người thân của ông ta đang bị bệnh gì đó liên quan tới những vấn đề chứng nan y như: Gan, dạ dày, thận mà tôi là người có quan tâm nhiều tới những bệnh đó, thậm trí tôi cũng bị một số bệnh thể nhẹ trong đó. Tôi lại có quan điểm muốn biết và chữa trị thì mình phải có tính thực hành hoặc bị chính những bệnh đó thì về sau mới thấu hiểu và quyết tâm chữa bệnh đó được. Ông ấy nghe thấy lời giải thích của tôi “

    Ông ta nói: đó là cái Tâm Ý , thiên ý và Khoa học thực tiễn trong tôi luôn đi cùng ý nghĩ của tôi.

    h. Mọi việc trở nên dễ dàng hơn, tôi vụt hiểu ra, và bấm chuyển play list Kinh Dược Sư cho bài kinh được phát ra, tôi nghe được và thế là Ông ấy nghe được, ngay lúc đó hình thể vía của Ông ấy mờ dần, tôi hiểu là bài niệm này có “Tha lực Phật” rất mạnh mẽ để Ông ấy bớt tạp niệm cũng là tôi đề phòng mình không thể kiểm soát được tình hình.

    Ông ấy nói 1 lời cuối tôi không nghe rõ nhưng cảm nhận được ý tứ như sau:

    Ông ấy hiểu tôi nói gì, Tôi khuyên hãy niệm phật Kinh Dược Sư, giảm thời gian thiền định tịnh tiến, dành thời gian lo cho sức khoẻ bệnh tật chữa bằng phương pháp tinh thần Phật giáo sẽ có cơ hội mạnh khoẻ.

     

    Lời kết:

    • Một ngày cuối tháng 10, càng ngày tôi càng giác ngộ ra được rằng “Cuộc đời cần giải thoát” mới giúp tôi tư duy rộng mở được, mọi việc đều không bị ràng buộc mới là sự hạnh phúc chân chính, vì tất cả đều tôn trọng giá trị thật của mọi sự vật.
    • Tôi cũng cảm nhận được sự may mắn trước những thế giới mà tôi đã, đang và sẽ đối mặt vì tôi đã niệm phật và quyết đi vào thế giới Tịnh độ, thanh tịnh.
    • Đáng nhẽ tôi sẽ kể câu chuyện ở mục 10. câu chuyện về lí do hoảng sợ cuối cùng cho đúng với tiêu đề thay vì giới thiệu các bức tượng sưu tầm 10 năm qua và dài dòng với lối trích dẫn, nhưng bạn đọc à tôi đã đưa vào đây lối giải thích về sợ hãi của chúng ta là do có ảo tưởng, chưa bao giờ thấy Cảnh giới mà mình sẽ đến, nên thường là sợ hãi, suy nghĩ tạp niệm. Nay tôi nhờ có Quán tưởng, nhất tâm niệm phật hàng ngày, niệm phật để có Tha lực phật, nhớ có xác định cảnh giới, nhờ có ghi nhận nhiều kết quả tu tập Tôi mới giám vượt qua các Cảnh giới, loại bỏ nhiều tạp niệm đã qua.
    • Tôi luôn có khái niệm “Cận tử nghiệp” nên rất hiểu người có trí tuệ nói câu: “Bạn hãy sống từng ngày như là ngày cuối cùng của cuộc đời” do đó mọi thứ  trong tôi luôn An Lạc, Thanh tịnh, Đề huề Giáo lý của phật tạo đủ phẩm hạnh, chứa chan yêu thương, Thần thức luôn chiếu sáng nhờ niệm Phật để về với cõi Phật.

    Con đường cuộc đời của tôi đúng là đã thay đổi !

    Xin hãy nghe cuốn sách mà tôi đã chọn làm kim chỉ nam giúp tôi đi đúng con đường tiếp theo:  http://phatgiao.help24x7.net/0-Vuotluanhoi_vaotinhdo 

    Phat_nhulai

    Tôi thệ nguyện đời này:

    – Sẽ làm mọi phương tiện, phương pháp để giúp mọi người phát Bồ đề tâm và thành Phật.

    – Sẽ truyền giáo lý, giúp mọi người mở tâm trí huệ, tu hành nhận thức và giác ngộ Phật tính trong chính con người họ.

    – Giúp nhiều người đắc đạo, có cõi tâm thanh tịnh, Thuận duyên để tâm Tịnh độ.

    – Giúp thâm tâm An lạc, giàu có cơ hội tạo nghiệp hạnh, thực hành cứu độ chúng sinh, tạo phúc đức cho con cháu sau này.

    – Cơ hội Niệm phật để lắng nghe lời Phật dậy, có Tha lực Phật để nhẹ nhàng trước khi nhập Niết bàn.

    Phat_A-di-da_NhapNietban

    Tham khảo các Kinh sách Audio mà tôi đã sưu tầm và học hỏi thực hành hàng ngày:

    http://phatgiao.help24x7.net/0-Vuotluanhoi_vaotinhdo 
    http://phatgiao.help24x7.net/1-QuiY_TamBao-ThoNguGioi
    http://phatgiao.help24x7.net/2-Kinh_NhanQua-ThienAc
    http://phatgiao.help24x7.net/3-Kinh_VuLanBaoHieu
    http://phatgiao.help24x7.net/4-Kinh_DuocSu
    http://phatgiao.help24x7.net/5-Kinh_Dia_Tang
    http://phatgiao.help24x7.net/6-Kinh_CauSieu
    http://phatgiao.help24x7.net/7-Kinh_ADiDa
    http://phatgiao.help24x7.net/8-Kinh_VoLuongTho

    Ai cũng thuộc thế giới ham vui sợ khổ não, lão khổ, tôi thì đã từ bỏ nó bằng tâm cảm nhờ Phật giáo dậy, hướng tới sự thanh tịnh của tâm, tôi biết chặng đường tới còn nhiều khó khăn, nhưng luôn có kế hoạch, tìm tòi và tiếp thu giáo dục của Phật.

    Bộ kinh tiếp theo tôi phải tìm và niệm phật: Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Pháp Hoa và Kinh Phổ Môn hồi 25, Kinh Bát Nhã Ba-la-mật-đa.

    Nam Mô A-Di-Đà Phật !

    Hồi ký tháng 9: Niềm tin đã có cơ sở, tôi cảm nhận được nhân duyên từ nhiều kiếp trước, lập hạnh nguyện để có đủ hành trang đi tiếp


    1. Tôi đã có dịp đọc và nghiền ngẫm những tháng năm qua:

    “Hành trang của hành giả niệm phật”. Chợt giật mình như tỉnh cơn mê bỏ lại hết những bâng khuâng tháng ngày qua:

    Không nhẽ gần 40 năm qua, tôi đã cố gắng học hành cho bằng chúng bạn, trong khoa học, sinh học, hoá học, công nghệ điện tử máy tính, phần mềm, giải pháp … nó có nhiều điều vô lý thế sao ?

    Không nhẽ nhận thức về khoa học, giáo dục mà xã hội ngày nay đã và đang dậy tôi, tôi cố gắng theo đuổi, lĩnh hội lại thấy nó nhiều viển vông, mơ hồ và kém thực tế vậy sao ?

    2. Nhân ngày lễ chùa Tâm Giác Đà Nẵng.

    3. Nhân dịp tìm được cuốn sách “Vượt luân hồi vào Tịnh độ”

    – Khai sáng cho tôi con đường đi để thông giữa những tư tưởng khoa học – y học – Công nghệ – Kinh tế và Đời sống với những môn phái từ nhỏ tôi đã được luyện tập như Yoga – Thiền định – Khí công với Giáo dục Phật giáo.

    Tôi xin trích  dẫn đoạn mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất trong cuốn: “Vượt Luân hồi vào Tịnh độ”:

    Người tỉnh thức như thấy trước mắt ánh sáng vàng tươi nhuận, quyện tỏa bao trùm muôn vật, biến tất cả chung quanh lấp lánh lung linh một màu vàng kim dễ chịu, tựa như tia nắng buổi bình minh.

    Pháp tu, niệm danh hiệu Phật, không chỉ ước nguyện xây dựng một thế giới tương lai cho chính cá nhân hành giả, mà còn nhân duyên xây dựng một nguyện lực độ sanh như Ðức Giáo chủ Phật A Di Ðà.

    Có phải Thế giới Cực Lạc hiện hữu từ nguyện lực đại bi của Ngài! Vâng chính vậy, thì người nguyện sanh về Cực Lạc đã mặc nhiên thiết lập cho mình không khác Ngài vậy. Người đã vãng sanh tất nhiên không thoái chuyển tâm giải thoát, và do tâm bồ đề không thoái chuyển, lại đành bỏ mặc nơi mình đã từng đau khổ với muôn vàn chúng sanh !

    Thật ra tất cả đều do tâm tạo; tâm tạo Ta Bà, tâm tạo Tịnh Ðộ; diệu dụng của Tâm thật khó nghĩ bàn. Thế giới Ta Bà là khổ, nhưng cũng có người vui sướng, thế giới Ta Bà là đau thương thù hận, nhưng ở đó đã xuất hiện biết bao vị Thánh nhân mà cõi trời phải mơ ước được gặp. Nhưng vì một ít Thánh nhân ví như đất dính vào tay của Phật Thích Ca, nên không thể nào tỉnh thức được tâm phiền trược của chúng sanh ví như đất đại địa. Thậm chí đến cả Ðức Phật là viên ngọc vàng, rực rỡ chiếu rọi khắp mười phương thế giới, còn chưa thể chan hòa rọi hết lượng số của chúng sanh đang phiền trược khổ đau (Phật có thể độ vô số chúng sanh chớ không thể độ hết chúng sanh).

    Vậy thì tâm diệu dụng giải thoát, nhưng vẫn nằm sâu vào tiềm thức (A Lại Da) chân như, và nó phải được khơi dậy, phải được lay động mới trở về bản tánh chân như của nó, nghĩa là nó mới diệu dụng được sự tỉnh thức giác ngộ mà quay về Phật tánh, thành Phật không khác.

    Bậc Giác ngộ rõ biết tâm diệu dụng nên quyết thị hiện vào cõi Ta Bà nơi đau khổ mà không ngại chướng duyên, để làm công việc khơi dậy tánh giác cho chúng sanh.

    Thị hiện vào Ta Bà, như đi vào cõi mê tình, vọng thức điên đảo để làm sáng ra ánh sáng chân như, chân thức – và chúng ta thực hành niệm Phật là chuyển di tâm thức vào một thế giới thanh tịnh trang nghiêm, không khác gì ánh sáng chân thức, chân như Niết Bàn. Cho nên dù diệu tâm vô hình không chướng ngại nhưng, nếu ta không nhờ vào lời dạy của Phật Thích Ca và nguyện lực của Phật A Di Ðà ta vẫn mãi sống nơi mê tình của vọng thức dù ở thế giới này hay bất cứ nơi đâu. Do đó nên hiểu, thế giới thô phù ô nhiễm ở đây là do vọng thức điên đảo biến hiện ra mà thôi. Thế thì cầu sanh vào thế giới thanh tịnh là việc cụ thể, cho dù thế giới đó cũng là do diệu tâm sinh ra; nhưng đây là một việc tối quan trọng, vì nơi đó ta khám phá ra được diệu tâm của ta giống như diệu tâm của Phật Di Ðà không khác.

    Như không tin, ta thử tìm diệu tâm A Di Ðà nơi đây có được không? Nếu có, thì kính xin chúc mừng hành giả đó, vì hành giả đã thành Phật tại đây! Nhưng xin thưa, vì hiện còn giáo Pháp Phật Thích Ca thì ta không thể nào thành Phật tại đây. Vậy ta chỉ thành Bồ Tát mà thôi. Nhưng lại xin thưa, Bồ Tát nơi đâu cũng phải cầu mong gần gũi đấng Ðại giác (Phật), để tiếp tục học hỏi mà thành Phật như tất cả bằng chứng trong các kinh, thời kinh nào cũng có vô số Bồ Tát tham dự. Vậy niệm Phật ở đây để thành Bồ Tát, sao không cầu niệm Phật sanh về Cực Lạc cũng là Bồ Tát, nhưng gần đấng Ðại Giác A Di Ðà có sướng hơn không!

    Bây giờ người tỉnh thức đã an tâm vững chải, ổn thỏa nghi vấn cõi lòng, nên bắt đầu thiết lập hành trang cho việc Niệm Phật.

    Có ba hành trang mà người tỉnh thức phải mang theo, cho đến khi về nơi Liên cảnh.

    Thứ nhứt là Tín, thứ nhì là Nguyện và thứ ba là Hành

    Hành trang thứ nhứt

    Tín là niềm tin, tin vào một sự việc, sự kiện, vấn đề, là thật hay giả. Tín không đủ tiềm lực mạnh mẽ, tất việc làm không thể thành tựu như ý.

    Người tỉnh thức đến đây, đã có đủ niềm tin. Không phải chỉ tin cõi Phật A Di Ðà là thật, người tỉnh thức còn tin: vũ trụ có hằng hà sa số cõi Phật ở mười phương đang hiện hữu và, đang diễn ra những diệu âm giải thoát, những diệu cảnh huy hoàng, những chân thức tuyệt đối, những chân như vô ngại và lìa khỏi ngôn ngữ diễn bày của chúng sanh.!

    Ðiều cơ bản niềm tin đó sẽ không thay đổi cho đến khi hành giả niệm Phật sanh về cõi Phật, và chắc chắn khi sanh về đó, hành giả lại có niềm tin mãnh liệt hơn nữa! Vì sao ! Vì hành giả sẽ phát tâm vân du cúng dường chư Phật ở mười phương.

    Bên cạnh niềm tin mãnh liệt tuyệt đối như vậy, người tỉnh thức lại giựt mình khi tin rằng vô số thế giới đang đau khổ cũng đã hiễn bày ra đó. Vì có thế giới tịnh ắt có thế giới ô nhiễm; có thế giới vui như Cực Lạc, hẳn có thế giới phiền hà đau khổ như sáu cõi luân hồi.

    Ngay thế giới Ta Bà này, kẻ tỉnh thức phải hốt hoảng, khi mục kích những loài thú vật sống trong sự đe dọa đầy đọa của loài người, lại còn bị đe dọa với thiên nhiên vũ trụ. Ðau khổ nầy ập lên đau khổ khác. Chúng chẳng thể nào biết được, thế giới chúng đang ở, còn có thế giới loài người, là loài thông minh, hạnh phúc hơn chúng gấp triệu lần; nói cả triệu lần hạnh phúc, là ý nghĩa con người có cơ hội vươn lên những thế giới còn đẹp hơn vô số lần cõi Ta Bà nầy.

    Dù với cặp mắt chúng, vẫn thấy loài sinh vật hai chân lạ lùng đang sai khiến mình, nhưng cái thấy vô trí (ví con số thông minh hết sức hạn hẹp) của loài súc sanh, chỉ biết giới hạn qua hiện tượng hình ảnh cử động mà thôi. Ôi thật tội nghiệp!

    Nhìn chung lại, không một con vật nào mà không khổ trong cõi phiền trược nầy; dù là con vật nuôi trong nhà được cưng chìu hay được tự do bay, lội, chạy, nhảy giữa thiên nhiên. Nhưng có lẽ và chắc chắn, khổ đau nhất là chúng không thể nào biết được Phật pháp!

    Nếu duyên lành nào, được chủ nuôi là người thực hành Phật pháp, rồi bố thí kinh cho chúng nghe thì con vật này quả là đại phước. Chúng sẽ kết được duyên đời sau; mặc dầu không hiểu lời kinh, nhưng do linh diệu, thần lực nhiệm mầu của kinh sẽ giúp chúng ghi nhận được. Tuy nhiên số con vật được như vậy, giống như một giọt nước nhiễu trên ngón tay so với nước đại dương.

    Riêng con người, cảnh khổ hiện ra cũng lắm đau buồn, khiếp hãi !

    Nỗi đau khổ về thân bệnh day dưa, khổ vì tật nguyền bất lực, khổ vì nghèo đói cơ hàn, khổ vì địa vị thấp kém, khổ vì thất học dại khờ, khổ vì tình cảm yêu thương, khổ vì tình thù dằn vặt, khổ vì ý nguyện bất thành và còn rất nhiều nữa. Những đau khổ nầy thuộc cả hai, thể chất và tinh thần. Ðây là cụ thể hiển hiện mà người tỉnh thức trực diện trải qua, chớ không phải nghe ai kể lại [1]

    Như thế, cảnh giới Ta Bà này đâu cần đức Phật Thích Ca buộc chúng ta phải tin là khổ! Sự thật hiển nhiên này rõ ràng hiện chân ra đó! Tuy thế rõ biết nguyên nhân và tận nguồn gốc khổ chỉ có Phật mới rõ, nên dạy cho ta. Phật dạy rõ khổ phát xuất từ Tham, Sân Si, và cảnh giới ô nhiễm như vậy cũng từ duyên khởi của ba độc này.

    Con người (chánh báo) thế nào hoàn cảnh (y báo) thế đó. Vì do một cộng nghiệp vọng thức Tham, Sân, Si khổng lồ nên kết thành một thế giới to lớn đủ chứa vô số những vọng tình ô nhiễm, rồi hình thành một thế giới dục (dục giới), là thế giới Ta Bà chúng ta đây.

    Có thể nói bất cứ chúng sanh nào (trừ chúng sanh đã và đang chứng đạo giải thoát), mang hình thù chi, hễ ngụ ở Ta Bà là vọng tình ô nhiễm. Nhưng hỏi tại sao phải đủ loại hình chúng sanh?

    Là vì nghiệp thức điên đảo, vì phiền não vô minh nên tạo tác vô số NGHIỆP, để quả báo hiện thành vô số hình tướng. Ðó là chân lý, là cảnh tượng sự thật trước mắt, mà ta vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng.

    Thế thì sự thật nơi đây, thế giới này ta đã tin trăm phần trăm lời Phật dạy, thì cảnh giới Cực Lạc cũng do Phật nói ta lại há không tin!

    Nếu Phật không xuất hiện, cái khổ Ta Bà nầy ta phải mù mờ chịu đau khổ mãi, mà chẳng bao giờ biết khổ là do đâu! Và dù biết khổ chăng nữa, ta chắc chắn cho rằng chỉ có loài người khổ, chứ không biết còn vô số chúng sanh khác còn khổ hơn ta – từ đó là nguyên nhân nghiệp sát chất chồng, để kết quả không bao giờ thoát lên cảnh giới tươi sáng huy hoàng được.

    Ngày nay con người đang sống vào thời đại có thể nói hoàng kim của văn minh điện tử, thì việc củng cố niềm tin thế giới Cực Lạc lại dễ dàng hơn! Ðây há không phải đại duyên biết được pháp tu niệm Phật ở thời đại này!

    Phải nói rằng dù thời tượng pháp nhiều người niệm Phật vững vàng được vãng sanh, nhưng niềm tin của họ chỉ đơn thuần tin Phật, mà khó giải thích Thế giới Cực Lạc bằng kiến thức văn minh thời đó. Do thế chỉ lấy sự tu hành làm chứng có thế giới Cực Lạc (tức là vãng sanh), riêng về phần lý giải khó được người tin. Với hiện nay, vừa lấy sự niệm Phật vãng sanh làm chứng, vừa lấy kiến thức xã hội con người ngày nay làm chứng.

    Minh chứng kiến thức ngày nay là ngành thiên văn học.

    Ngày nay nhìn lên bầu trời con người đã không thấy xa lạ như con người cách đây một ngàn năm; ngày nay con người có thể phóng phi thuyền lơ lững ở ngoài trái đất cả tháng trời để thám hiểm nhìn ngắm không gian vũ trụ; và ngày nay dưới mắt các nhà khoa học thiên văn, họ xem mặt trăng cũng chẳng khác gì một tỉnh lỵ ở không gian, có thể dụ lịch thường xuyên chẳng trở ngại gì. Sự kiện được như vậy là do con người đã lên thăm mặt trăng từ hơn ba thập niên qua ;[2] và so với kỷ thuật không gian ngày nay thì thời điểm đánh dấu vàng son đó chỉ là một chuyến đò nhỏ vượt qua con sông thật ngắn.

    Ngày xưa con người cứ tưởng chỉ có thế giới này (trái đất) số một, còn lại tất cả chỉ là những hộ tinh (hành tinh phụ quay quanh theo) quay chung quanh; kể cả mặt trời cũng chẳng làm được gì!

    Nhưng rồi chẳng bao lâu các Thiên văn gia khám phá ra sự thật, thế giới chúng ta chỉ là một trong nhiều thế giới giữa vũ trụ mênh mông nầy. Thiên văn gia nói là nhiều chớ không nói vô số, vì có thể xấp xỉ đếm được, đó là đầu thế kỷ 19 với viễn vọng kính (telescope) tương đối kỹ thuật cao.

    Bây giờ thì không còn đếm được nữa, khi viễn vọng kính hiện đại càng phóng xa bao nhiêu, thế giới muôn hình hiện ra càng nhiều chừng nấy. Ấy vậy khoa học vẫn nói là hàng tỉ; hàng tỉ cũng có thể mường tượng là trăm ngàn tỉ cũng quá nhiều, tuy nhiên với Phật dạy, phải dùng đến “hằng hà sa số”. Hằng hà sa số là biểu tượng đến cát sông hằng (Hằng tên sông, hà nghĩa là sông), vậy nhiều như cát sông Hằng, thế thì đếm làm sao được! Nên gọi bất khả thuyết !

    Ðó là lời Phật dạy từ xưa (cách đây hơn 2600 năm), và thiên văn học ngày nay mới biết, hay biết sớm nhất, cũng khoảng đầu thế kỷ 19 (đầu thế kỷ 19 mới tạm đủ phương tiện nghiên cứu).

    Ngành Thiên văn cho biết, chỉ trong dãy ngân hà Milk Way thôi, đã có đến hàng trăm tỉ ngôi sao mặt trời, và “mười tỉ hành tinh giống như hành tinh của thái dương hệ [3]“. Trái đất chúng ta thuộc thái dương hệ nằm trong Ngân hà này. Nhưng Khoa học lại cho biết, vũ trụ có vô số ngân hà với những dạng hình khác nhau như: hình bánh xe, hình con bướm, hình nước xoáy, hình thai tạng, hình đám mây, hình bông hoa, hình chim phượng, hình con cua v.v… và cứ mỗi ngân hà (Galaxy) lại lớn nhỏ không đồng; có ngân hà đây lớn gấp trăm lần ngân hà kia, và mỗi cái lớn nhỏ đều chứa ít nhất ngàn triệu hay trăm tỉ ngôi sao .

    Một điều tất nhiên, các ngân hà, thiên hà lớn như vậy chúng phải cách nhau một khoảng cách cũng khá xa!!

    Nói đến khoảng cách thật khó mường tượng nổi, bởi chúng ta chỉ quen đo lường trên bề mặt hay bề cao của một vật trong giới hạn tương đối, đằng này là không gian, lại vượt khỏi hành tinh mình đang sống! Tuy nhiên, văn minh khoa học thiên văn đã tính được phần nào, và tất nhiên cũng có giới hạn.

    Từ trái đất chúng ta đến mặt trăng Khoa học tính được khoảng 384.400 cây số (kilometre), đây thì quá gần rồi ! Từ mặt trời đến trái đất khoảng cách tương đối là 93,000,000 dặm (mile) tương đương 150 triệu cây số, và sức khoa học vẫn cho là gần. Nhưng từ Thái dương hệ nầy đến thái dương hệ khác khoa học tính bằng quang niên (danh từ Ðơn vị thiên văn – Astronomical Unit) tức theo ánh sáng đi một năm. Một quang niên [4] bằng 5.88 tỉ dặm.

    Chẳng hạn Thiên hà hình sông M81 cách xa trái đất 10 quang niên; đó là đại khái thấy từ ngân hà nầy đến ngân hà kia là xa như vậy. Nhưng vũ trụ lại có vô số ngân hà chưa biết được, vậy vũ trụ sẽ lớn chừng nào ?

    Thế thì điều ta tin, chỉ có trái đất chúng ta là có chúng sanh còn vô số hằng hà sa thế giới khác không thể nghĩ bàn, thì sao !!

    Ta sẽ như đứa bé mẫu giáo cầm trên tay cuốn sách đại học !

    Vậy kết lại, những gì Phật dạy đã vượt xa khoa học; tuy nhiên, cũng nhờ khoa học nhất là ngành

    Thiên văn đã chứng minh được một sự thật, có vô số thế giới trong vũ trụ mênh mông – và thế giới Phật A Di Ðà cũng chẳng còn gì lạ, trong khi vũ trụ có hằng xa số cõi Phật.

    Thật không thể tả được nỗi mừng khi Phật Thích Ca dạy niệm Phật nhất định sẽ sanh về thế giới Cực Lạc.

    Xác định hiện hữu thế giới Cực Lạc chuẩn bị hành trang làm niềm tin tìm về, ta mới có vài quan sát nhận định trên; nhưng để có một khái niệm về thế giới thật nhỏ ta cũng cần nêu ra để thấy rằng với trí huệ của Phật, không một thế giới nào ra ngoài huệ nhãn của Ngài. Ðiều này lại giúp ta vững vàng thêm niềm tin Cực Lạc.

    Ðúng như vậy, nếu ta cho Phật chỉ nói những gì cao xa khó thấy, thì khi Phật nói những gì gần gũi bên cạnh ta, và ngay cả trước mắt hay trong người chúng ta, ta cũng chẳng thấy nốt!

    Phật nói về vi trùng, là những chúng sanh thật nhỏ, nhỏ đến nổi mắt thường không thấy được, phải nhờ đến kính hiển vi (microscope).

    Phật nói thế nào! Phật dạy, hãy nên chú nguyện mỗi khi uống nước, phải ý thức mỗi khi di động, tránh vô tình sát hại chúng sanh. Duyên cớ đó mà một lần vài tháng trong mỗi năm, Ngài dạy đại chúng đệ tử nên lưu lại trú xứ, giảm chế việc di chuyển khất thực, hoặc Phật sự bên ngoài vì thời tiết côn trùng sinh nở. Ðó là truyền thống định kỳ an cư kiết hạ Phật chế ra.

    Ly nước sạch trong có thể uống được mà Phật còn thấy vô số vi trùng, thử hỏi sau trận mưa dầm, đất cát sền sệch ứ đọng móc meo thì đừng nói chi vi trùng, vô số sinh vật lớn hơn vi trùng cũng đã tràn ngập; vậy dưới huệ nhãn từ bi của Ngài đành nào dẫm đạp, khi chứng kiến quá rõ ràng vô số chúng sinh đang đau khổ !

    Ðó là thế giới hữu tình cực nhỏ. Ðến thế giới vô tình, thuộc vật chất cực nhỏ, lại càng cho thấy huệ nhãn của Phật không chỗ nào giấu che được.

    Trong giáo lý giải thoát, chúng ta hẳn biết mọi vật đều do nhân duyên sinh. Nói về vật chất, tất cả do vô số nguyên tử kết thành. Tùy vào duyên ra sao vật chất đó sẽ tồn tại tương xứng. Nhìn cái bát bằng sành, cái ly bằng thủy tinh sẽ biết tuổi thọ quá ít oi so với cái chuông đồng hay thanh sắt. Tuy nhiên, những nguyên tử cấu tạo nên những vật nào, đều có thời gian hữu hạn của nó, thành ra sau thời gian ngắn hoặc dài, chúng cũng phải ra đi để kết vào duyên khác, tức đồng phải rỉ, và sắt cũng sét tiêu.

    Những nguyên tử nhỏ như vậy, khoa học phải nhờ phương tiện kỹ thuật hiện đại phân tích chứng minh và điều đó được thấy qua năng dụng của nó; lại khi tiến đến cực nhỏ, nhỏ hơn nguyên tử nhiều nữa, bây giờ nó có tên khác; nhưng dù đặt tên chi, cũng không làm khoa học ngỡ ngàng cho bằng, mức độ càng quá nhỏ đó, không biết chúng có thật hay không ! Vì độ nhỏ của chúng đến mức khó thể quan sát tin được! [5]

    Thế thì tại ta không thấy được, chớ nào đâu không có!

    Vật nhỏ thì thuật ngữ của kinh đã nhắc qua gọi là vi trần, cực vi trần… Và nhỏ đến nổi, mà ta há chẳng nghe “Sắc bất dị không”,(sắc chẳng khác không) tức hình sắc kia nào đâu phải thật, chúng chỉ do vô số cực vi nguyên tử kết thành, và tự mỗi nguyên tử đó cũng phải bị hư hoại, thế cái Có như vậy đâu khác gì Không (không thật có)!

    Tóm lại, đó là những chướng ngại của những người chưa chứng đạo như chúng ta, nên cái thấy từ xa đến gần đều chẳng hoàn bị, và sẽ không bao giờ hoàn bị, trừ khi ta được huệ nhãn như Phật.

    Niềm tin về thế giới Nhiễm, Tịnh đã có căn cứ, đến đây niềm tin có được sanh về thế giới Tịnh (Cực Lạc) hay không!

    Qua những điều dẫn chứng, sự thấy biết của đấng giác ngộ, so với hiểu biết con người phàm phu; chúng ta thấy rằng, xưa hay nay nếu chưa chứng đạo vẫn là cái thấy phiến diện, cái biết nhị biên [6], do thế cái thấy của người chưa chứng đạo thật là mù mờ, hạn hẹp.

    Tuy nhiên con người ngày nay, dù không duyên thấy đấng giác ngộ, hay gần chư Thánh Tăng, nhưng lòng tin Phật pháp và sự kiểm chứng theo nền văn minh tiến bộ của loài người, khiến ta không những thoái tâm bồ đề mà còn xác định lập trường giải thoát của giáo lý Phật đà vững chãi hơn.

    Kết lại mà nói, thế giới Tịnh và thế giới ô nhiễm thật sự đã hiện hữu.

    Phật và hàng Bồ Tát là nhân chứng thế giới Thanh tịnh, và chúng ta những người còn ô nhiễm phiền não là chứng nhân của thế giới uế tịnh này.

    Nhưng Chư Phật, Bồ Tát là quả của nhân tu chứng từ chúng sanh; thế thì thế giới Thanh Tịnh, tức thế giới Phật chỉ là thế giới tương lai cho chúng sanh sinh về mà thôi. Vậy còn gì phải thắc mắc có được sanh về hay không!

    Huống chi chính kim ngôn của đấng Ðại Giác xác nhận cho ta điều này. Quả là Phật đại từ đại bi, việc hiển nhiên như thế mà Ngài vẫn thương chúng sanh mà nhắc nhở.

    Hành trang thứ hai

    Nguyện là khắc ghi vào tâm một tư duy, một ý tưởng, một hoài bão, một ước ao…để rồi tha thiết chân thành, cảm kích trọn đời sự việc đeo đuổi đó.

    Cuộc đời thật rối ren, phức tạp, con người phải vất vả đương đầu vượt qua, tuy nhiên mỗi người trong mỗi hoàn cảnh đều thao thức ưu tư nuôi dưỡng ý niệm lẽ sống cho mình; chính nhờ như thế tạo nên thế giới biệt lập cho riêng mình (thế giới riêng) mà ung đúc nuôi dưỡng lẽ sống năng động hơn.

    Từ đây, có một số người thao thức chung một ý tưởng, một tư duy, hóa thành dòng sống nhịp nhàng đồng điệu làm đẹp cho đời. Ðó là sự hình thành các tổ chức, hội đoàn, đoàn thể chuyên môn về một chức năng phục vụ đời sống, cho đến vấn đề tinh tế như triết lý, siêu hình qua hình thức gọi là tôn giáo đạo giáo vậy.

    Lẽ đó khách quan mà nhìn, tác dụng của ý tưởng, tư duy có một sức mạnh ảnh hưởng đến nhân sinh vũ trụ. Và tất nhiên nhân sinh và vũ trụ quan của một số người nào đó sẽ trở thành tốt hay xấu đều do nhận thức hiểu biết riêng của một số người.

    Hành giả tu niệm pháp môn nào, tất phải tha thiết pháp môn đó; tha thiết bằng lời hay hành động, tùy theo sở năng của mình. Sự tha thiết bằng lời, khiến hành giả ca tụng tán dương, nhưng ca tụng tán dương là để phô diễn điều ưa thích hướng đến bên ngoài, và điều mà hành giả phải ca tụng tự trong sâu thẩm của tâm hồn đó là NGUYỆN vậy.

    Hẳn nhiên có phô diễn được bên ngoài cũng do bên trong, nhưng ở đây chưa thể gọi là nguyện. Vì nguyện thường tự đeo đuổi mãi trong lòng, cho dù sự nguyện đó có được phô diễn hay không phô diễn, tâm nguyện vẫn không chấm dứt, không ngừng nghỉ, thành ra nó phải là sâu nhiệm.

    Nguyện chân thành tha thiết, là hòa nhịp vào hết cả thân tâm, không phải bị một chướng ngại gì làm rung chuyển. Có nghĩa, thân trong tình huống hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ lời nguyện, không làm sai trái phản lại.

    Tất nhiên thân giữ được lời nguyện là do tâm. Nhưng nên cẫn thận vì cũng dễ thấy; nhiều khi Tâm vẫn giữ nguyện mà thân chẳng làm! Do vậy công phu giảm sút đạo lực yếu dần.

    Tại sao Tâm có nguyện mà thân chẳng thể hiện! Vì không tha thiết. Không tha thiết nên chỉ có nguyện bằng âm thanh nơi khí quản, nên không khác âm thanh đối thoại hằng ngày! Dù vẫn có tác dụng tạo ra công đức, nhưng không đủ lực thu kết lại con đường đi tới mau hơn. Do đó người ta thường châm biếm là nói suông chẳng làm; ở đây là nguyện rỗng chẳng có cảm ứng!

    Nguyện có tha thiết chân thành, hành động sẽ dần dần biến đổi từ thô đến tế, từ ngoài vào trong, và từ tác động nhẹ nhàng nhưng nghiệp dụng thật vững bền kiên cố.

    Niệm Phật hòa vào được sự gia trì của Phật lực là do Nguyện tha thiết này. Nhưng Phật lực là gì, là Niệm Phật trong nguyện lực vậy. Niệm Phật trong nguyện lực tha thiết là tự tánh Di Ðà hiển lộ, là phát được tánh chân thiện, tánh giác ngộ, tánh từ bi tỏa ra chiếu đến khắp nơi.

    Những tánh chân thiện như vậy là tánh huệ là tánh Chân Như, tánh Niết Bàn hay nói thẳng đó là tánh Phật.

    Tánh huệ đó tạo nên dòng sáng, hòa vào từ quang (dòng sáng hào quang) của đức Phật Di Ðà, và ảnh Ngài xuất hiện. Hành giả sẽ thấy Ngài qua hai ảnh lực một là tự tánh của hành giả chiêu cảm ra, vì tánh huệ của hành giả ứng hợp với tánh Phật; hai là kim tướng của đức Di Ðà tỏa hiện từ những hào quang vô lượng phóng khắp mười phương.

    Ðến đây đã tạm đầy đủ, và hẳn nhiên hành giả đã biết mình phải nguyện thế nào, nguyện ra sao.

    Hành giả niệm Phật, duy nhất chỉ nguyện sanh về Cực Lạc, điều này không thể sai khác.

    Lại nguyện khi chứng đạo giải thoát nơi Cực Lạc, liền quay lại cõi trược phiền để độ chúng sanh. Phải cần nguyện độ chúng sanh tâm hành giả mới thuần với tâm Phật, và mới mong được sanh Cực Lạc chóng được thành chánh giác.

    Hành giả lại nhớ nguyện, là kể từ đây cho đến ngày rời bỏ xác thân ngũ uẩn này, mọi công đức gì, hành giả chỉ cầu hồi hướng sanh về Cực Lạc mà thôi.

    Hành giả cũng nguyện cho tất cả chúng sanh đủ nhân duyên gặp được pháp môn Niệm Phật để tương lai sanh về Cực Lạc.

    Ðó là một vài điểm phát khởi Nguyện lực cầu sanh Cực Lạc trong hành trang thứ hai vậy.

    Hành trang thứ ba

    Hành trang cuối cùng này, là những gì thành tựu của hai hành trang trên, giống như vật dụng, lương thực, đã đủ đầy trong ba lô, người du mục chỉ còn mang lên vai tiến bước.

    Kẻ du mục không thể ra đi khi trên ba lô chẳng có món gì; lại không thể đến nơi nếu ba lô chưa đủ đầy phương tiện cần thiết. Như thế người du mục khôn ngoan, không những rõ biết trong ba lô chứa đựng món gì, mà còn biết rõ hành trang như thế sẽ mất bao ngày tới đích. Có như vậy sự lên đường mới được phấn khởi và ngày tới điểm sẽ huy hoàng.

    Tuy nhiên hành trang thứ ba này xem ra vô cùng quan trọng, vì dù hai hành trang đầu (tín, nguyện) có đầy đủ, hay dư thừa chăng nữa cũng thành vô dụng. nếu đôi chân của hành giả hãy còn nằm yên một chỗ.

    Hành giả phải đứng lên bước tới, hãy vững mạnh mà đi. Nếu hành giả không thể đi được! Vì sao? Vì hành giả chưa đủ niềm tin, chưa có lập nguyện. Chỉ có vậy thôi, ngoài ra không gì cả. Nhưng nếu hành giả đã tin rồi, đã có lập nguyện, sao lại không đi !

    Ðó là phần còn lại, quyết định cho người niệm Phật đi về thế giới Cực Lạc vững vàng.

    Có lẽ, chúng ta đã biết niệm Phật không phải chỉ mới trong đời nay, mà đã từng trong quá khứ, nhưng vì những bước niệm Phật của ta ngập ngừng do dự, nên đã chẳng đến nơi, thành ra đời này sanh ra còn duyên niệm Phật, nhưng lại bước đi quá khập khễnh.

    Cũng không ít người thật có tin, thật có nguyện, và còn nguyện tha thiết nữa kìa, tuy thế vẫn hãy uể oải bước đi! Nói như thế, không phải mâu thuẩn với hành trang thứ hai (nguyện), mà nói như thế để chúng ta biết động lực vô hình của vô minh, sinh từ ái dục quá mạnh khiến người niệm Phật dù đủ hành trang trên vai mà vẫn ngoái đầu tiếc thương, tiếc rẽ cuộc đời!

    Tiếc thương gì? Luyến lưu chi?

    Ta dư hiểu điều này, đó là bao việc quay bủa chung quanh đời sống. Ðó là năm món ham muốn: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thùy) – chúng đã trì trệ bước chân của ta từ vô thỉ đến nay.

    Công phu niệm Phật chỉ được nhất tâm tinh tấn, là khi ta trực nhận sự giả dối vô thường của chúng, tức ý thức, xem chúng là việc chẳng cần phải quan tâm; lại xem chúng là chân lý vô thường trong dòng pháp giải thoát.

    Hiểu rõ năm món ham muốn như vậy, người niệm Phật mới đi vào sâu thẩm tự tâm, sáng suốt phát ra danh hiệu Phật. Ðây chính là phương pháp nhận ra vọng tưởng và xem nhẹ vọng tưởng. Xin thưa rằng tại sao chúng ta lại xem nhẹ vọng tưởng mà không nói là diệt vọng tưởng!

    Thật tình để nói, diệt vọng tưởng là việc vô cùng khó khăn, điều này chắc chắn ai cũng đồng ý; với căn cơ của người thời nay sống trong hoàn cảnh không Phật, xa Thánh Tăng, cái khó chỉ có tăng không giảm!. Trong khi biết rằng tâm chúng sanh lại vô thường, làm sao diệt hết vọng tưởng! Không thể diệt được trong một ngày, mà chắc chắn một giờ cũng không được.

    Nhưng vẫn có người diệt được; sự diệt được này phải đòi hỏi hành giả hài hòa giữa tâm cảnh bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Trước hết hành giả phải điều thân, sống trong giới hạnh oai nghi, rồi tư duy thiền định, vậy mới sinh ra được định tâm thanh tịnh; tuy nhiên thuận duyên để làm được thế, hành giả phải sống trong cảnh yên tịnh, an bình tránh nơi khích động, huyên náo. Và khi thành tựu điều thân và tâm, bấy giờ hoàn cảnh mới hài hòa tâm cảnh hành giả; đó là lúc hành giả có thể rời nơi yên mà đến cảnh ồn cũng vẫn an tâm.

    Nơi đây, ta là người công phu niệm Phật, và niệm Phật trong mọi hoàn cảnh, nên chẳng giống người quán tâm thiền định; cho nên chẳng lo vọng tưởng diệt, hay không diệt, mà chỉ tập trung vào danh hiệu Phật, thế mới nói là xem nhẹ vọng tưởng đi.

    Suy ra nữa, nếu ta không xem nhẹ chúng, lại không diệt được chúng, ta không thể niệm Phật nhất tâm. Thế thì không diệt được vọng tưởng lại quá quan tâm vọng tưởng, chỉ làm phân tâm niệm Phật mà thôi.

    Ðến đây thấy rằng, bước đầu học Phật, buộc phải hiểu cơ bản giáo lý, vô thường, vô ngã, nhân quả duyên sinh, để có thể là những tác duyên hòa thuận giúp người vượt qua những chặng đường cám dỗ trong đời sống.

    Niệm Phật trong mọi hoàn cảnh là tạo mãi chủng tử Phật vào A Lại Da thức (thức thứ tám theo Duy thức học), là nơi sâu thẳm của tâm, là nơi tàng chứa tích tụ muôn duyên sự. Có thực hành như vậy ta mới bớt đi sự khuyến dụ khích động hấp dẫn của dòng đời; mà chúng là nguyên nhân chính làm đầy vọng tưởng trong tâm.

    Ta không quan tâm đến năm thứ dục lạc kia, nghĩa là ta sống mà không hệ lụy quá đáng với nó, để thành thái quá sa lầy; ta vẫn sống với nó nhưng trong dè dặt răn đe, và hưởng ứng nó bằng tâm người tỉnh thức – biết chuyển hóa thế nào là phương tiện tùy duyên để sanh về cõi Thanh tịnh là cứu cánh.

    Hành trang người niệm Phật đã đầy đủ; hành trang thứ ba cũng đang trên đường về đích. Người tỉnh thức không còn chút nào lo lắng, mĩm cười mời gọi mọi người đi theo.

    Thật khâm phục Đức phật Thế tôn, sao con người lại có thể tìm ra được những thứ mà trước đó, thời đó và sau này, con người có thể đọc được và gần như xua đi được mọi mô hồ ảo ảnh của chính cuộc đời mình vậy.

    Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

    Nam mô A-Di-Đà Phật.

    Hồi ký tháng 8: Hành thiền và thiền định giúp tôi tịnh tiến lên một tầm trí tuệ mới


    Sau 1 tháng tìm hiểu và ghép nối nhiều mảng thông tin, đối chiếu nhiều kinh sách của Đạo ky tô, Cơ đốc giáo và đặc biệt Phật giáo.

    Tôi dần chthươngứng ngộ ra nhiều điều giống nhau về những sự bàn luận và đưa ra cảnh giới cho con người thực tại.

    Những câu hỏi mà bao người từng hỏi: Chúng ta sống trên đời để làm gì ? sao chúng ta phải sống trong  cuộc đời này như cảnh giới hiện tại ? sao không phải là một cái gì khác ? v.v…

    Tôi đã cảm nhận ra thêm nhiều điều mình đã từng biết nhưng còn mập mờ về số kiếp trước của mình, những thứ người đời vô đạo coi là không tin, không có hoặc là tôi bị khùng điên. Tôi biết là có thật và việc của nửa đời còn lại tôi phải tìm, phải chứng minh, và nó sẽ giúp ích lợi lạc cho chúng sinh thoát khỏi đường mê muội, tin vào đạo pháp.

    Cũng như khoa học nghiên cứu tâm lý đã chứng minh thế ký 21, loài người dần đã biết tới thế giới tâm linh, linh hồn, các thế giới gốc xuất sứ của loài người, chư thiên, át-tư-la, quỷ sứ, địa ngục… câu chuyện đã có từ hơn 2500 trước, nhưng sao con người vẫn khó tin, hay mỉa mai, châm biếm.

    Thiện tai thiện tai.

    Tôi lại thấy thương cho những người có nhận định, suy nghĩ cố chấp đó vì họ đâu hiểu rằng, chính kiếp trước họ từ cái gốc “Thiền Quang” đem “linh hồn” nhập vào 1 bào thai có cơ hội trở thành con người, từ từ sinh thành, trường thành,  trung niên, già bệnh và tử.

    Sự thật linh hồn: http://www.youtube.com/watch?v=1Vtez7LZ92Y&feature=related 

    Trong quãng đường đầu thai đó, họ đã ăn “Cháo lú” để rồi trước khi thành người đã quên đi hết cái kiếp sống trước của họ làm gì ? ở đâu ? cha mẹ, vợ chồng, con cái là ai …?

    Trần sao thì âm vậy”:  http://www.youtube.com/watch?v=gMyGI5ZVylw&feature=related

    Hiểu biết và tìm tòi nhiều hoá ra tôi mới là ngộ ra được đường đời, đường học trường lớp vẫn chưa đủ đôi lúc còn bị học sai, dậy sai, vậy phải là đạo đời, thiền định và tu tập tin tưởng vào Phật pháp.

    Phát tâm từ thiện”:  Nó sẽ giúp cho tâm tôi và bao con người sáng trong và kiên định vì tâm sáng và tin vào Phật pháp nhiệm mầu.

    Đây thực sự là cuộc đời đổi mới của tôi, sau lứa tuổi thanh niên yêu khoa học, thích đi xa tìm tòi những lĩnh vực khoa học. nhưng hoá ra, nó chưa đủ thoả mãn những khát vọng vươn tới trí tuệ, giải đáp bao điều khó hiểu trong tôi.

    Hạnh nguyện và Hồi hướng”:  Hành động của chúng ta trong cuộc đời đối với người đang sống và đã mất vô cùng quan trọng, hãy biết tích luỹ và hiểu biết về thế giới tâm linh, biết kính trọng, luôn có đức tin để vượt qua bản ngã Vô minh của chính mình.

    “Hoà nhập vũ trụ”: Tập trung tu tập, khổ luyện, nghiên cứu  thấu đáo để hiểu tâm linh, đúc rút ra nhiều kinh nghiệm cho đời sống, khoa học và đặc biệt và Giáo dục Phật giáo, nâng cao cảnh giới, vượt qua những quán tưởng thông thường, lĩnh hội trí huệ của Phật đầy nhiệm mầu.

    “Thoát tục, an lành và hoàn thành nhiều tâm nguyện ở đời này và đời vị lai” : Thoát khỏi tâm tưởng tầm thường, thoát khỏi cái tục “Tham Sân Si” , buông bỏ luyến ái và từ bi hỷ sả.

    Thiền độ và niệm kinh chính là một phương pháp tu tập giúp tôi vượt qua những quán tưởng, hiểu thấu triệt về Pháp tâm, mở luân xa và tâm yêu thương muôn loài.

    Tôi xin chép lại 66 câu Phật dạy khiến cho biết bao người cung kính làm theo:

    1. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.

    2. Nếu ta không muốn rước phiền não vào mình , thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho ta. Vì chính tâm ta không buông xuống nổi.

    3. Ta hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình.

    4. Ta phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương ta, ta phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực.

    5. Khi ta vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi bạn đau khổ, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.

    6. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.

    7. Ta có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.

    8. Đừng lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định ta sẽ ân hận.

    9. Khi nào ta thật sự buông bỏ thì lúc đó ta sẽ hết phiền não.

    10. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.

    11. Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác.
    12. Ta đừng có thái độ bất mãn người ta hoài, Ta phải quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính ta.
    13. Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản.
    14. Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
    15. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin anh “ đa khẩu hạ lưu tình”.

    16.Vốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa anh là ai? Giả sử anh bị chó điên cắn anh một phát, chẳng lẽ anh cũng phải chạy đến cắn lại một phát?
    17. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người anh không hề yêu thích.
    18. Mong anh đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận.
    19. Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao anh lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao anh phải chứa đầy những não phiền như vậy?
    20. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì anh hiểu nó quá ít, anh không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi anh hiểu sâu sắc, anh sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của anh.
    21. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc, tôi không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân.
    22.Tốn thêm một chút tâm lực để chú ý người khác chi bằng bớt một chút tâm lực phản tỉnh chính mình, anh hiểu chứ?
    23. Hận thù người khác là một mất mát lớn nhất đối với mình.
    24. Mỗi người ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó, thậm chí trân quý mạng sống của mình hơn. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với họ mà nói chính là một sự trừng phạt.
    25. Tình chấp là nguyên nhân của khổ não, buông tình chấp anh mới được tự tại.
    26. Đừng khẳng định về cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đỡ phải hối hận hơn.
    27. Khi anh thành thật với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối anh.
    28. Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện.
    29. Người âm thầm quan tâm chúc phúc người khác, đó là một sự bố thí vô hình.
    30. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu anh không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì mắc phải nhầm lẫn là lẽ thường tình.
    31. Muốn hiểu một người, chỉ cần xem mục đích đến và xuất phát điểm của họ có giống nhau không, thì có thể biết được họ có thật lòng không.
    32. Chân lý của nhân sinh chỉ là giấu trong cái bình thường đơn điệu.
    33. Người không tắm rửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và tôn quý đến từ sự chân tài thực học. Có đức tự nhiên thơm.
    34. Thời gian sẽ trôi qua, để thời gian xóa sạch phiền não của anh đi.
    35. Anh cứ xem những chuyện đơn thuần thành nghiêm trọng, như thế anh sẽ rất đau khổ.
    36. Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa.
    37. Nói một lời dối gian thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì khổ như vậy?

    38. Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.
    39. Quảng kết chúng duyên, chính là không làm tổn thương bất cứ người nào.
    40. Im lặng là một câu trả lời hay nhất của sự phỉ báng.
    41. Cung kính đối với người là sự trang nghiêm cho chính mình.
    42. Có lòng thương yêu vô tư thì sẽ có tất cả.
    43. Đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên. Cho nên anh cần phải “ tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên”.
    44. Từ bi là vũ khí tốt nhất của chính anh.
    45. Chỉ cần đối diện với hiện thực, anh mới vượt qua hiện thực.
    46. Lương tâm là tòa án công bằng nhất của mỗi người, anh dối người khác được nhưng không bao giờ dối nỗi lương tâm mình.
    47. Người không biết yêu mình thì không thể yêu được người khác.
    48. Có lúc chúng ta muốn thầm hỏi mình, chúng ta đang đeo đuổi cái gì? Chúng ta sống vì cái gì?
    49. Đừng vì một chút tranh chấp mà xa lìa tình bạn chí thân của anh, cũng đừng vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác.
    50. Cảm ơn thượng đế với những gì tôi đã có, cảm ơn thượng đế những gì tôi không có.
    51. Nếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.
    52. Nói năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây tổn thương, đừng khoe tài cáng của mình, đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa địch thành bạn.
    53. Thành thật đối diện với mâu thuẩn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.
    54. Nhân quả không nợ chúng ta thứ gì, cho nên xin đừng oán trách nó.
    55. Đa số người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối người, và bị người dối.
    56. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối anh nhất thời, nhưng nó lại gạt anh suốt đời.
    57. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình.
    58. Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ này, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.
    59. Nếu anh có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là một phúc phần rồi. Biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương của ngày mai, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành tàn phế, biết bao nhiêu người hôm nay đã đánh mất tự do, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành nước mất nhà tan.
    60. Anh có nhân sinh quan của anh, tôi có nhân sinh quan của tôi, tôi không dính dáng gì tới anh. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được anh. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.
    61. Anh hi vọng nắm được sự vĩnh hằng thì anh cần phải khống chế hiện tại.
    62. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.
    63. Người khác có thể làm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì chúng ta nhất định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh.
    64. Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông cho người khác. Anh muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.
    65. Thế giới vốn không thuộc về anh, vì thế anh không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc về ta.
    66. Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

    %d bloggers like this: