Category Archives: Giác ngộ giáo dục

Lợi ích của Đào tạo từ xa và học trực tuyến thông qua MOOC C3


   
 

I.Một số lợi ích cơ bản của hệ thống Đào tạo từ xa và học trực tuyến:

1) Đào tạo từ xa và học trực tuyến:
giúp người học vượt qua rào cản về không gian và thời gian. Với hình thức học này, người học có thể đăng kí và theo học bất cứ thời gian nào mình muốn. Học viên có thể học bất cứ lúc nào, tại bất kì nơi đâu… Tận dụng được nguồn giảng viên chất lượng từ nhiều nơi trên thế giới, nội dung truyền tải nhất quán, phong phú, phù hợp với yêu cầu của người học.


2) Đào tạo từ xa và học trực tuyến:
giúp cho người học chủ động hơn: dễ dàng tự định hướng và tự điều chỉnh việc học tập của bản thân. Việc đăng kí và chứng thực học viên đơn giản và thuận tiện. Người học có khả năng tự kiểm soát cao thông qua việc tự đặt cho mình tốc độ học phù hợp, bỏ qua những phần hướng dẫn đơn giản không cần thiết mà vẫn đáp ứng được tiến độ chung của khóa học. Đối với học viên, kèm theo việc tăng khả năng tiếp tục đáp ứng được công việc, giảm thời gian học lý thuyết, khái niệm và tăng thời gian thực hành, lĩnh hội chính kiến, học viên còn có thể học mọi lúc, mọi nơi, cho phép học viên có thể hoàn thành chương trình đào tạo một cách thuận tiện ngoài giờ làm việc hay ở nhà, ngày nghỉ lễ…

3) Đào tạo từ xa và học trực tuyến: giúp cho người học rèn luyện và phát triển khả năng tự học. Trong suốt quá rình học trực tuyến, học viên phải tự xây dựng kế hoạch học tập, lựa chọn môn học, tài liệu cần thiết, tự thực hiện các yêu cầu của khóa học… nhờ thế mà khả năng tự học mỗi ngày một tốt hơn.


4) Đào tạo từ xa và học trực tuyến
làm tăng lượng thông tin một cách rõ rệt, kiến thức thu được rất đa dạng và phong phú. Nhờ tính tương tác và hợp tác cao, dễ tiếp cận và thuận tiện, đào tạo trực tuyến tạo một môi trường giao tiếp thuận lợi giữa học viên với giáo viên, giữa học viên với nhau… Khi mọi người được trao đổi với giáo viên và bạn bè trong lớp, họ có thể tiếp thu nhiều thông tin hơn từ các nguồn khác nhau. Mặt khác, kết quả đào tạo và học tập cũng được tự động hóa và được thông báo nhanh chóng, chính xác, khách quan.


5) Rút ngắn thời gian đào tạo
. Học viên tận dụng được mọi thời gian rảnh rỗi, giảm thiểu thời gian rời khỏi văn phòng hoặc gia đình. Cơ sở đào tạo cũng dễ dàng kiểm soát thời gian thực hiện khóa học.


6) Chi phí cho việc học tập được cụ thể, tường mình:
chi phí cho người học, chi phí cho tổ chức và quản lí đào tạo. Nội dung khóa học có thể sử dụng lại được với các học viên khác nhau. Cắt giảm được chi phí in ấn, xuất bản và phân phối tài liệu, lương của giáo viên, chi phí thuê phòng học, chi phí đi lại, ăn ở cho học viên. Tiết kiệm được một khoản tiền lớn do giảm được chi chí đi lại. Theo một số thống kê: thông thường một học viên phải trả cho một khóa học khoảng 12 triệu đồng, thì đối với một khóa học trực tuyến chi phí chỉ vào khoảng 600.000 – 6.000.000 VND, nghĩa là chỉ 1/2 – 1/10.


7) Đào tạo từ xa và học trực tuyến
là một mô hình dạy học có hiệu quả kinh tế cao:
Học trực tuyến giúp học viên và các công ty có học viên đi học không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn đáp ứng đúng với nhu cầu của mình. Tỉ lệ học viên hoàn thành khóa học cao hơn.
Với cơ sở đào tạo: dễ dàng tạo các khóa học từ các tài nguyên có trước, thu được lợi nhuận nhanh hơn từ các sản phẩm mới, khóa học được cập nhật và triển khai nhanh chóng, liên tục ở nhiều nơi…

8) Đào tạo từ xa tích hợp hệ thống soạn giáo trình trực tuyến
cũng góp phần đơn giản hóa và tiết kiệm thời gian thao tác quy trình, công đoạn sản xuất nội dung, công bố nội dung, quản lý tác quyền, quản lý phiên bản, chống độc quyền hay chống sao chép tài liệu giữa giảng viên, ban giáo vụ, Trung tâm đào tạo, Học Viện hay các Công ty tổ chức đào tạo… Học viên và Giảng viên dễ dàng trao đổi nội dung học thuật, các bài thực hành hoặc ôn thi trắc nghiệm hoặc các bài cần thực hành trực tuyến cần có giáo viên trợ giảng chữa bài trực tuyến…

 

II.Công cụ soạn nội dung và tác quyền

Đào tạo từ xa tích hợp hệ thống soạn giáo trình trực tuyến
cũng góp phần đơn giản hóa và tiết kiệm thời gian thao tác quy trình, công đoạn sản xuất nội dung, công bố nội dung, quản lý tác quyền, quản lý phiên bản, chống độc quyền hay chống sao chép tài liệu giữa giảng viên, ban giáo vụ, Trung tâm đào tạo, Học Viện hay các Công ty tổ chức đào tạo… Học viên và Giảng viên dễ dàng trao đổi nội dung học thuật, các bài thực hành hoặc ôn thi trắc nghiệm hoặc các bài cần thực hành trực tuyến cần có giáo viên trợ giảng chữa bài trực tuyến…


Sử dụng các công cụ biên tập và phát triển mới nhất, chúng tôi có kinh nghiệm chuyên môn để phát triển các bài học dựa trên kịch bản, các chương trình giảng dạy, trình diễn, mô phỏng tương tác và đánh giá được phân phát qua nhiều phương tiện.

Chúng tôi chú ý đến nhu cầu của khách hàng, mục tiêu học tập, yêu cầu kỹ thuật và môi trường kinh doanh để đảm bảo rằng sản phẩm của chúng tôi sẽ cung cấp trên tất cả các khía cạnh. Cho dù bạn đang trong giai đoạn lập kế hoạch của một dự án hoặc đã có một sản phẩm hiện có, chúng tôi có thể giúp đỡ. Dịch vụ của chúng tôi có thể bao gồm bất kỳ giai đoạn nào của quá trình phát triển từ định nghĩa dự án đến phát triển front-end.

Thiết kế và Phát triển Dịch vụ

MOOC là phương thức đang ngày càng khẳng định vai trò và nhu cầu đào tạo của mỗi tổ chức là hiện hữu. Do đó, chúng tôi đã sớm bắt đầu tham gia công nghệ này bằng cách hiểu rõ các mục tiêu kinh doanh và yêu cầu đào tạo của khách hàng của chúng tôi. Điều này cho phép chúng tôi thiết kế một giải pháp học tập được thiết kế đặc biệt cho các yêu cầu độc nhất của họ, phù hợp với mục tiêu kinh doanh của họ và đạt được mức độ toàn vẹn, giảng dạy chất lượng cao nhất. Năng lực cốt lõi của chúng tôi bao gồm:

  1. Làm việc với chuyên gia về vấn đề quan trọng (MEMS) để hiểu được các nhu cầu và mục đích thông suốt của họ.
  2. “Phân lớp nội dung” để nâng cao kiến thức, dễ nhớ, hiểu siêu và xuyên suốt (Tham chiếu thông tin)
  3. Soạn thảo và tổng hợp các câu chuyện bằng cách sử dụng Các học thuyết, phương pháp luận căn bản và nâng cao (ADDIE, SAM, v.v …)
  4. Kết hợp các Kịch bản nhằm thống nhất nội dung hoạt động và tầm nhìn sáng tạo thành một khóa học hấp dẫn và luôn có tương tác giữa giảng viên và học viên.
  5. Phát triển đa ngôn ngữ thông qua việc đồng bộ hóa chính xác văn bản, giáo trình, phụ đề và hình ảnh được dịch trên màn hình với kịch bản nội dung đào tạo.
  6. Xuất bản khóa học theo yêu cầu của khách hàng
  7. Hỗ trợ triển khai khóa học

Các dịch vụ tư vấn

Các dịch vụ tư vấn của chúng tôi có thể giúp đảm bảo rằng các sáng kiến đào tạo của tổ chức bạn phù hợp với mục tiêu kinh doanh và đạt được các kết quả như mong muốn:

  1. Phân tích các chương trình đào tạo hiện tại của bạn
  2. Phát triển hoặc tinh chỉnh chiến lược đào tạo của bạn
  3. Soạn thảo các yêu cầu đào tạo và / hoặc chương trình giảng dạy của bạn
  4. Xác định phương pháp đào tạo phù hợp cho mỗi khóa học / chủ đề
  5. Tạo các kịch bản tập huấn của bạn

Chuyển đổi và nâng cao chất lượng Khóa học

Các nhân viên chuyên nghiệp có kinh nghiệm của chúng tôi xây dựng các khóa học và có thể dễ dàng chuyển đổi các khóa học hiện tại của bạn sang một khóa học e-learning AICC hoặc SCORM. Chúng tôi cũng có thể nâng cao các tài liệu đào tạo hiện có cho việc phân phối trên máy tính, sử dụng các khả năng phát triển đa phương tiện của chúng tôi để tạo ra những kinh nghiệm học tập trực tuyến hấp dẫn như:

  • CBTs đa phương tiện chuyên sâu và không dễ dàng tích hợp đăng tải vào một nền tảng dựa trên web service / máy chủ web hoặc hệ thống LMS.
  • CBTs hoặc WBTs không phù hợp với các khóa học theo chuẩn AICC hoặc SCORM.
  • Đào tạo, hướng dẫn/huấn luyện các giảng viên chỉ cần một bài thuyết trình PowerPoint đã có thể dễ dàng triển khai khóa học trực tuyến một cách tự tin, dễ dàng truy cập và hiệu quả kinh tế.

Các khóa học sẽ có cái nhìn lạc quan, hướng tới các khoá học hiện đại, sáng tạo vì tương lại của người học.

III. Chúng tôi tổng kết sơ bộ về 4 dòng công cụ soạn nội dung giáo trình nổi bật được áp dụng trên hệ thống MOOC gồm:

1. Dòng công cụ soạn giáo trình cá nhân không trực tuyến:

Các phần mềm xây dựng nội dung trên web truyền thống đòi hỏi những kiến thức không hợp lý, chúng không trực quan và các ứng dụng trước đây không được thiết kế để xuất bản nội dung kiến thức. Do vậy các giáo viên và các học viện đã không chấp nhận các kỹ thuật này để xuất bản nội dung kiến thức trực tuyến như: . eXe, QuickExam nhắm đến việc cung cấp một công cụ trực quan, dể sử dụng cho phép các giáo viên xuất bản các trang web chuyên nghiệp để dạy học.
đây được gọi là công cụ authoring offline mà không cần thiết phải kết nối mạng.

2. Dòng công cụ soạn bài thuyết trình qua các công cụ Office dễ dùng và trực quan:

Các phần mềm xây dựng nội dung dạng này thường là các bộ phần mềm có bản quyền hoặc Open source như: Microsoft Office PowerPoint, Libre Office, OpenOfficeCourseLabs, LDMC … Khi được tích hợp với các Plugin của hãng thứ ba cài thêm vào như iSpring, Learning SuiteCase… bạn có thể trở thành người sưu tầm Sliders các bài thuyết trình  được chiếu trên Web HTML, XHTML, Adobe Flash, SCORM, Smartphone…

3. Dòng công cụ chuyên convert hoặc soạn nội dung nhúng Media:

Các phần mềm xây dựng nội dung dạng này thường là các bộ phần mềm có bản quyền hoặc Open source như: Movie Marker, Adobe Premium, iSpring Pro … Khi được tích hợp với các Plugin của hãng thứ ba cài thêm… bạn có thể trở thành người sưu biên tập hình ảnh, lồng tiếng, cắt/ghép hình ảnh, dịch, lồng phụ đề và mọi nội dung đều phù hợp với Web HTML, XHTML, Adobe Flash, SCORM, Smartphone…

4. Dòng công cụ soạn nội dung trực tuyến:

Các nội dung dạng này thường là các Web platform có bản quyền hoặc Open source như:  Coursera, Udebo, Pluralsight … bạn có thể trở thành Giảng viên soạn giáo trình trực tuyến và làm chủ “owner BOX content” với đầy đủ quyền tác giả như: chống sao chép, chống “đạo văn” với những quyền như: cá nhân, duy nhất truy cập bài của chính bạn, truy cập nội dung cần có mã khóa, công khai … phù hợp với chuẩn Web HTML, XHTML, Adobe Flash, SCORM, Smartphone…

Hy vọng hệ thống MOOC đã có phần nào thông tin giúp ích cho các nhà quản lý, Phát triển đào tạo quốc tế !

Advertisements

Khái quát về Tạo Tài liệu Thiết kế Giảng dạy – Blueprint là gì ?


Để xây dựng bất cứ điều gì, chúng ta cần một “kế hoạch chi tiết – Blueprint” – một tài liệu hoạt động như một khuôn khổ cho dự án; cùng áp dụng với eLearning. Trước khi chúng ta bắt đầu phát triển một khóa học eLearning, chúng ta cần tạo một kế hoạch chi tiết và được gọi là “Tài liệu Thiết kế Giảng dạy – Instructional Design Document”.

Hình ảnh. High performance virtual desktop for 3D graphics application demo powered by iVIM and VMware Horizon (on 3G connection!)

https://www.youtube.com/watch?v=U94xJ8x-AmY&list=PLzKEVC4cA55YT2iwdXrkIyevKQRDEFWCb&index=30

 

Làm thế nào để Tạo Một Tài liệu Thiết kế Giảng dạy

Khóa học eLearning được phát triển thông qua nỗ lực kết hợp của Nhà thiết kế Giảng dạy, các nhà thiết kế học tập, các nhà phát triển đa phương tiện, các chuyên gia về công nghệ, Chuyên gia Môn học, và các nhà quản lý dự án. Khi bạn có nhiều bên liên quan tham gia, làm thế nào để bạn đảm bảo rằng dự án luôn hoạt động và không mất tập trung? Tài liệu duy nhất liên kết tất cả những người liên quan để làm việc hướng tới một mục tiêu chung? Tài liệu đó được gọi là Tài liệu Thiết kế Giảng dạy (IDD).

Tài liệu Thiết kế Giảng dạy hoạt động như một điểm tham chiếu duy nhất hướng dẫn nhiều bên liên quan khi họ thực hiện các nhiệm vụ cá nhân của mình liên quan đến việc phát triển một khóa học eLearning.

 

Tài liệu Thiết kế Giảng dạy cần làm những gì?

Tài liệu Thiết kế Giảng dạy cung cấp một khuôn khổ hướng dẫn tất cả các cá nhân chủ chốt tham gia vào quá trình phát triển eLearning.

Một Tài liệu Thiết kế Giảng dạy trả lời các câu hỏi như:

1. Mục đích của khóa học là gì?

  • Thực chất hiện nay hệ thống ELearning đã đi tới một cấp độ mới về khả năng mở rộng nội dung của khoá học, trên thế giới khái niệm mới ra đời viết tắt : MOOC.

  • Các mô hình MOOC được mở rộng và có các tiêu chuẩn về ứng dụng, tính năng, chức năng làm mới từ ELearning truyền thống như:

2. Người học dự kiến sẽ biết / làm gì vào cuối khoá học?

– Kho đề ôn tập ở đâu?

– Thi chứng chỉ như thế nào?

– Hướng dẫn ôn và thi có sát với chuẩn nội dung và thực hành?

– Chứng chỉ cấp phát và lưu trữ để tìm và chứng thực như thế nào?

 

3. Đối tượng là ai?

4. Khóa học sẽ được tiếp cận như thế nào?

 

5. Chiến lược giảng dạy sẽ là gì?

6. Các yếu tố tương tác được sử dụng là gì?

– Phải nói đến yêu cầu về nội dung tương tác, hợp chuẩn và linh hoạt phù hợp với những thiết bị tiện dụng cho người học

– Các công nghệ, công cụ thuận tiện và tích hợp chặt chẽ vào trong lớp học, chương trình đào tạo và là công cụ đắc lực cho giảng viên tương tác với học viên

7. Làm thế nào để người học được đánh giá?

Ngoài ra, nó cũng chỉ rõ cấu trúc khóa học tổng thể và phác thảo chi tiết cho các mô đun riêng lẻ.

Tóm lại, nó cung cấp một bộ quy tắc và hướng dẫn mà Nhà Thiết kế Giảng dạy và các nhà phát triển khoá học phải tuân theo khi họ xây dựng khóa học.

 

Tại sao tài liệu Thiết kế Giảng dạy lại quan trọng?

Quá trình phát triển điện tử học bao gồm nhiều người tham gia:

  • Chủ dự án,
  • Quản lý dự án,
  • Giảng viên,
  • Chuyên gia thuộc các chủ đề liên quan,
  • Các chuyên gia về thiết kế khoá học,
  • Các chuyên gia về công cụ biên tập, các chuyên gia công nghệ hình ảnh, dịch giả hoặc tác giả, người kể chuyện âm thanh/ hình ảnh/ bản vẽ/ mindmap / Game scarf và nhiều công cụ khác.

     

  1. Làm thế nào để bạn đảm bảo những nỗ lực của tất cả mọi người liên quan được định hướng theo cùng một hướng và mục đích?
  2. Làm thế nào để họ có sự hiểu biết như nhau về các mục tiêu khóa học và cách thức các khóa học là phải hình thành?
  3. Tài liệu Thiết kế Giảng dạy ghi lại được sự đồng thuận về cách tiếp cận giảng dạy toàn cầu sẽ được thông qua giữa các đối tượng chính của dự án.

Nó mô tả cấu trúc, điều hướng hoặc thiết kế của khóa học, các thành phần âm thanh và hình ảnh được sử dụng, v.v … Đây là một minh chứng chứng minh rằng tất cả các bên liên quan chủ chốt trong dự án đều đồng ý với tầm nhìn và mục tiêu của khóa học eLearning.

Nó đảm bảo rằng khóa học eLearning luôn được tiến hành và đạt được mục đích mà nó được thiết kế.

 

Một Đề cương cho Tài liệu Thiết kế Giảng dạy

Vì vậy, chúng ta có thể tạo một Tài liệu Thiết kế Giảng dạy sử dụng MS Word, MS PowerPoint, MS Project, MS Excel, PDF Adobe hoặc bất kỳ công cụ nào khác phù hợp cho nhóm.

Chìa khóa để chuẩn bị và nhận được sự kiểm soát của tất cả các bên liên quan chính của dự án và nhận được sự thúc đẩy của cả nhóm.

Dưới đây là một phác thảo mẫu bao gồm các thông tin chính cần thiết để chuẩn bị một Tài liệu Thiết kế Giảng dạy. Chúng ta có thể sử dụng bất kỳ mẫu hoặc định dạng nào phù hợp nhất với yêu cầu.

 

1. Bối cảnh dự án.

Cung cấp một nền tảng ngắn cho khóa học và mục tiêu cuối cùng của nó:

– Mục đích của khóa học.
–   Kết thúc mục tiêu.

2. Yêu cầu của dự án.

Bao gồm các thông số kỹ thuật được cung cấp bởi chủ dự án hoặc các bên liên quan chính:

–    Giá cả.
–    Dòng thời gian.
–    Tiêu chuẩn.

3. Yêu cầu học tập.

Thông tin về đối tượng:

–    Hồ sơ thông tin các đối tượng học.
–    Môi trường học tập (nơi họ sẽ truy cập vào khóa học – văn phòng, nhà, nơi công cộng).

4. Mục tiêu của khoá học.

–    Mục tiêu học tập.
–    Mục tiêu hoạt động.

5. Chiến lược dạy học.

–    Mẫu trình bày.
–    Chiến lược truyền thông.

(sử dụng âm thanh, hình ảnh, và các yếu tố đa phương tiện khác, như camera ghi hình hoặc Live Streaming, Máy chiếu..).

6. Chiến lược đánh giá.

Xác định mục đích, tần số và chiến lược ghi điểm:

–    Đánh giá quá trình.
–    Đánh giá tổng thể.

7. Định dạng khóa học hoặc cấu trúc.

Nội dung Nội dung chính:

–   Số lượng mô-đun.
–   Số lượng slide trong mỗi module.
–   Chiến lược nội dung ở mỗi trình độ.

8. Công cụ phát triển.

–    Các công cụ cho phép sử dụng.
–    Các công cụ khác.

9. Bảng chấm dứt dự án.

– Lấy ý kiến về sự đồng thuận từ tất cả các người tham gia chính.

–    Các mẫu điện tử khảo sát trước, trong và sau khi diễn ra khoá đào tạo.

–    Các báo cáo, bản giấy in để gửi kết quả cho Giáo vụ, Quản lý nhân sự, người lãnh đạo dự án phía chủ đầu tư, quản lý dự án phía Doanh nghiệp.

– Đánh giá nhu cầu đào tạo ELearning sau các khoá học dự án, hàng tuần/tháng/quý/năm

Ví dụ về xác định nhu cầu sử dụng MOOC 2015

 

Suy nghĩ cuối cùng

Định dạng và cấu trúc của tài liệu thiết kế có thể khác nhau, dựa trên cách nó hoạt động trong tổ chức của bạn.

Tuy nhiên, cơ bản, các phác thảo trên sẽ giúp bạn đảm bảo tất cả các thông tin quan trọng được nắm bắt trước khi thực hiện sự phát triển của khóa học.

Bạn có thể tùy chỉnh phác thảo này dựa trên nhu cầu cụ thể của bạn. Thời gian đầu tư để chuẩn bị Tài liệu Thiết kế Giảng dạy đảm bảo rằng có sự rõ ràng về tầm nhìn tổng thể của khóa học và cung cấp hướng dẫn cụ thể về hướng các bên liên quan cá nhân như:

– Nhà Thiết kế Giảng dạy,

– Các nhà phát triển đa phương tiện.

– Các chuyên gia công nghệ phải đảm nhận vai trò cá nhân và trách nhiệm.

Nó đảm bảo rằng tất cả các yếu tố của một khóa học eLearning như các mô-đun học tập, tương tác, và đánh giá bổ sung cho nhau và làm việc theo cùng mục tiêu học tập.

Việc chuẩn bị Tài liệu Thiết kế Giảng dạy chỉ là một bước trong quá trình Thiết kế Giảng dạy của việc phát triển khoá học eLearning.

 

Nếu bạn muốn biết thêm về các bước khác liên quan như là một phần của quá trình Thiết kế Giảng dạy,

Hãy truy cập trang http://robusta.vn

Hệ thống đào tạo E-learning của chúng tôi sẽ có khoá đào tạo cho các Giảng viên Điện tử chuyên nghiệp – là phương pháp tốt nhất để Hướng dẫn tiện dụng dành cho Nhà Thiết kế ĐTDĐ.

 

Chúc các bạn thành công trong sự nghiệp giáo dục toàn cầu!

Tại sao VMware snapshots alone không phải là Sao lưu backup – sự khác nhau giữa VM Snapshots và Veeam Backup Snapshots Base?


Do có quá nhiều bạn thắc mắc, hiểu nhầm lẫn về VM Snapshots, nên Tôi muốn làm rõ ràng hơn bức tranh về VM Snapshots và các hình thức sao lưu của VM, nó có thể làm cho các bạn hiểu điều quan trọng khi dữ liệu của bạn bị đe dọa, muốn rollback, undo lại các dữ liệu cũ, khi dữ liệu hiện tại đang bị sự cố.

Để xua tan bất kỳ nghi ngờ nào, khẳng định lại VM Snapshots KHÔNG phải là bản sao lưu. Đó là hai quá trình khác nhau được thiết kế để đáp ứng các nhu cầu khác nhau. Bây giờ, tôi sẽ giải thích sự khác nhau giữa các bức ảnh chụp nhanh của VM “VM Snapshots” và các bản sao lưu “VM Backup” và cung cấp cho bạn một vài kịch bản mà một trong số chúng sẽ phù hợp nhất.

Mặc dù đúng là nhiều sản phẩm như Veeam Backup sẽ sử dụng Snapshots như một phần của tiến trình bản sao lưu – Snapshots vẫn không phải là bản sao lưu backup. Logic này đang áp dụng cho VMware VM Snapshots, Hyper-V checkpoints và và Storage Snapshots.

Snapshots làm việc như thế nào?

Tóm lại, một ảnh được chụp nhanh của máy ảo “VM SnapShots” là quá trình lưu trạng thái dữ liệu của máy ảo với khả năng khôi phục về đúng dữ liệu thời điểm đó “hoàn nguyên”. Máy ảo có thể được tắt, bật, tạm dừng hoặc bị treo khi Snapshots. (các Snapshots được tổ chức theo cấp phân cây: bậc cha, mẹ và con…)

Thông thường, VM snapshots được sử dụng để kiểm tra bản cập nhật phần mềm hoặc hoạt động không an toàn trên máy ảo và sau đó quay lại trạng thái ban đầu nếu cần thiết – hãy nghĩ về nó như một cách đánh dấu trang “bookmark” hoặc nút hoàn tác “undo/redo”. VM Snapshots không phải là bản sao đầy đủ của đĩa dữ liệu cơ sở “Base Disk gồm: OS, Bootable record, Drivers…” do đó chúng không đủ dữ liệu để khôi phục lại máy ảo trong trường hợp lưu trữ hỏng.

 

VMware Snapshots làm việc như thế nào?

Trong máy ảo VMware, đĩa ảo “virtual disk /Logic disk” là một tệp tin .vmdk nằm trên một kho dữ liệu (Data storage: LUN). Khi ảnh chụp nhanh được tạo ra trong Trình quản lý Ảnh chụp, đĩa gốc sẽ trở thành chỉ đọc, và tất cả các thay đổi dữ liệu mới được ghi vào đĩa tạm thời .vmdk delta, các thông tin về OS, bootable vẫn trỏ đến bản gốc. Đĩa delta này có sự khác biệt giữa trạng thái dữ liệu tại thời điểm khi chụp nhanh VM Snapshots và trạng thái hiện tại của đĩa ảo Virtual disk.

Quá trình chụp ảnh VMware Snapshots cũng bao gồm việc tạo ra hai tệp bổ sung: Snapshots và tệp thông tin siêu dữ liệu “Metadata” (.vmsd) và tệp thông tin trạng thái đang chạy (.vmsn). Sau khi ảnh chụp nhanh Snapshots bị xóa đi (đã cam kết), tất cả thay đổi được hợp nhất “consolidate” về tệp vmdk .và ban đầu nó sẽ trở lại chế độ đọc-ghi.

Hình 1. Snapshots trong VMware vSphere Client

Để đảm bảo sử dụng các ảnh snapshots hợp lý trong các môi trường ảo hóa vSphere, VMware cung cấp một số phương pháp hay nhất:

1. Sử dụng tối đa 32 lần liên tiếp bản ảnh chụp nhanh Snapshots trong một chuỗi, nhưng để có hiệu suất tốt hơn, chỉ sử dụng hai đến ba ảnh chụp nhanh liên tiếp, do mỗi một lần để lại kế tiếp bản snapshots thì việc truy xuất từ dữ liệu ở Virtual disk mới với các dữ liệu delta và dữ liệu gốc sẽ làm độ chễ truy xuất tang lên từ 1 – 15% “Letancy và timeout”.

  1. Không nên để lại ảnh chụp nhanh “bản VM snapshots” lâu hơn 24 – 72 giờ. Nó sẽ tăng kích thước, và bộ nhớ của bạn có thể chạy vượt ra khỏi không gian trống của Data Storage.
  2. Không sử dụng ảnh chụp nhanh “VM Snapshots” làm bản sao lưu. Vì nếu đĩa ảo gốc “Virtual disk ban đầu” tức là file *.vmdk bị xoá, bạn sẽ không thể khôi phục lại máy ảo từ VM Snapshots.

 

Hyper-V checkpoints:

Có một số điểm khác biệt đôi chút về Hyper-V snapshots (đổi tên thành Hyper-V checkpoints – bắt đầu từ phiên bản Windows Server 2012 R2). Khi một Hyper-V checkpoints được tạo ra trong Hyper-V Manager, máy ảo đang chạy đã bị tạm dừng và một đĩa ảo differencing .avhd (x) được tạo ra trong cùng thư mục với đĩa ảo gốc cha mẹ (.vhd / .vhdx) để lưu trữ các thay đổi , cùng với tệp sao chép tệp cấu hình .xml. Đĩa ảo gốc được thiết lập là chỉ đọc và, nếu máy ảo đang chạy, sẽ có thêm hai tệp liên quan – VM lưu trữ (.bin) và thông tin về bộ nhớ (.vsv), sau đó VM sẽ được tiếp tục khôi phục lại trạng thái chạy trước đó.

Hình 2. Các điểm kiểm tra “Hyper-v Checkpoint” trong Quản lý Snapshots “Hyper-V Manager”

Các khuyến nghị của Microsoft dành cho chế độ snapshots VM bằng Hyper-V checkpoint bao gồm:

  1. Không sử dụng ảnh chụp nhanh VM snapshots trên máy ảo lưu trữ có các dịch vụ nhạy cảm với thời gian thay đổi dữ liệu mật độ cao, chẳng hạn như:
    1. Microsoft Exchange Server hoặc
    2. Active Directory Domain Services.
  2. Không mở rộng lưu trữ ảo hiện tại của máy ảo khi đang có ảnh chụp nhanh VM Snapshots hay Hyper-V Checkpoint” trên đó, vì chúng sẽ bị xâm nhập hoặc làm lỗi cấu trúc định dạng dữ liệu gốc.
  3. Bạn nên sử dụng trình quản lý Hyper-V Manager để xóa các tệp .avhd (x) khỏi cây phân cấp Snapshots, đừng xóa chúng theo cách thủ công có thể gây lỗi hệ thống VM.

 

Điều gì lạ với Storage Snapshots?

Ảnh chụp nhanh lưu trữ “Storage Snapshots” là một phương án tuyệt vời để tận dụng như một phần của công việc sao lưu. Veeam Backup & Replication hỗ trợ nhiều mảng lưu trữ “Storage arrays” cho cả Sao lưu từ Storage Snapshots và Veeam Explorer cho Storage Snapshots. Có một vài điểm đề cập đến ở đây:

  1. Ngay cả với một mảng hỗ trợ để tận dụng Veeam Explorer cho Storage Snapshots, bạn vẫn cần phải sao lưu để chuyển đến phân vùng lưu trữ khác nhau (làm từng VM). Veeam Explorer for Storage Snapshots là một kỹ thuật phục hồi chỉ từ mảng nguồn mà đã được chụp theo kiểu VM snapshots.
  2. Sao lưu theo kiểu Ảnh chụp lưu trữ “Storage Snapshots” lại là một cách tuyệt vời hơn để sao lưu bằng sức mạnh của mảng lưu trữ và để di chuyển dữ liệu đến phân vùng lưu trữ khác nhau (làm cả cụm mảng storage).

Một trong những nhà truyền giáo của Veeam, Rick Vanover, thích nói rằng: “Chúng tôi không có gì ngoài những bằng chứng dưới hình thức những câu chuyện thành công của khách hàng mà các mảng tốt thực sự lại từ cái họ không thành công – do đó hãy lấy bản sao lưu của bạn vào các kho lưu trữ khác nhau và theo Quy tắc 3-2-1-0 . ”

 

Khi nào ta nên sử dụng ảnh chụp nhanh Snapshots?

Ảnh chụp nhanh “Snapshots” là giải pháp ngắn hạn được sử dụng chủ yếu trong môi trường thử nghiệm và phát triển để vá lỗi, tái khôi phục dữ liệu, cập nhật hoặc để kiểm tra mọi thứ nhanh chóng và quay lại dữ liệu của VM trong trường hợp thất bại. Chúng ít được đề nghị trong sản xuất, vận hành hệ thống chính thức. Tuy nhiên, có một số tình huống mà các bức ảnh chụp nhanh “snapshots” thực sự có ích cho môi trường sản xuất.

Ví dụ: nếu bạn thực hiện hành động rủi ro, chẳng hạn như cập nhật hệ điều hành hoặc thay đổi cấu hình ứng dụng, dịch vụ có thể gây hại cho hệ thống của bạn, thì ảnh chụp nhanh là một ý tưởng hay phù hợp.

Tại sao snapshots không phải là công cụ được đề nghị cho các môi trường sản xuất, vận hành chính thức? Chủ yếu vì lý do tính toàn vẹn dữ liệu. Với ảnh chụp nhanh “snapshots”, bạn không phải sao chép đĩa cứng ảo. Có đĩa ảo VM và đĩa delta, có nghĩa là nếu số lượng đĩa VM gốc bị hỏng, thì ảnh chụp nhanh “snapshots” của bạn cũng bị lỗi theo vì chúng không thể được hợp nhất trên đĩa cơ sở “disk base” khi đĩa gốc hỏng. Ảnh chụp nhanh “snapshots” không hề bảo vệ bạn khỏi sự cố của đĩa gốc, và bạn vẫn sẽ có một điểm thất bại duy nhất nằm ở đĩa gốc dữ liệu.

Một lý do khác là việc snapshots thực hiện dựa trên việc Snapshots có thể ảnh hưởng đến hiệu năng của máy ảo. Điều này không xảy ra thường xuyên – điều này chỉ xảy ra trong một số trường hợp cụ thể, nhưng nó có thể xảy ra. Chẳng hạn, chạy các máy ảo có tốc độ tải cao khi có bản snapshots mà thời gian tồn tại của bản snapshots để lâu (và do đó tăng kích thước nhanh) chắc chắn sẽ làm trầm trọng, suy giảm thêm hiệu năng của những máy ảo đó, đặc biệt là khi sử dụng đĩa động “Dynamic disk”.

Đó là một sai lầm phổ biến để giữ một máy ảo chạy trên một ảnh chụp VM Snapshots trong một thời gian dài – ảnh chụp nhanh Snapshots sẽ tăng kích thước vì nó sẽ hấp thụ/lưu trữ tất cả thay đổi dữ liệu, thay vì đĩa nguồn/gốc (lúc này chuyển thành trạng thái chỉ đọc). Do đó, cam kết sẽ mất nhiều thời gian hơn và nó thậm chí có thể làm lỗi, timeout việc truy xuất VM trong quá trình hợp nhất (consolidate).

 

Veeam Backup không sử dụng ảnh chụp nhanh Snapshot?

Hãy quan sát thật kỹ nhé! Veeam Backup & Replication thực sự có sử dụng ảnh chụp nhanh “VM snapshots” như là một phần của công việc sao lưu “là đoạn tiến trình khoảng 7% đầu tiên của việc sao lưu” . Nó có thể sử dụng ảnh chụp VM Snapshots của VMware, Microsoft tra Hyper-V Checkpoint hoặc ảnh chụp nhanh lưu trữ Storage Snapshots.

Điều quan trọng cần lưu ý là ảnh chụp nhanh “Snapshots” bản thân nó không phải là bản sao lưu – nhưng nó có thể được sử dụng như là một phần quan trọng của quá trình sao lưu. Điều này là do snapshot được sử dụng như là một phần của quá trình chuyển dữ liệu đến một tệp sao lưu hoặc một các để nhân bản máy ảo. Ảnh chụp nhanh sẽ bị xóa khi tác vụ sao lưu hoàn tất.

 

Các cách Sao lưu khác với kiểu ảnh chụp nhanh Snapshots?

Bản sao lưu “VM Backup” là một bản sao VM nhất quán cho phép bạn khôi phục lại nó trong trường hợp tệp vmdk/vhd gốc bị tổn hại do thiên tai, khách quan, chủ quan hoặc lỗi của con người. Không giống ảnh chụp nhanh VM Snapshots, bản sao lưu (tệp vbk) độc lập với máy ảo, và chúng có thể dễ dàng được xuất và lưu trữ ngoài cơ sở lưu trữ hiện tại của Doanh nghiệp (như: trong đám mây, trên băng tape drivers hoặc các hệ thống lưu trữ từ xa khác – DRSite storage). Xin hãy tìm đọc về Quy tắc kim Cương 3-2-1-0 và quy tắc vàng 3-2-1.

Veeam Backup & Replication thúc đẩy công nghệ VSS (Volume Shadow Copy Service) và xử lý ứng dụng-nhận dạng kiểu image để tạo sao lưu máy ảo ở cấp độ image-level. Các bản sao lưu VM cấp độ image cho phép bạn bảo vệ toàn bộ khối lượng công việc – đĩa ảo, hệ điều hành, ứng dụng phần mềm và tệp cấu hình hệ thống. Tất cả đều được lưu trữ trong một tệp sao lưu VM cấp độ image duy nhất cung cấp nhiều tùy chọn khôi phục cho các ứng dụng quan trọng về kinh doanh của bạn

  1. Khôi phục từ cấp máy chủ hoàn chỉnh.
  2. Khôi phục cho cụm/nhóm máy chủ ảo.
  3. Khôi phục đến cấp Datacenter/cloud.
  4. Khôi phục ứng dụng/dịch vụ.

Hơn thế nữa, Veeam Backup & Replication được thiết kế với nhiều công nghệ để tối ưu hóa lưu lượng truy cập và giảm kích thước tệp sao lưu bằng kỹ thuật Nén/mã hoá, chống trùng lặp, nén và tăng tốc WAN và cho phép bạn kiểm tra khả năng khôi phục sao lưu bằng SureBackup.

Ngoài ra, Veeam cung cấp cho bạn một cách khác để nhanh chóng kiểm tra và khắc phục sự cố VM của bạn, Virtual Labs để thí nghiệm hệ thống các bản đã backup máy ảo. Tại đây bạn có thể tạo ra một môi trường ảo riêng biệt không ảnh hưởng đến môi trường máy chủ sản xuất/vận hành của bạn và thực hiện các hoạt động khác nhau, như kiểm tra cập nhật phần mềm hoặc chạy cho chương trình đào tạo.

 

Điều gì sẽ xảy ra nếu môi trường của ta không thể áp dụng kiểu ảnh chụp nhanh VM Snapshots?

Rất nhiều các hạ tầng kỹ thuật ngày này sẽ không thể áp dụng kỹ thuật VM Snapshot, đơn giản vì chúng là các:

  1. Máy tính vật lý – Physical Machine.
  2. Các hệ thống siêu máy tính vật lý – HPC.
  3. Các thiết bị đòi hỏi lưu trữ tốc độ cao và có sử dụng GPU như Camera IP có phân tích nhận dạng hình ảnh bằng GPU.
  4. Các máy chủ vật lý hoặc Ảo hoá chạy trên môi trường cấu hình Cluster Failover/Cluster HA
  5. Các hình thức lưu trữ dạng đọc ghi Quorum disk, Cluster Node Hard disk.
  6. Raw device mapping – RDM (cả ở dạng ảo hoá – vRDM hay vật lý – pRDM).
  7. Oracle RAC.
  8. MS SQL Cluster Node.
  9. Exchange DAG cluster Mailbox.

Veeam backup đã trình bày sản phẩm công cụ mới:

Một cách để thực hiện quá trình sao lưu là sử dụng Veeam Agent cho Microsoft Windows hoặc Veeam Agent cho Linux. Các sản phẩm sao lưu mới của Veeam không sử dụng bất kỳ ảnh chụp nhanh “Snapshot” đối với cơ sở hạ tầng ở bên dưới hệ điều hành (nghĩa là đã không dùng snapshot để sao lưu HĐH, Firmware hoặc trình điều khiển driver các thiết bị có trong máy vật lý). Thay vào đó:

  1. Đối với Windows, VSS framework đã được sử dụng để tạo một bản sao lưu dựa trên hình ảnh “image base”,
  2. và đối với Linux, veeamsnap được sử dụng để có một hình ảnh “image system” của tập tin hệ thống.

Bật mí:

Ngoài ra, trong Veeam Backup & Replication v10, khả năng Veeam CDP sẽ cung cấp một công cụ nhân bản cho các máy ảo VMware mà không sử dụng ảnh chụp nhanh của VMware (không dùng VM Snapshots). Đây là cách thúc đẩy các API vSphere cho I/O Filtering hoặc VAIO làm việc trong đường dẫn lưu trữ của máy ảo.

 

Video Labs demo: https://youtu.be/ovMIum7hyo0

 

Tóm lại “Bottom line”:

Ảnh chụp nhanh trên máy ảo – VM Snapshots không thể được sử dụng như một phương cách đáng tin cậy để bảo vệ dữ liệu của bạn và khôi phục lại dữ liệu trong trường hợp không thành công, nhưng chúng rất tiện dụng cho việc kiểm tra nhanh và khắc phục sự cố. Ngoài ra, một ảnh chụp nhanh VM Snapshots có thể được sử dụng nếu nó là một phần của một chuỗi sự kiện toàn diện để thực hiện công việc sao lưu hoặc sao chép. Hãy nhớ rằng, bài viết trên đây chỉ giúp bạn hiểu snapshot có quy tắc và cách quản lý VM là công cụ để tránh bất kỳ vấn đề lưu trữ và hiệu suất.

Mặt khác, các bản sao lưu VM ở cấp độ Image-based lại là kỹ thuật cung cấp mức độ cao về các ứng dụng và bảo vệ dữ liệu, cho phép RPO thấp và hỗ trợ hầu như bất kỳ kịch bản phục hồi nào từ VM đầy đủ cho đến khôi phục ứng dụng.

Chúc các bạn hiểu thấu đáo vấn đề quan trọng khi dùng Backup Snapshots-base!

Quý vị quan tâm các chương trình đào tạo tại Robusta vui lòng liên hệ: Bộ phận Tư vấn qua

Email:
learn@robusta.vn

Hotline:
(+84) 939 586 168

Cách xuất các VM từ VirtualBox Machine sang VMware thành công


Chúng ta đã dùng khá nhiều VM trên các nền HĐH khác nhau, Virtual Box, MS Hyper-V cũng vậy, xong hầu hết xu hướng của người quản trị/ người dùng/ lập trình viên đều ,muốn quản lý chúng 1 cách tập trung, cần nhiều tài nguyên hơn để thử nghiệm, nâng cấp. Do vậy, chúng ta cần chuyển chúng sang vSphere Hypervisor VMware hoặc vSphere ESXi.

Các version software mà chúng ta dùng:

  • VirutualBox >= 4.3
  • vSphere Client >= 5.0
  • VMware ESXi Hypervisor >= 5.0
Xuất ra Vm từ Virtual Box:
Để xuất ra được VM, bạn phải shut down máy ảo và chọn menu  “File” > “Export Appliance”. Tiếp theo đặt tên máy ảo 

image

On the following screen, select a destination for the output file and choose the OVA format and choose “OVF 1.0” format from the drop down and check the write manifest file box.

image

Click “Next” and then click “Export”. Depending on the size of the machine this could take a while.

image

Preparing to Import the VM

image

Once the export is complete you can try deploy the OVA to ESXi but you will receive the following error, “The OVF package requires unsupported hardware. Details: Line 25: Unsupported hardware family ‘virtualbox-2.2’.”.

image

Cách 1:

Chủ động làm lại ổ cứng ảo VMDK, nếu có bộ cài iSO để cài lại trên chuẩn ổ cứng VMDK.

image

Lưu ý: do 1 số HĐH là cũ như Linux Kernel 2.2/2.4 32/64bit không tương thích với các giao thức mới (SATA/ SCSI) của Computer Machine, thường chỉ chạy với chuẩn cũ IDE

image

Hãy tắt các device không cần thiết như: audio, serial ports, usb, share folder:

image

image

image

image

Bước tiếp theo là stop máy VM và chọn Export Appliance

image

Bước cuối cùng cần sửa lại nội dung cho file OVF tương thích với việc Deploy vào ESXi Host:

Giải nén file OVA bằng 7z tạo thành thư mục chứa 2 files: ovf và vmdk, hãy mở nội dung file ovf bằng notepad++

image

Sửa tham số  virtualbox-2.2 thành  vmx-07.

Lưu ý: một số OS như: Linux OpenSuSe x64 thì chỉ có VMX-11 mới support. hoặc bạn sẽ phải chỉnh General trong Virtualbox cấu hình thành Other Linux x64 để khi sang vSphere chỉnh lại HĐH tương thích sau.

image

Lưu lại file OVF sau khi sửa:

image

Cuối cùng là mở vSphere ESXi và deploy VM bằng file ovf.

———————————————————-

Cách 2: cách cũ và hay bị phát sinh việc sửa cấu hình VM trong virtualbox

Dùng 7Zip” để giải nén “extract the OVA”. bấm “OK” để giải nén và bỏ qua các lỗi.

image

image

Tạo 1 bản sao lưu tránh sửa nhầm lệnh trong OVF file và dùng notepad++.

thay đổi dòng nội dung:

image

<vssd:VirtualSystemType>virtualbox-2.2</vssd:VirtualSystemType>

thành dòng:

<vssd:VirtualSystemType>vmx-07</vssd:VirtualSystemType>

Deploy VM trên vSphere client:

Hãy chọn file “Deploy OVF Template”.”đảm bảo là chọn OVF file không chọn OVA file”.

Nếu bạn nhận được các lỗi sau: hardware error: “The OVF package requires unsupported hardware. Details: Line 74: OVF hardware element ‘ResourceType’ with instance ID ‘6’. No support for the virtual hardware device type ’35’.”

hardware error

Để fix lỗi này, mỡ lại file OVF file và xóa <item> có viết cả đoạn tham số XML liên quan tới sound card:

    <Item>
        <rasd:AddressOnParent>3</rasd:AddressOnParent>
        <rasd:AutomaticAllocation>false</rasd:AutomaticAllocation>
        <rasd:Caption>sound</rasd:Caption>
        <rasd:Description>Sound Card</rasd:Description>
        <rasd:ElementName>sound</rasd:ElementName>
        <rasd:InstanceID>6</rasd:InstanceID>
        <rasd:ResourceSubType>ensoniq1371</rasd:ResourceSubType>
        <rasd:ResourceType>35</rasd:ResourceType>
    </Item>

image

Còn lỗi message khác : Line 66: OVF hardware element ‘ResourceType’ with instance ID ‘5’: No support for the virtual hardware device type ’20’

Bạn vẫn phải mở lại file OVF và sửa lại nội dung ở item Instance 5:

<Item>
<rasd:Address>0</rasd:Address>
<rasd:Caption>sataController0</rasd:Caption>
<rasd:Description>SATA Controller</rasd:Description>
<rasd:ElementName>sataController0</rasd:ElementName>
<rasd:InstanceID>5</rasd:InstanceID>
<rasd:ResourceSubType>AHCI</rasd:ResourceSubType>
<rasd:ResourceType>20</rasd:ResourceType>
</Item>

Cần phải chuyển kiểu kết nối ổ cứng ảo SATA controllers, sang dạng SCSI (Instance Id needs to be unique for all the elements):

<Item>
     <rasd:Caption>scsiController0</rasd:Caption>
     <rasd:Description>SCSI Controller</rasd:Description>
     <rasd:InstanceId>12</rasd:InstanceId>
     <rasd:ResourceType>6</rasd:ResourceType>
     <rasd:ResourceSubType>lsilogic</rasd:ResourceSubType>
     <rasd:Address>1</rasd:Address>
     <rasd:BusNumber>1</rasd:BusNumber>
 </Item>

Hãy thay đổi kiểu kết nối ổ cứng ảo bằng ID của SCSI controller:

<Item>
     <rasd:Caption>disk1</rasd:Caption>
     <rasd:Description>Disk Image</rasd:Description>
     <rasd:InstanceId>11</rasd:InstanceId>
     <rasd:ResourceType>17</rasd:ResourceType>
     <rasd:HostResource>/disk/vmdisk1</rasd:HostResource>
     <rasd:Parent>12</rasd:Parent>
     <rasd:AddressOnParent>0</rasd:AddressOnParent>
 </Item

Sau khi đã sửa xong nội dung file OVF, bạn có thể chạy lại deploy vSphere client để cấu hình VM:

ovf import

Máy ảo của bạn sẽ trải qua 4 lần bấm Next:

  • Bấm “Next” nhập tên máy ảo

  • Bấm “Next” và định dạng đúng kiểu ổ Virtual Disk formatting bạn muốn

  • Bấm “Next” và kiểm tra mạng

  • Bấm “Next” và bấm “Finish”

Bạn sẽ cần vài phút để deploy VM, có thể bạn phải chỉnh Memory, CPU, Network để đảm bảo phù hợp tài nguyên cho VM.

adjust machine settings

Bây giờ thì các VM hoàn toàn có thể tắt trên VirtualBox, và hãy để chúng chạy trên vSphere VMware với sự tương thích của nhiều OS, chạy VM trên VMware là lợi thế của bạn,

Chúc bạn thành công và  tận dụng cơ hôi ảo hóa tập trung.

Cài HĐH windows 2012 server R2 cho Laptop DELL Latitude E6330 cần cài thêm Wifi LAN như thế nào ?


làm thế nào tôi có thể tự cho phép kết nối mạng không dây trong Windows Server 2012?

Nếu bạn cài đặt Server 2012 trên một máy tính xách tay (sử dụng LAB như DELL Latitude 6xx0) thì có thể bạn sẽ muốn có được kết nối không dây, nhưng ra khỏi các trình điều khiển Driver giữa Vendor với Windows Client, dây bị vô hiệu hóa và có thể bạn không mang theo một sợi cáp RJ45 để kết nối một cách dễ dàng với mạng LAN/ Internet vì đơn giản các DriversNetwork đó không viết cho Windows Server.

Các bước dưới đây là hướng dẫn sử dụng cài và cấu hình card mạng Wifi cho phép các máy Laptop/desktop cài HĐH Server windows cố gắng kết nối Wifi tương tự như các HĐH client..

Bước 1. Kích hoạt tính năng Windows

image

Để kích hoạt tính năng không dây đầu tiên chúng ta phải kích hoạt tính năng này, để làm điều đó nhấp chuột phải vào start (hoặc sử dụng Server Manager) và chọn Programs and Features.

image

Các cửa sổ Programs and Features xuất hiện, kích vào Turn Windows Features On hoặc Off

image

Add Roles and Features Wizard xuất hiện

image

Nhấn tiếp theo, đối với loại Lắp đặt, chọn Role-Based hay cài đặt các tính năng dựa trên

image

Chọn máy chủ đích của bạn

image

chúng ta không lựa chọn bất kỳ Server Roles nào, bạn kích tiếp theo trên chọn các role Server màn hình

image

vào Select Features màn hình di chuyển xuống để Wireless LAN Service, chọn nó

image

Hãy lưu lại tất cả các chương trình đang làm việc và chọn khởi động lại máy tính tự động và sau đó nhấp vào Cài đặt

image

sau khi khởi động lại, bạn sẽ được thông báo về trạng thái cài đặt

image

Đóng Wizard

Bước 2. Cập nhật trình điều khiển không dây của bạn (tùy chọn)

Bạn có thể hoặc có thể không cần phải cập nhật trình điều khiển không dây của bạn, nếu biểu tượng mạng vẫn không cho phép bạn kết nối không dây để sau khi thêm tính năng này, thì có thể bạn cần trình điều khiển không dây thậm chí nếu không dây của bạn NIC được hiển thị đúng trong Device Manager. Để cập nhật trình điều khiển không dây của bạn nhấp chuột phải vào trình đơn bắt đầu, chọn thiết bị quản lý và xác định vị trí card mạng của bạn trong quản lý thiết bị. Chọn Cập nhật phần mềm Driver.

image

Chọn duyệt máy tính của tôi cho phần mềm trình điều khiển (hãy chắc chắn để có sao chép các trình điều khiển vào một thư mục nơi nào đó bạn có thể truy cập, như ổ cứng C: hoặc một USB storage)

image

chỉ wizard đến vị trí mà bạn đã sao chép các trình điều khiển

image

các trình điều khiển được cài đặt

image

image

 

và cuối cùng bạn sẽ nhìn thấy biểu tượng không dây trong Server 2012.

image

Bước 3. Kết nối tới một mạng không dây

Bây giờ chúng ta phải làm việc không dây chúng ta cần phải kết nối với một mạng không dây, hãy nhấp vào biểu tượng không dây trong khay hệ thống và chọn kết nối

image

chọn mạng không dây của bạn và nhập các thông tin bảo mật của Access Point

image

Công việc hoàn thành.

 

Chúc các bạn thành công !

Làm thế nào để cấu hình Nested ESXi 6.0 có thể hỗ trợ bật EVC Clusters


Hiện trạng:

– Các trung tâm đào tạo CNTT, viễn thông và các ngành đào tạo liên quan tới việc áp dụng trang thiết bị CNTT đều vướng vào việc phải đầu tư phòng Labs.

– Các mô hình Labs thực hành truyền thống đều vướng tới giải pháp phần cứng, phần mềm từ đơn giản đến chuyên biệt.

– Các thiết bị phần cứng thì đầu tư phải phù hợp với số lượng người học,cấu hình phải tối ưu và có thể co giãn “sizing” thu hẹp hoặc tăng trưởng đáp ứng với lượng người học và yêu cầu của phần mềm.

– Các phần mềm đầu tư phải đáp ứng nhu cầu người học trong nhiều giai đoạn vận hành (có đầu tư thay thế mới, có bản quyền, có người quản trị vận hành chuyên nghiệp, có chuyên gia am hiểu và có kỹ năng vận hành các phần mềm…)

– Chi phí tiền điện, điều hòa, hạ tầng và chi phí duy trì hệ thống máy chủ, máy trạm người dùng và các thiết bị mạng cũng không có gì là nhẹ nhàng, gánh nặng chi phí cho Doanh nghiệp khi vận hành.

– Chạy theo các đối tác tiêu chuẩn đạt “Quốc tế”  mà ngày nay người ta gọi là “hố đen hay cạm bẫy thời Công nghệ”.

Giải pháp của thế giới:

– Ảo trong ảo “VMware ESXi Nested”.

 

Các trung tâm đào tạo Viet nam:

  • Doanh nghiệp Việt nam nói chung là tư duy cởi và mở, luôn xác định phải hoành tráng để cạnh tranh được với các “đối thủ khác” thì phải có phòng Labs hoành.
  • Máy chủ, máy trạm phải hoành, cấu hình “khủng”.
  • Tiền chi phí điện, điều hòa làm mát, tất nhiên sẽ phải “Khủng”.
  • Chi phí chiêu sinh nhiều lúc cũng phải “siêu thấp, phá giá để các đối thủ mất khách, cơ hội về mình cao hơn…”.

Tóm lại:

– Nhìn vào mấy gạch đầu dòng trên, tôi nghĩ tưởng ngay đến việc các trung tâm đào tạo Việt nam đang đầu tư theo kiểu: đầu vào chi phí lớn, đầu ra doanh thu nhỏ và tự làm nó teo tóp, bấp bênh.

– Vậy Công nghệ thông tin các bạn Doanh nghiệp cho nó đi đâu về đâu rồi, giải pháp trong ngành đào tạo ở Việt Nam coi như không áp dụng, hay chỉ là bề ngoài phòng Labs hoành tráng phù phiếm.

 

Luận thuyết:

Gần đây tôi đã viết một số bài về việc chạy ESXi lồng nhau “nặp tổ” hay còn gọi là “Nested ESXi” nhưng tất cả đều vướng vấn đề vMotion EVC (Enhanced vMotion Compatibility). Trong vSphere 4.x, bạn không thể join các máy chủ ESXi lồng nhau thành một cụm với EVC kích hoạt. Với vSphere 5, có thực sự là một cách dễ dàng để kết nối lồng nhau giữa 2 hoặc nhiều máy chủ ESXi 5.x ? để một cụm EVC kích hoạt và vẫn còn tổng hợp sức mạnh trên nền 64bit  GuestOSes. Bữa nay tôi viết chi tiết bài này nhằm cấu hình kích hoạt EVC trên tổ hợp các máy chủ ESXi Host 6.0 đã được lồng nhau. Theo bạn chúng có khoai chiên hơn không ?

 

Mục đích chính:

Hiện tại chúng tôi đang giảng dạy hệ thống ảo hóa trên cả các máy chủ Vật lý  Pi / pServer và máy chủ ảo trong ảo ESXi Nested (mục đích giảm giá thành các khóa học Công nghệ cao, cần ảo hóa và tối ưu nhằm tăng thêm được nhiều bài thực hành trong các lĩnh vực khoa học khác nhau)  .

Tôi phải cảm ơn các bạn học trò, các bạn học viên đã cùng tôi học các bộ môn chính khóa ảo hóa của VMware ICM 5.5 / 6.0 và các giảng viên, các trợ giảng và các kỹ sư thực hành trong các Doanh nghiệp đã cùng nêu ra các vấn đề tồn tại, vướng mắc của công nghệ ảo hóa, những ý kiến vô cùng cần thiết nhằm giúp tôi kiên định theo đuổi và tìm ra những kẽ hở, lỗi và những vướng mắc cần vượt qua.

Điều khẳng định:

– Vẫn như mọi khi, những thứ vướng mắc này đều không nằm trong những gì dạy dỗ hay bài giảng chính thức của VMware.

– Các bạn sẽ gặp phải các nguy cơ rủi ro của riêng bạn.

 

Dưới đây là các bước thực hiện:

Bước 1. Bạn phải chạy vSphere 6, tạo một cụm tối thiểu 2 máy chủ ESXi 6 lồng nhau.

Lưu ý: Các máy chủ ESXi host 6.0 lồng nhau cần phải bật cả chế độ VT/HT trước khi bật chạy, hãy xem bài:

Lỗi dựng hệ thống vCenter Server Appliance 64bit trên nền ESXi Host Nested 6.x

Bước 2. Tạo mới một cụm EVC kích hoạt hoặc sử dụng một cụm CPUID hiện có để giúp bạn chọn lựa nhanh cái bạn muốn và nhấp vào “Current CPUID chi tiết” trong cài đặt cluster.

image

Chọn mục VMware EVC

image

 

 

eax 0000:0000:0000:0001:0000:0110:1010:0100

ecx 0000:0000:1001:1000:1110:0010:0011:1101

edx 1000:1111:1110:1011:1111:1011:1111:1111

ecx 0000:0000:0000:0000:0000:0000:0000:0001

edx 0010:1000:0001:0000:0000:1000:0000:0000

eax 0000:0000:0000:0000:0000:0000:0000:0000

ecx 0000:0000:0000:0000:0000:0000:0000:0000

edx 0000:0000:0000:0000:0000:0000:0000:0000

 

 

Bước 3. Sao chép các lá cờ “flag” có trong CPUID Mask của cụm EVC đã được kích hoạt trên vào 1 file txt để bạn có thể dùng nó trong các bước tiếp theo

image

Bước 4. Shutdown các máy chủ ESXi 6 đã chạy ảo trong ảo “lồng nhau” và bắt đầu chỉnh sửa các thiết lập của VM, chọn “Options” tab, kích vào “CPUID Mask-> Advanced”.

– Phải shutdown ESxi host 6.0 trước khi cấu hình CPUID

image

– Bấm nút Advanced để cấu hình các lá cờ “Flags” của CPUID Mask theo đúng EVC đã được sao chép ra file text.

image

 

Bước 5. Bắt đầu copy / paste các thông số từ file text (lưu ý phải đúng vị trí các Flags tương ứng).

image

Bước 6.

Sau khi đã đưa các thông số CPUID mask vào cho từng máy chủ ESXi 6 Nested rồi, bạn hãy bật các máy chủ ESXi host đó lên.

Hãy dùng vSphere Client 6 hoặc Web Sphere client 6 để cấu hình Clusted cụm các máy chủ ESXi host 6 Nested, bật VMware EVC nên và chạy các tính năng vMotion EVC.

 

Bạn biết đấy, bây giờ thì tôi đang ngồi chờ đợi trước màn kết quả của các bạn rồi Nụ cười.

Đấy đúng không phải là công nghệ VMware ;( .

Chúc bạn thành công !

Information Technology apprentice how to become IT System Administrator?


This is the letter I sent to my beloved nephew is studying computer science at the Federal Republic of Germany.

 

http://education-portal.com/articles/How_to_Become_a_System_Administrator_Career_Roadmap.html 

I do not have much time to speak of the problems of this subject, complete with belongings experience, general and detail of the vision we need to determine before (I have a habit of drawing faster verbal and written). The following pages draw speak your wishes and thoughts of attention:

image

(You are done for windows 7 – MCST 2011)

I have a MindMap and Vision for your Job:

image

You should choose one of two paths to go after (0,1,2,4 or 0,1,3,5)

image

The names written in red letters are the tools you have to learn, to read concept, to practice and work hard.

image

These are the skills, road map technology products you will have to experience for yourself the unknown variables through professional engineer, architect to information technology.

 

P.S: Do not have much time to play, only much to learn, learn and work. If you have to do it alone, you are still too long.

Please refer to the website: 

Microsoft Training: https://www.microsoft.com/learning/en-us/training.aspx 

Microsoft Virtual Labs Online and Free: http://technet.microsoft.com/en-us/virtuallabs/bb467605.aspx 

VMware Labs Online and Free: http://labs.hol.vmware.com/

 

I really regret not spending a lot of time to teach you this time, I know you need to learn, honestly I wish you better than me someday.

On the occasion of the summer, you should be learning in HCMC or Hanoi Robusta, I’ll tutor you.

http://robusta.vn/

 

Wish you find the subjects, courses and practical experience in the new job !

Your uncle, I love you !

PhD. Le Toan Thang

SharePoint nâng cao: Phần 1– Cấu hình RBS của SQL 2008 R2 với SharePoint 2010, một giải pháp tối ưu cho việc lưu trữ films, hình ảnh, files và tài liệu


Tôi xin chia sẻ cách:

  1. Cấu hình chức năng lưu trữ các files hình ảnh, âm thanh, video, văn bản ở ổ đĩa cứng của SQL Server 2008 R2 với SharePoint 2010.

image

Cấu hình RBS and Blobs Caching dùng cho SQL Server 2008 R2 và SharePoint 2010

 

2. Kết hợp hệ thống giải pháp ảo hóa hạ tầng và triển khai trên VMware vSphere 5.5

image

 

Mục đích: khi áp dụng công nghệ RBS chúng ta sẽ có thể hỗ trợ SharePoint 2010 lưu trữ được nhiều loại dữ liệu Media: video|mp3|audio|jpg|pnd|documents

thành dạng file và trên 1 thư mục độc lập giúp giảm tải việc lưu trữ dữ liệu trực tiếp trên MS SQL  (bản thân SharePoint 2010 có hạn chế kích thước Site collection DB: 300Gb ).

 

Trước tiên chúng ta xem một file pptx được thêm vào phần chia sẻ của SharePoint 2010:

image

và kết quả được lưu trữ trong ổ đĩa cứng của SQL server 2008 R2, với chức năng lưu trữ ngoài đối với các file dạng binary .

image

 

Các bước thực hiện:

Có 22 bước sau để cấu hình RBS cho SQL Server 2008 R2 và sau đó cấu hình SharePoint 2010 để có thể chạy với chức năng RBS.

Trên máy chủ SQL Database

Bước 1. Mở Start -> all Programs -> Microsoft SQL Server 2008 R2 -> Cofiguration Tools -> SQL Server Configuration Manager

image

Bước 2. Click vào Properties của dịch vụ trong mục SQL Server

image

Bước 3. bấm kích hoạt FileStream và thiết đặt các thông số liên quan của nó trên một dịch vụ của SQL Server 2008

image

Bước 4. Mở Start -> all Programs -> Microsoft SQL Server 2008 R2 -> SQL Server Management Studio

image

Bước 5. Kết nối máy chủ SQL Server

image

Bước 6. Chọn DB content của SharePoint 2010 cần cấu hình tách File ra khỏi DB bằng RBS

– Xem thông tin xác định tên database của một ứng dụng web application

Mở SharePoint Center Administrator > Site Collection List

image

– Mở cửa sổ truy vấn cho dịch vụ

image

Bước 7. Chạy thực thi lệnh sp_configure

image

EXEC sp_configure filestream_access_level, 2
RECONFIGURE

Tham khảo link hướng dẫn: Enable FileStream of SQL Server 2008

Bước 8. Mở của sổ truy vấn cho chính data content SharePoint tiếp theo

Chạy lệnh với sys.symmetric_keys 

image

use [WSS_Content_w]
if not exists (select * from sys.symmetric_keys where name = N’##MS_DatabaseMasterKey##’)create master key encryption by password = N’Master Key Password RBS4SQL@SPS!

 

Bước 9. Thực thi lệnh với bảng biểu sysfilegroups

image

use [WSS_Content_w]
if not exists (select groupname from sysfilegroups where groupname=N’RBSFilestreamProvider’)alter database [WSS_Content_w]
add filegroup RBSFilestreamProvider contains filestream

 

Bước 10. Chạy lệnh thêm địa chỉ nơi chứa RBSFileStream

image

use [WSS_Content_w]
alter database [WSS_Content_w] add file (name = RBSFilestreamFile, filename = ‘e:\Blob’) to filegroup RBSFilestreamProvider

 

Bước 11.  Sau khi chạy lệnh RBSFileStream

image

 

Bước 12. Download bộ cài RBS cho SQL server 2008 R2 x64

Click download x64

image

Bước 13. Chạy RBSx64 bằng quyền Run As Administrator trên máy chủ SQL Server 2008 R2

image

(Chọn phần mềm RBSx64.msi, bấm giữ phím “Shift” và bấm chuột phải)

image

image

image

image

image

image

image

image

image

image

Sau các bước cài RBS cho máy chủ SQL Server 2008 R2 nói trên, cần kiểm tra dữ liệu

image

hoặc dùng lệnh query trên SQL

image

 

Bước 14. Chuyển sang cấu hình RBS trên máy chủ SharePoint Farm

Dùng CMD chạy với quyền Run As Administrator

image

 

Chạy lệnh msiexec:

image

msiexec /qn /lvx* rbs_install_log.txt /i RBSx64.msi TRUSTSERVERCERTIFICATE=true FILEGROUP=PRIMARY DBNAME=”WSS_Content_w” DBINSTANCE=”SQL-     ” FILESTREAMFILEGROUP=RBSFilestreamProvider FILESTREAMSTORENAME=FilestreamProvider_1

Lưu ý:

DBINSTANCE = Tên máy chủ SQL

Bước 15. Kiểm tra xem file log chạy như thế nào ?

image

Kết quả thiết đặt trong file rbs_install_log

Bước 16. Chuyển sang các máy chủ SharePoint Join Farm “JFarm” và máy chủ Application Server “AppSRV”

thực hiện tương tự bước dưới đây

image

msiexec /qn /lvx* rbs_install_log.txt /i RBS_X64.msi DBNAME=”WSS_Content_w” DBINSTANCE=”SQL-    ” ADDLOCAL=”Client,Docs,Maintainer,ServerScript,FilestreamClient,FilestreamServer”

Lưu ý:

DBINSTANCE = Tên máy chủ SQL

Bước 17. Kiểm tra xem file log chạy như thế nào ?

image

Bước 18. Quay trở lại máy chủ SharePoint Farm để Cấu hình

Mở Power Shell của SharePoint 2010

image

 

Nhập lệnh sau để chạy trên SharePoint 2010 PowerShell:

image

$cdb = Get-SPContentDatabase “WSS_Content_w”

$rbss = $cdb.RemoteBlobStorageSettings
$rbss.Installed()
$rbss.Enable()
$rbss.SetActiveProviderName($rbss.GetProviderNames()[0])
$rbss

 

image

Kết quả sau khi chạy SharePoint 2010 Shell

Bước 19. Chúng ta có thể thêm các lệnh khác liên quan tới giới hạn sử dụng RBS trên SharePoint 2010:

Nhập lệnh giới hạn kích thước ghi ra thư mục e:\Blob

Mở SharePoint 2010 PowerShell trên máy chủ SharePoint Farm:

image

Lưu ý: kích thước MinimumBlobStorageSize tính theo Kb

$rbss.MinimumBlobStorageSize=1048576  ( ~ 1Mb)

 

Bước 20. Bây giờ ta có thể kiểm thử việc:

– Upload các file tài liệu, Video, Audio có kích thước trên 1Mb lên SharePoint Web

và mở thư mục e:\Blob  trên máy chủ SQL Server để kiểm tra cácc file được lưu.

image

 

 

Chúc các bạn thành công trong phần cài, cấu hình RBS

 

Kết thúc phần 1 – Cấu hình RBS của SQL 2008 R2 với SharePoint 2010, một giải pháp tối ưu cho việc lưu trữ films, hình ảnh, files và tài liệu.

Mời các bạn đón đọc tiếp Phần 2 – Cấu hình Blob Cache và giải mã lưu trữ , chia sẻ các file SharePoint 2010.

Bệnh “Ngộ nhận” là gì ? làm sao lại có bệnh này và cách chữa bệnh này ?


Trên đời hoạn lộ có rất nhiều cảnh đời và con đường mà mỗi người chọn để đi, để sống “ĐƯỜNG SỐNG” và cái nghiệp nó dẫn dụ đi theo “NGHIỆP DẪN” (hơi khó hiểu ở vế sau, nhưng mà có lẽ đúng vì chúng ta luôn có 2 vế để mà cân bằng).

Sống trên đời có 2 thứ chúng ta xét tới đó là:

Loại người thứ nhất: sẽ nói nhiều trước khi làm hoặc “chém gió” trước khi nghĩ và làm thực.

Loại người thứ hai: sẽ làm hùng hục trước khi nói hoặc “Trảm” trước khi tấu (ít có khả năng mắc bệnh, không bàn đến trong bài này).

– Tôi xin vẽ cách hiểu logic của những thứ nói trên như sau:

image

– Xét theo góc độ bệnh học: chúng ta có thể đổ lỗi về căn nguyên bệnh này là do Virus “Ngộ nhận”

Virus bệnh này ấp ủ thường trực trong mỗi suy nghĩ con người chúng ta, với những ai tỉnh táo, sáng suốt, mạnh khỏe tinh thần thì nó khống có điều kiện chuyển thành bệnh, với bất kỳ ai mụ mẫm, háo danh, mờ mắt chỉ cần có điều kiện là mắc bệnh ngay.

Các Cán bộ viên chức nào cũng mong muốn có bảng thành tích cá nhân vàng chóe để khẳng định khả năng sáng tạo, sự thông minh nhạy bén, khiếu diễn thuyết, tài viết lách, cuốn từ điển sống của tri thức, trình độ thuyết phục dẻo đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra…

Muốn kết luận được tài năng của bản thân lại cần đến những người xung quanh nhận xét về mình, mà thái độ của thiên hạ vô cùng đa dạng:

  1. Người dĩ hòa vi quý lúc nào chẳng gật gù, nắm tay lắc lắc,
  2. Người giữ xã giao mỉm cười, nhìn xa ngẫm nghĩ,
  3. Người không muốn biểu lộ thái độ thì quay đi chăm chú làm việc khác,
  4. Chỉ một thiểu số người vì lý do sâu xa nào đó sẽ tán thưởng nồng nhiệt khen ngợi hết lời, tấm tắc lắc lư thế là cơn bệnh ngộ nhận bắt đầu phát tác tự nhiên hơn cả ruồi.

Những người ngộ nhận thấy tự tin hơn, khi gặp gỡ đồng nghiệp và cấp trên rất đon đả, chững chạc, trong đầu họ lăm lăm một số ý tưởng, chủ đề thu phát được qua các tần số tán gẫu công cộng, chỉ đợi dịp là thao thao bất tuyệt.

Hệ quả: vậy là đã có nhiều sếp cứ ngỡ rất tình cờ tìm ra nhân tài bèn tin cậy giao việc cho mặc sức thể hiện và ung dung đợi kết quả như ý trong khi những tài năng này lo toát mồ hôi hột chạy vạy nhờ vả anh em, bạn bè giúp đỡ làm hộ, viết thuê để cốt sao thành quả thật hoành tráng tương xứng với năng lực mà bản thân và cấp trên cùng ngộ nhận.

Tác dụng phụ:

Không ít trường hợp đã biết rõ mình nhưng cố tình “hình tượng hóa bản thân – nặn tượng”  cao lồng lộng bằng cách lo lót bằng cấp này nọ, thuê làm luận văn để đại từ nhân xưng có thêm mấy tiền tố đáng nể hơn. Một số người khác còn bào chế những tuyệt chiêu bằng cách quảng cáo, khuếch trương những quan hệ ảo. Họ thường đưa ra vài đại từ nhân xưng thân mật hoặc danh từ riêng kiểu:  cái tay Nguyễn Văn X này, ông anh Minh Z ấy, sếp Trần Y chứ gì… với giọng điệu người nhà, thậm chí còn lấy điện thoại di động ra bấm số gọi ngay, sau một lúc lại thanh minh tiếc rẻ anh ấy, sếp ấy chắc đang bận họp nên tắt máy (thực tế đọc được mấy cái tên này trên báo chí hoặc nghe ai đó kể chuyện có quen biết, thế là coi như bạn người cũng là bạn mình, “thế giới đại đồng “).

Qua kịch bản biểu diễn của bệnh nhân ngộ nhận ấy mà khối người lác mắt, cung kính nhờ cậy việc này việc nọ…

Xét trên khía cạnh nhân văn, người nào ngộ nhận về bản thân thì bất lợi trên đường sự nghiệp. Lý do là mình tự kỷ ám thị đến mức theo chủ trương duy ngã độc tôn, coi thiên hạ yếu kém, mãi đến lúc sực tỉnh mới ngấm sự chán ngán, suy sụp. Hơn nữa, để người khác ngộ nhận về mình thì hậu quả xấu cho cả hai bên: người được ngộ nhận càng đắc ý uống thuốc mê quá liều khó tỉnh, người ngộ nhận thì thất vọng bởi không chọn đúng mặt gửi vàng, lại còn hoang mang vì trình độ bản thân không phân biệt được thật giả, hay dở. Có những người chưa từng hiểu lầm về bản chất và năng lực của mình nhưng do vài lần được khen thành tích nhỏ như ong mật thành con chim công, thế là vênh váo tự hào coi mình bắt đầu gia nhập thế hệ thiên tài mới. Tất nhiên không phải ai cũng cả tin với lời khen như vậy nhưng do được nhiều lời khen lấy lòng quá đâm ra sung sướng, tự thấy mỹ mãn với mình.

Nguyên nhân bệnh thêm nặng:

Có thể kết luận rằng: khen ngợi không trung thực chính là nguyên nhân khiên cho bệnh ngộ nhận phát tác. Tăng bốc phỉnh nịnh là liều thuốc độc cực mạnh giết chết nhận thức chân chính. Ngỡ rằng đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh sẽ có thuốc chữa trị, nhưng giời ạ, khó lắm! Làm gì có loại cân đo vi chính xác để xác định lời khen nào thật, giả? Có ai thừa nhận rằng những lời mình vừa nói là tâng bốc? Cho nên danh ngôn mới chua rằng: lời nói như tên, đã cắm vào tai ai, không tài nào rút ra được. Tất nhiên, cần có ngoại lệ cho những câu nói khiến cho người ta ngộ nhận, đó là những mũi tên vô hình tẩm mật ong rừng! Ngọt ngào lắm ai ơi!

 

Phương pháp chữa:

Rất ít thuốc để chữa, thuốc rất đắng tùy thuộc cấp độ bệnh nhẹ hay nặng và quan trọng “Tự vấn lương tâm và tự giác ngộ”:

  • Có thấy sai không ?
  • Có thấy cần quay đầu lại để làm lại mà không hối tiếc không ?
  • Có tự vấn lương tâm chua sót trước khi trở thành người có “Đạo đức giả” không ?

 

Thuốc chữa chỉ có tác dụng hiệu quả:

  • Khi thấy cảnh đời con người đau khổ, chỉ có cảm thông sâu sắc, chia sẻ với họ thật lòng, các bạn à: “sống trong đời sống cần có tấm lòng cao thượng  biết hy sình vì gia đình, người thân, bạn bè” mới không bao giờ còn cái bệnh Quỉ quái đó.
  • Trong lời ăn tiếng nói phải tử tế, trân thành và biết trân trọng mọi người

(từ cái nhỏ nhất đừng có văng tục chửi thề, ngay cả từ viết tắt chửi tục cũng vậy – vì cái tâm của bạn nó nghe được, nó cũng sẽ nhớ được, nó thành quen ở mồm “Khẩu thiệt” thì nó cũng có thể dẫn đến ở ý thức, nhận thức và hành động của bạn “nó là Vô thức ý” rồi dẫn tới hành sử thực tế của bạn. Đậy gọi là “NGHIỆP DẪN Ý” nhiều tai họa, tính mạng hiểm nguy chỉ bởi lời ăn tiếng nói, câu viết như vậy đó).

  • Đừng lười suy nghĩ, đừng lười lao động chân tay hay trí óc, hãy vận động để sáng tạo hãy học hỏi thay vì ngồi chỗ “Chém gió”, hãy làm việc cho dù “Chó cứ sủa đoàn người cứ đi”.
  • Không phải vì bạn đóng góp cho ai, cho xã hội nào, cho công ty nào được nhiều giá trị là vinh quang đâu, đừng lầm tưởng nay có thể là như thế này mai thế khác nhưng Lao động là vinh quang.
  • Hạn chế “Chém gió” khi có thể là tiết kiệm thời gian dành cho Lao động hoặc chỉ đúng với mục đích tôn cao giá trị của “Lao động là vinh quang”.

 

Chúc Cô gì, chú bác, anh chị em và tất thẩy Trời – người – các loài vật không mắc bệnh “NGỘ NHẬN” !

 

Trích báo:  Hà nội ngàn năm văn hiến.

P.S: Bài này không có trong báo sức khỏe & đời sống.

Phần 2. Thêm ổ cứng iSCSI của windows server 2008 R2 vào ESXi Host 5.5 như thế nào ?


 

Vẫn như phần 1. Bạn cần phải download và cài trước tiên bản Microsoft iSCSI software target:
1. Mở Microsoft iSCSI bấm phải chuột mục iSCSI targets và bấm ‘Create iSCSI target’.
2. Bấm next.
3. Nhập tên target và bấm next.
4. Ở mục IQN identifier tab thêm  tên của IQN của máy chủ ESXi host mà bạn định thêm ổ cứng iSCSI Target , nếu không thấy nó trong list thì xin bạn hãy bấm nút Browser. Bạn cũng có thể nhận được IQN của máy chủ ESXi Host bằng cách đăng nhập vào ESXi Host thông qua phần mềm vSphere client > bấm Storage adapter > iSCSI software adaptor.

image

5. Copy IQN initiator từ trong mục iSCSI Software Adapter

và thêm vào trong phần mềm Microsoft iSCSI Software Target 3.3 cài trong windows server 2008 R2

image

Bây giờ thêm IQN Identifiers của vmware esxi host vào

image

Đã xong ở máy chủ Microsoft iSCSI Software Target 3.3

hãy quay lại vSphere Client nơi đang cấu hình iSCSI Target Adapter

6. Bấm vmhba34 ở dưới  iSCSI software adapter và bấm propeties.
7. Dưới tab  General bấm cấu hình configure and enable.

image
8. Nhập IP của máy chủ iSCSI software Target ở Tab Dynamic Discovery

image

 

Bấm OK
9. Bấm scan All và iSCSI softwer adapter sẽ xuất hiện LUN.

image

10. Bây giờ mở chọn mục Storage và bấm rescan all. Chọn  discovered LUN và bấm Add Storage > select disk/LUN và bấm  next  để chọn tên datastore > bấm next để kết thúc.

image

11. Thêm Storage

image.
Bây giờ thì các bạn đã thêm 1 ổ cứng iSCSI trực tiếp vào máy chủ ESXi Host nhằm tăng dung lượng Storage cho hệ thống VMware ảo hoá bằng Hypervisor hoặc vCenter.

image

 

Ghi chú: Ổ cứng iSCSC tối đa mà ESXi Host có thể quản lý : 2TB, nếu bạn có ổ cứng lớn hơn thì cách tốt nhất phải Split ngay từ phần máy chủ Microsoft iSCSI Software Target 3.3.

 

Trong phương pháp này vẫn có thể còn một số lỗi liên quan định dạng VMFS 

ví dụ:

Create datastore in 5.5 error Call “HostStorageSystem.ComputeDiskPartitionInfo” for object “storageSystem” on ESXi “192.168.222.133” failed.

Các bạn nên bình tĩnh tra cứu lỗi:

https://communities.vmware.com/message/2294999 

và đùng vội vàng xử lý xoá đi làm lại mà tra cứu và tìm cách sửa lỗi theo logic:

như:

Tạo lại theo partition là VMFS3, sau đó nếu tạo thành công thì xoá và tạo lại theo định dạng VMFS5

image

image

Kết quả khi tạo lại Storage theo định dạng VMFS-5

image

%d bloggers like this: