Category Archives: Hồi ký tùy bút

Ngày 14.2 của 12 năm Xuân đã trôi qua


Đã 4 năm với câu viết “February 14, 2012 at 3:52pm · Microsoft:”

Dị thời, Dị loại, Biến dị nhi thục

“Trích dẫn từ phân tích của Langmai.org trong bài giảng của Thích Nhất Hạnh” về đạo giới và Thiền

Dị thục khi dự vào, giới và địa cũng thế. Tàng thức A-lại-gia là một chùm đủ loại hạt giống mà sự chín mùi của chúng có nhiều khác biệt, nên A-lại-gia có một tên khác là Dị thục thức.

Dị thục (Dị là khác. Thục là chín – vipāka, ripening.) Dị thục là chín không đồng đều, chín một cách khác nhau. Khi chín, các hạt giống trong tàng thức mới hiện hành. Có ba loại dị thục:

–   Dị thời nhi thục (ripening at different times) là không chín cùng một lúc. Khi ta “giú” (giấm – ủ) trái cây cho chín, không phải tất cả các trái cây cùng chín một lúc, mãng cầu chín trước rồi đến chuối, mít chín sau. Đó là dị thời, tức là khác thời. Những hạt giống trong chúng ta do ông bà, thầy bạn gieo vào và tưới tẩm sẽ chín trước hay chín sau tùy thời gian. Hạt giống nào cũng cần thời gian để chín và sự thực tập là tưới tẩm những hạt giống đó. Với thời gian và sự tưới tẩm hạt giống sẽ lớn lên đúng lúc và sẽ chín mùi.

–   Dị loại nhi thục (ripening of different varieties) là chín tùy theo loại. Trái chuối khi chín sẽ thành chuối chín chứ không thành mãng cầu chín, mãng cầu khi chín sẽ thành mãng cầu chín chứ không thành chuối chín.

–   Biến dị nhi thục (ripening and changing) là khi chín thì biến dạng chứ không giống như khi mới sinh. Trái cam khi chưa chín thì xanh và chua, khi chín rồi thì vàng và ngọt.

Thức A-lại-gia gồm đủ loại hạt giống và chúng chín, chúng hiện hành ở những thời điểm khác nhau. Hạnh phúc hay khổ đau của chúng ta tùy thuộc vào sự chín tới của những hạt giống. Hạt giống hạnh phúc chín thì sẽ có hạnh phúc, hạt giống đau khổ chín thì sẽ có đau khổ.

Một hạt giống mới gieo vào là một cái nhân gọi là nghiệp nhân (karma-hetu, action-as-cause.) Cái nhân đó khi chín sẽ đưa đến một kết quả gọi là nghiệp quả (karma-phala, action-as-result.) Dị thục thức là tổng thể các hạt giống, khi chín sẽ tạo ra một kết quả tổng hợp gọi là dị thục quả. Con người của mình trong giờ phút hiện tại là một dị thục quả – kết quả của nhiều loại hạt giống đã chín.

Để cho đơn giản, chúng ta hãy lấy ví dụ một người tiếp nhận hai nghiệp nhân, một nghiệp nhân mang lại hạnh phúc và tiếp theo một nghiệp nhân mang lại đau khổ. Nghiệp nhân gây đau khổ sẽ làm giảm sút ít nhiều nghiệp quả hạnh phúc. Tình trạng hạnh phúc hay khổ đau của chúng ta trong giờ phút hiện tại là một kết quả tổng hợp (một vectơ tổng hợp – nói theo ngôn ngữ hình học) của tất cả các nghiệp nhân. Đó là một dị thục quả.

Vậy dị thục thức (A-lại-gia thức) là sự kết hợp của tất cả các nghiệp nhân khi các nghiệp nhân đó chín. Khi đó, tâm thức ta là một thứ nghiệp quả, ở một vị trí gần nhất với tổng thể các nghiệp nhân. Nếu ta có nghiệp nghiện thuốc phiện, thì lực hấp dẫn của thuốc sẽ dẫn ta liên hệ với những người nghiền ma túy. Dị thục là động lực sâu xa dẫn dắt ta tới những nơi có sinh hoạt mà ta ưa thích.

Đã 6 năm February 14, 2010 at 3:08pm

Chia tay với Tây Đô, 17h trở về Đông Kinh đón Xuân miền Bắc

Thang Lee's photo.

Ngàn năm Văn Bia Vinh Lăng, Nguyện đời đời Tôi con cháu Lê ghi tạc và làm theo người

Thang Lee's photo.

February 14, 2010 at 3:02pm

Xuân về trên đất Việt,

Tựa trích trong Văn Bia “Vĩnh Lăng”, lời biên: NGUYỄN TRÃI, Lời tựa: LÊ THÁI TỔ.
Vật gốc từ Trời, người gốc từ Tổ. Ví như cây và nước, tất có gốc, nguồn. Bởi vậy, từ xưa các dòng Đế-vương nổi lên, như nhà Thương, bắt đầu từ Hữu Nhung; nhà Chu, bắt đầu từ Hữu Thai… Vì rằng: gốc thịnh thì là tốt, nguồn sâu thì dòng dài. Nếu không phải nhờ ở nhân-ân bồi-đắp được dày-dặn, phúc-đức chung-đúc được lớn-lao của các Đời-Trước, thì đâu có được như thế! Trẫm gặp đời nhiều hoạn-nạn, mở nước, dựng nền, càng thấy khó-khăn! May mà Trời cho, Dân theo, gây nên được công-nghiệp, ấy thực là nhờ ở các bậc Tổ-tông tích-lũy mãi nhân-đức, mà đi tới cả! Trẫm nghĩ về chuyện đó mãi bèn chép vào sách, gọi là “Lam Sơn thực lục”.
Năm nay hội nghĩa, ngọa Hổ rùng mình điềm họa hay điềm lành chưa tỏ, chỉ biết năm mới Xuân về: Cầu chúc toàn dân Việt : Hạnh phúc, An khang, thịnh vượng. Đoàn kết như Cha Ông đã dậy để vượt mọi Phong ba đến ngày Thắng lợi.
Mồng một tết Canh Dần 2010, đứng dưới Văn bia Vĩnh Lăng một ngày xuân mới.

Đường về thăm Vua Cha còn xa quá, đây rồi Núi Thủy

Thang Lee's photo.

 

February 14, 2010 at 12:53pm ·

Vào Hội giữa trưa nắng to, Ta đang giữa trời Lũng trong xanh, giờ này trời Bắc với Trời Nam há có đẹp bằng ?

Thang Lee's photo.

 

February 14, 2010 at 12:53pm ·

Đường mòn Hồ Chí Minh qua Cẩm Thủy một sớm Xuân một mình một ngựa một đường

Thang Lee's photo.

February 14, 2010 at 12:53pm ·

Vào Hội giữa trưa nắng vàng, Ta đang giữa trời Lũng trong xanh, giờ này trời Bắc với Trời Nam há có đẹp bằng ?

Thang Lee's photo.

 

February 14, 2010 at 12:53pm ·

 

 

February 14, 2010 at 12:53pm ·

Phút nghỉ ngơi trước khi vào Hội thề Lũng Nhai “đất gần với dòng họ Tổ tiên đây rồi”

Thang Lee's photo.

 

Vào Hội giữa trưa nắng, Ta đang giữa trời Lũng trong xanh, giờ này trời Bắc với Trời Nam há có đẹp bằng ?

image

Đến với đất của những Vị Vua Cha rồi, Vĩnh Lăng đây rồi, mưa rồi lại nắng. Vái 3 vái “Lê Sơ” Quắc thước nhìn xa xa.

 

Đúng ngày này 12 năm trước, vừa tết Âm lịch xong, và là ngày Valentin Day

February 14, 2004 at 17:53pm at Bremen, cầu bắc qua sông Weser, Đức.

image

Vậy là đã có biết bao nhiêu kỷ niệm đã trôi qua cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng nhưng khác năm.

 

Chúc mọi người, mọi gia đình năm mới sức khỏe, hạnh phúc, vui vẻ và vạn sự như ý !

Bài thơ nhân Một ngày đẹp nhất trong 6 tháng đầu năm 2014


 

Sáng mùa hạ chạy vòng Hồ tây 18km

Chim sáo hót trong lồng treo cành Si

Ba du thuyền hóng gió đợi mở hàng

Chuông sớm ở Chùa Trấn quốc

Xem cảnh câu cá chân đê Quảng Bá

 

Trời vào hạ rón rén vén màn mây

Tháp chuông đồng Phủ tây hồ trong ánh sớm mai

Hương sen thổi nhẹ khúc cong Trại nuôi thuỷ sản

Kìa kìa chút nước long lanh đọng trên những cánh hoa bướm

Xa xa chục toà tháp đâm vào mây

WP_20140518_041

 

Nhân dịp chạy bộ vòng Hồ tây sớm chủ nhật 18/5/2014.

TS. Lê Toàn Thắng.

Lưu bút chuẩn bị đón Xuân 2013


Tiễn mùa Đông 2012

Những hình ảnh kỷ niệm Năm tháng đã qua của các Anh Chị người thân trong Đại gia đình Việt

 

Scanner_0005Scanner_0006Scanner_0007

Tiễn biệt Mùa Đông lạnh giá, xa xôi và đơn độc:

DSC_0074

Minh Trang, Mát-x-cơ-va, 2012

DSC00721

Anh Dzich, Hà-nội 2011

DSCF4123

Ngọc Hà, Luân-đôn, 2009

31012009_231012009_1

Đào miền bắc, Mai miền nam đang đợi nàng tiên Mùa Xuân trở về để kịp khoe sắc hương.

16 Điều tâm niệm trong cuộc đời làm người mà bạn luôn tu tập làm theo

1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.

2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là giả dối, dối trá.

3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự cao tự đại.

4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen ghét, ghen tỵ.

5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.

6. Tỗi lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu, bất trung.

7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty.

8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên khi đã từng bị vấp ngã.

9. Phá sản lớn nhất của đời người là Tuyệt vọng.

10. Tài sản lớn nhất của đời người là Sức khỏe và Trí tuệ.

11. Món nợ lớn nhất của đời người là Tình cảm.

12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

15. Thành công lớn nhất của đời người là không làm khổ người khác.

16. Hạnh phúc lớn nhất đời người là đem niềm vui đến cho mọi người.

 

Thơ năm 2011 Tân Mão:

Tiễn “Đông chí” đón “Xuân về”

Mong sao năm nay Tân Mão
Nhiều cái mới, cơ hội mới
Khó khăn thách thức vẫn vượt qua
Như truyền kỳ “Bát tiên quá hải”.

Đường đi mới, thấy chân trời sáng
Phía cuối đường hầm, bóng tối mờ dần
Sau những ngày lao động nghiên cứu miệt mài
Sẽ là tiền tài, lộc phát, niềm vui thành quả.

Năm mới đến, Đông sắp tàn, Xuân sắp về
Lòng này hướng tới Niềm tin “Ất Thái Lai”
Bao công sức quyết giữ gìn
Anh em đoàn kết quyết tiến lên Thắng lợi !

Đầu năm, Đông Chí – Tân Mão 2011.

我希望今年茅挞嗯
新事物,新机会
挑战依然克服
由于公共电视,“第一蝙蝠的习俗。“

新航线,看到明亮的视野
该隧道的尽头,消失在黑暗中
经过几天的辛勤劳动研究
将金钱,财富播放,娱乐性能。

新的一年,东方印染,明年春天
信托目的是请“佚来泰
包括保全工作
兄弟俩决定搬到团结的胜利!

今年早些时候,冬至谈呒熬2011年。

 

Chúc tết Xuân Canh Dần, 10/1/2010:

image

 

Mong Xuân Kỷ Sửu sớm trở về , 26/1/2009:

image

 

image

image

image

Hồi ký tháng 12: Khao khát sống tự do và hoàn thành được nhiều thiện nghiệp giúp cho đời người


 

Tháng 12 năm 2012, đúng là tháng có nhiều nhân duyên kỳ lạ với tôi, nó như là sự tổng kết lại của gân 30 năm qua đi trong cuộc đời tôi.

Nó hiện về bao nhiêu ký ức vui, lo âu và 2 năm trước là buồn đau, hẫng hụt khi phải chia tay mãi mãi với Cha tôi.

Tháng 12 cũng là điều vô cùng đặc biệt khi tôi tìm được 1 bài thuốc kỳ lạ, bài thuốc này đã được nhiều người thực nghiệm.

Nó đến khi tôi đang mong muốn làm được những điều tôi ước ao như: tìm được thuốc chữa vĩnh viễn những bệnh như:

– Mẹ tôi và những người tôi biết đến : Tiểu đường, mỡ trong máu, Viêm đa khớp, Gút.

– Hen suyễn cho cháu tôi và đặc biệt Cao huyết áp gây tai biến.

Ước gì được quay trở lại cách đây 2 năm trước khi Cha tôi bị tai biến lần 3, tôi sẽ đem bài thuốc này để làm cho Cha tôi không bị tai biến lần 3, chính nó đã cướp đi cuộc sống của Cha tôi.

Nói vậy không phải tôi thù hận gì bệnh tật bởi vì: Sinh lão bệnh tử, tuổi thọ con người rồi cũng tới hạn, tôi chỉ muốn có nhiều thời gian để hoàn thành tâm nguyên, làm nhiều điều thiện được nhiều Thù thắng, phước đức cho con cháu sau này.

Vậy là giờ đây tôi tự làm cho mẹ tôi, tôi, và mọi người xung quanh mình, mọi người tự làm chuột bạch thí nghiệm 1 ngày và hy vọng sẽ không ai phải khổ vì bệnh Tai biến như Cha tôi nữa.

Ước vọng của tôi là có thật vì tôi không thể biết là người thứ bao nhiều dùng bài thuốc này để phòng chống bệnh đó rồi, chỉ biết nó đã muôn với Cha tôi, tôi không muốn nó muộn với bất cứ ai khi đọc bài thuốc này, bài thuốc này là ghi chép lại của tôi bởi nhiều người đã có công đức truyền lại nó cho muôn đời sau, chỉ tiếc là họ đã không đủ dũng khí hoặc không dùng cách chia sẻ trên các mạng internet xã hội để cho nhiều người biết đến. Tôi xin mạn phép chia sẻ lại cho mọi người biết tới nó để tin dùng.

Tuy vậy còn phải nói đến lòng tin, mức độ chính xác, hiệu quả của bài thuốc là lời tiên nghiệm nhiều năm mới biết được. Nếu các bạn không tin lời tôi viết ra xin hãy đừng đọc bài viết này.

Còn làm theo cách tôi viết thì có 4 mục đích:

  • Bài thuốc này chia sẻ vì tôi muốn mọi người sẽ không bị mắc bênh tai biến sau này, mong muốn sức khoẻ của mọi người con đất Việt là thứ tài sản quý nhất.
  • Tôi không muốn ai đó sẽ bị mắc bệnh như Cha tôi đã từng bị.
  • Nó là liệu pháp chữa bệnh về cả mặt tinh thần, giúp những người đang bị có niềm tin để chữa được bệnh tật.
  • Đối với riêng tôi , đây như thể chút bỏ đi một phần lo lắng, băn khoăn trong cuộc đời mình chưa làm gì  được nhiều để chữa bệnh cho những người thân của mình.

Vậy là sang năm mới rồi, tôi xin chúc mọi người con đất Việt, tràn đầy sinh lực, hạnh phúc, có đủ niềm tin để làm được những điều mình hằng mong ước.

Điều thệ nguyện 1: Tôi thệ nguyện ở đời người làm theo lời Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật dậy, làm nhiều điều thiện để giúp công đức cho con cháu noi theo.

Bài thuốc Phòng Chống tai biến Mạch máu não

(chỉ cần làm 1 lần trong đời người)

A. Nguyên liệu:

A.1. Nguyên liệu chính:

(Mua tại hiệu thuốc bắc đã tán sẵn hoặc đem về nhà tự tán lấy)

1. Hạnh nhân: 10 gram

2. Chi tử: 10 gram

3. Đào nhân: 10 gram

(tất cả 3 thứ trộn lẫn và tán nhỏ)

A.2. Nguyên liệu phụ:

1. Gạo nếp: 10 hạt (nguyên vẹn)

2. Hạt tiêu sọ trắng: 10 hạt

(tất cả 2 thứ trộn lẫn tán nhỏ)

3. Lòng trắng trứng gà: 1 quả (bỏ lòng đỏ)

B. Cách làm và sử dụng:

– Trộn lẫn đều cả 2 loại nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ với nhau. (có thể dùng 1 hộp nhựa sạch có thìa để trộn lẫn với nhau).

rồi gói lại bằng một mảnh vải.

– Đặt gói thuốc vào chính giữa lòng bàn chân phía dưới  huyệt Dũng Tuyền 2 đốt ngón tay.

image

Lưu ý: Nữ đắp chân bên phải, Nam đắp chân bên trái.

– Dùng băng quấn chặt không để thuốc chảy ra ngoài (có thể lấy băng dính, túi ni-lông mềm đặt lên trên gói thuốc rồi hãy quấn băng).

– Thời gian đắp từ chiều tối hôm trước đến sáng hôm sau càng lâu càng tốt rồi mới tháo ra.

– Khi tháo băng thấy lòng bàn chân có màu xanh dương là tốt, có tác dụng, màu xanh càng đậm là càng tốt, báo thể trạng có phản ứng tích cực để ngăn chặn bệnh tai biến.

Chú ý: Không được rửa chân ngay, để màu xanh phai nhạt dần,

 

Nam Mô A di đà phật,

Nam Mô Bổn sư thích ca mâu ni phật.

Nam Mô Quán thế Âm bồ tát.

Nam Mô Đại Thế chí Bồ tát.

Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Nam Mô Đức Phổ hiền Bồ Tát.

Nam Mô Hải Hội Thanh tịnh Vương Phật.

Nam Mô Dược sư Lưu ly Quang Vương Phật.

 

Chúc mọi người thành công, có được sức khoẻ dồi dào, thâm tâm an lạc. thanh tịnh , an toàn không bị mắc bệnh tai biến mạch máu não. !

Bài thơ không nhan đề Tặng thầy cô giáo nhân ngày 20 – 11


Em vẫn nhớ những ngày cuối thu.

Mùi hoa sữa trên phố ngào ngạt hương.
Nhớ những ngày này, ngày nhà giáo Việt Nam
Bài “Công Cha, nghĩa Mẹ, ơn Thầy” vẫn như văng vẳng bên tai.

Dẫu bây giờ em mới biết làm chút thơ.
Đọc chữ O, viết chữ số 0 Cô dặn phải tròn trĩnh.
Mà sao khó viết lên lời !
Lỗi tại mùa hoa phượng, tiếng ve kêu.

Mải ruổi rong chơi nên chẳng thuộc lời Thầy Cô dặn.
Dường như Thầy Cô già đi mấy tuổi
Đến khi chúng em hiểu điều đơn giản ấy.
Cả cuộc đời Thầy Cô dõi bóng theo bước chúng em…

 

Lại những tháng ngày này

20.11 ngày để chúng em nhớ đến

Bao công lao âm thầm của các Thầy các Cô.

 

Kính chúc Thầy Cô luôn mạnh luôn khoẻ,

Gìn giữ Văn Hoá Việt như gương sạch sáng trong

Cho biết bao thế hệ Việt muôn đời.

 

Người sáng tác:
Tiến sĩ Vi sinh Lê Toàn Thắng
Tiến sĩ  Công nghệ thông tin

Hồi ký tháng 10: lí do hoảng sợ cuối cùng cho những thay đổi cuộc đời tôi.


Đầu tháng 10 là những ngày tôi bắt tay vào việc tổng kết một số điểm chính về những bức tượng tôi đã sưu tầm hơn 10 năm qua những dịp đi công tác trong và nước ngoài.

1. Vòng 108 hạt xá lợi – Ngày tôi tham gia lễ Truyền Thọ, Quy Y Tam Quy, 8/2007 – KLCC Malaysia

– Pháp sư Tịnh Không truyền thọ giáo cho tôi và 3.000 người, với 50.000 người qua mạng với những lời đẹp ý hay:

o Cảm ứng thiên.

o Thọ Ngũ giới

o Thập thiện nghiệp đạo

– Tôi đã đi học ngược lại với những gì mà những người tu hành đã làm đó là:

o Học tiểu học: bậc tiểu thừa – học A hàm: 12 năm

o Học trung học: bậc trung thừa – phương đẳng 18 năm

o Học đại học: bậc đại thừa – bát nhã 22 năm

o Học sau đại học: bậc bồ đề – Pháp hoa – 25 năm

o Niết bàn: có thể vài phút – giờ – vài năm (tuỳ nghiệp báo) ?

– Tôi bị ảnh hưởng và cũng là theo đuổi nền văn hoá đa nguyên, đó là xã hội giáo dục khoa học của Phật giáo, không chỉ tin vào trí thiện viên mãn, có nhiều sự cống hiến vĩ đại trong giáo dục loài người. Chính vì lý do theo đuổi này mà đã hơn năm nay đi nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực Khoa học tự nhiên:

o Thực hành khí công luyện tập Trường Năng lượng sinh học.

o Tập nhìn thấu thị, mở dần từng luân xa  (luân xa 6: góc tam giác với 2 mắt, 7: đỉnh bách hội, 3: trên rốn điều khiển thể Vía, 4: luân xa Tim điều khiển tốc độ bơm máu, 2: luân xa thận, 5: cổ điều khiển phế quản, 1: luân xa xương cùng điều khiển máu và xương hoạt động).

o Nhìn được ánh sáng Vàng (Hoàng đản) phát ra từ các vùng chấn thương của người thân. Tôi đã đọc cuốn “Bàn Tay Ánh Sáng” và luyện tập đến khi có thể nhìn được các thể “Vi tế” và “Hoàng đản” phát thành dòng sáng có màu “Óng ả” bằng thấu thị và đã dừng lại ở đây.

Tập hơn 2 tháng thì bắt đầu liên tục bị mất khả năng kiểm soát, sau khi đọc các kinh phật thì phát hiện bị nhiễm tạp niệm: ăn cá, uống rượu/bia, thuốc lá thì những chất đó làm mất ổn định và không điều khiển tâm trí tập trung được.

Tôi bắt đầu tập trung vào Yoga và Thiền định để tìm cách chữa  – một dạng tu hành của hành giả, điều khiển 3 thể di chuyển theo ý nghĩ tâm tưởng, vào ngày 1 tháng 8 tôi nhận được 2 kết quả kinh khủng sau:

o Nhìn và tiếp xúc được với vài người “Xưa” – thân thiết của mình, lúc đầu họ cũng sợ cái tôi đang cầm trên tay là ánh sáng Hoàng đản. Lúc đầu tôi cũng hoảng sợ và đọc niệm chú liên tục, họ dần nghe tôi đọc niệm chú.

o Những đêm choàng tỉnh dậy do không biết đóng mở luân xa, tự học và tự kiểm soát.

Tất cả đứng trên cao hoặc trong góc và hỏi tôi nhiều chuyện, tôi chỉ nói trong suy nghĩ của mình, chú tôi, cậu tôi, Bác đằng ngoại và cả Bà nội tôi. Tôi hẹn họ một ngày tới khi tôi chuẩn bị lễ tắm tượng phật.

Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/1-QuiY_TamBao-ThoNguGioi

Đây là con đường tôi đã đi “Road map” xin bạn đọc lưu ý đừng đi theo nếu không đủ tự tin, và xin đừng ngã mạn quá khi có kiến thức cuộc sống mà đánh giá coi thường niệm phật, đọc kinh là một trong những phương pháp đơn giản hiệu nghiệm bao người đã chứng quả.

ConDuongPhatGiaoCuaToi

2. Bức tượng về Thần Shiva – New Delhi 4/2005

P1090156Người phụ nữ luống tuổi đã nói với tôi bằng tiếng Hin-đu pha chút tiếng anh, đây là vị thần may mắn cho những người lưu giữ tượng, vị thần có sức mạnh huỷ diệt sẽ làm cải tạo cuộc sống dân tộc Ấn và những người có niềm tin vào sức mạnh của người.

Tôi đã cảm nhận lại được cái gọi là Đạo Ấn Độ: tìm thấy cái “Chân Ngã” hay phát triển tinh thần “Thân Ái”.

Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/2-Kinh_NhanQua-ThienAc

 

 

 

3. Bức tượng về Apsara Vũ nữ Chăm –  Pô-sha-nư, Bình thuận 6/2009

P1090152Người phụ nữ  trung niên đã giới thiệu tôi về nữ thần và cái nhìn của Cô về thế giới tâm linh:

Con người có 3 thể “thế giới tồn tại trong mỗi con người” tồn tại trong chính “Thể thức hiện tại” của mỗi người:

1. Thể xác (thế giới vật chất – nó tồn tại và phát triển được nhờ Đạo, thuyết ).

2. Thể vía (thế giới tâm linh – nó phát triển được nhờ Thiền định).

3. Thể trí (thế giới tinh thần – nó phát triển được nhờ có ý niệm – Phật giáo gọi là niệm phật – Tịnh độ).

Xin hãy niệm phật theo kinh:   http://phatgiao.help24x7.net/3-Kinh_VuLanBaoHieu

 

3. Bức tượng Phật Di Lặc – Thiền viện Trúc Lâm Đà lạt, 7/2008

Một vị hoà thượng trước khi đưa cho tôi bức tượng đã nói cho tôi một số điều, về sau tôi có tra cứu lại và ngạc nhiên vì nó chính xác, như vậy vị này theo phái Phật giáo “mật tông” ?

P1090159Tôi hợp cung số 7: 7 phần tinh 1 cung phần tử, 7 vị tinh cung là 7 con đường vận hạn và cũng là 7 đưc tính, nếu là theo đạo thiên chúa, tôi sẽ là tông đồ của Thánh Gio-an. Còn lại có 3 thể tôi có xu hướng kiểm soát chúng. Như vậy,Tôi là người có thiên hướng Âm nhạc và khoa học tự nhiên, có quan điểm sống “Sống thật với chính mình và không bao giờ chấp nhận sống trong sợ hãi”.

– Vị hoà thượng đã nói cho tôi biết thêm 7 cung và tôi thuộc cung nào:

o Cung 1: Sức mạnh ý chí, quan điểm mạnh mẽ, cương quyết.

o Cung 2: Thích lý luận, để ý kỹ lưỡng các v/đ, lựa chọn phương pháp hữu hiệu.

o Cung 3: Nghiên cứu kỹ lưỡng các thời khắc thuận lới nhất để thực hiện.

o Cung 4: Chỉ tin cái độc tôn, triết lý Khoa học.

o Cung 5: Nhậy cảm, thích hoạt động xã hội.

o Cung 6: Tin vào lễ giáo, theo đuổi niềm tin tôn giáo.

o Cung 7. Đức tính cẩn thận, bác ái, nghi lễ nghiêm trang đảnh lễ.

Xin hãy niệm phật theo bài kinh:  http://phatgiao.help24x7.net/5-Kinh_Dia_Tang

 

4. Bức tượng Phật bà – Quán thế Âm Bồ Tát – Chùa Niễu, Láng Trung, Hà nội 2/2011

Sư Bác Yến nói cho tôi những điều tôi chưa bao giờ biết về nghiệp thức và lương duyên của tôi đối với đạo Phật:

P1090162Ngày tôi nhận bức tượng là ngày: “Thiên văn – chiêm tinh” điều này là:

– Nghiệp báo ở kiếp trước, tôi có Thiên ý đó là Mãnh lực của Thể trí trong tôi.

– Bên cạnh đó, tôi có tập luyện Yoga và Khí công từ nhỏ do đó có thể dễ dàng tập Thiền định và mở luân xa tiếp nhận Vũ trụ năng lượng và lĩnh hội chúng.

– Tiềm thức của tôi có lực và tâm thức hướng đến vấn đề tâm linh và Phật giáo chính vì vậy, không ai mách bảo tôi, tôi cũng có thể tự mình Quy y, sám 6 căn, thọ ngũ giới … như là đệ tử của Phật với tinh thần học hỏi và tu hành với ý trí tự do, nó thể hiện rõ tiềm thức kiếp trước Tôi có luân hồi Tu hành, có mầm thiện, hành vi bác ái, có nhận thức thay đổi rất rõ ràng trong sự nghiệp về sau của tôi.

– Đường tử vi về học vấn trên bàn tay của tôi xuất hiện thêm đường thứ 3:

o Đường 1: Con đường Công nghệ thông tin.

o Đường 2: Con đường Công nghệ Vi sinh.

o Đường 3: giờ mới xuất hiện con đường Phật giáo và giáo dục.

– Đức tin “Nhân – Quả” của tôi thực sự đã có tuần hoàn vị trí theo các vì tinh tú, hoán đổi bình thường và thực sự đã ảnh hưởng đến nghiệp sau này của tôi.

– Tôi đã thực sự có “Phát tâm bồ đề” hay chưa ? Sư bác nói: tôi hợp với Thiên Ý vậy là tôi sẽ cải số Mệnh bằng nhiều hành vi hữu ích cho đời (xã hội, gia đình). Chính nhờ đó, tôi đã có những quãng đời sau này luôn “Tin tưởng chính mình” nghĩa là không lạc quan cũng không bi quan, luôn tìm ra sự “An vui tự tại”, thêm ý trí tự do nên Tôi luôn có niềm tin “Cải số mệnh , đẩy lùi mầm ác, đánh bật cái xấu, kể cả động lực của cái xấu, đẩy lùi sự tác động ngược của vị trí luân hồi Tinh tú”, làm ẩn mầm ác”…

– Tôi tin luật: “Nhân nào quả đó” ? đó chính là nghiệp lực tạo ra giống “Nhân” tốt/xấu nhờ có vận động theo vũ trụ, tôi cũng như mọi người vẫn tuần hoàn vũ trụ, tác động của Tinh tú hình thành lên “nghiệp quả” tốt /xấu. 

– Tôi đã biết Cung của mình (trong 7 cung trên), biết chân lý vẫn là duy nhất đó là: niềm tin Phật giáo,

Cung của tôi thuộc: Tin tưởng thanh cao, sự biến chuyển rõ nhất từ 1975 và thường là 25 năm cuối của một thế kỷ, từ năm 2000 trở lại đây, dần con người chúng ta không có ý thức được nguyên nhân, thế giới duy vật dần sụp đổ do tác độc kinh tế xã hội và thế giới tâm linh càng ngày càng nghiên cứu rõ ràng và xâu sắc hơn.

Xin hãy niệm phật theo bài kinh:  http://phatgiao.help24x7.net/6-Kinh_CauSieu

 

5. Bức tượng Hồ Chí Minh, Viện bảo tàng HCM , 8/2007, Hà nội.

Một ông già bán đồ lưu niệm nói với tôi:

P1090155Hiện nay đang là thể kỷ Cách mạng tâm hồn, sự tiến hoá về tâm linh rất nhanh chóng,

Tôi cũng có ghi nhận sau: “Những tác động xấu từ thế giới vật chất ngày càng tăng như: tin vào sự hưởng thụ vật chất tầm thường, tìm niềm vui và không tin đạo, dẫn tới ngày càng đau khổ vì sự phụ thuộc vật chất, xuất hiện nhiều vấn đề huyền bí Phương đông -> ánh sáng rực rỡ làm hé lộ Khoa học nhưng vẫn bị tác động bởi nối sống thực dụng Phương tây nó làm biến mất nhiều điều đặc biệt trong Huyền bí Phương Đông -> cuối cùng thì với quá nhiều đau khổ, con người lại đi tìm tinh thần trong “Đức tin”. Thay vì tìm hiểu 4 thế giới tồn tại trong chính con người mình”.

– Tự mình xét lấy mình, hãy dẹp bỏ cái áo đang khoác trên mình và ngày càng dày lên, cái áo “Ngã mạn”  cái tôi ích kỷ: công danh, ngã mạn, ham muốn,  hãy sống và thành thật với chính mình.

– 1 con người phát triển cả 7 cung = 7 tính cách sẽ trở lên hoàn thiện, dĩ nhiên chúng ta đều là bất toàn, chỉ có Chúa mới là người thập toàn.

– Ví như khi con người bị bệnh, cố chữa và khỏi bệnh , khi khỏi bệnh lại quên đi nguyên nhân bệnh hoạn, sau này bị bệnh lại thì không nhớ.

Vậy ra, những thứ quên quên nhớ nhớ đó là do không có tâm, không phát ra từ tâm nên sẽ có kết cục luẩn quẩn như vậy.

– Mọi thứ phải chinh phục bằng lòng thương cao cả, con đường giải thoát , nỗ lực bản thân để vượt ra khỏi tư tưởng đau khổ.

– Những suy nghĩ ngược lại chỉ là: 

Trốn thoát khỏi thực tại của chính con người mình khi gặp khó khăn, ước vọng nông cạn, cố gắng ảo tưởng, uống rượu để xua đuổi thực tại, ước vọng thấp hèn, sự tranh chấp nội tại, quan điểm chứa quá nhiều thành kiến, mất đi khả năng sáng tạo, nhậy cảm, rung động trước cái đẹp, chỉ còn là dục vọng thấp hèn, không có sự chiêm ngưỡng cái đẹp kiểu Chúc phúc vì người và cảnh vật đẹp mà chỉ là sưu tập chúng, muốn sở hữu chúng, trói buộc chúng.

 

6. Bức tượng Phật Di lặc, nhà sách Minh Khai, 9/2008, HCM

P1090160– Tôi tự nghĩ rằng: ta đang cần đạt tới tâm trạng & thâm tâm an lạc, đạt tới cái chân ngã, hạnh phúc chính là phải vượt lên trên lỗi sợ hãi, thoát ra khỏi sự đau khổ.

Ví như vào nhà hàng muốn ăn món ngon nhưng bạn đang là tầng lớp nghèo thì phải nhìn kỹ thực đơn chọn món có giá tiền thấp, nếu không có Thực đơn đề giá thì tự động ra khỏi nhà hàng (“câu chuyện nghèo năm 1980-1998 tránh sự cố”),

– Sau khi vươn lên được tầng lớp Trung phú thì tôi vào nhà hàng ung dung hơn, xem Thực đơn chọn món nếu không xem Thực đơn thì cũng không thể tuỳ tiện gọi món được, vẫn rất có thể bị vượt tiền có trong ví (lúc đó thì không thể có tâm trạng an lạc được).

  Xin hãy niệm phật theo bài kinh: http://phatgiao.help24x7.net/8-Kinh_VoLuongTho

 

 

7. Bức tượng Phật tổ Như lai đang toạ thiền: Nhà sách NVC, 7/2012, Hà Nội.

P1090163– Tôi tự nguyện cầu và phát nguyện đời đời theo chân người để làm đúng, giúp đỡ , giáo dục con người có niềm tin , đức tin đạo đức, nhận thức được Phật pháp & kiến thức yêu thương, tôn kính và bác ái.

– Để được gì ở đời này, đời sau? đó là Ý nghĩa cuộc sống đẹp, giúp con cháu mình có giáo dục Phật giáo.

– Tôi trợt nghĩ: vậy những đứa trẻ Ốm yếu là do không được lo đủ lòng yêu thương của Cha mẹ, chứ không chỉ là thiếu dinh dưỡng vật chất mọi người thường nghĩ.

 

Xin hãy niệm phật theo bài kinh: http://phatgiao.help24x7.net/7-Kinh_ADiDa

 

 

4. Bức tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Vịnh Nghiêm, Bắc Ninh, 6/2005.

DuocSuLuuLyQuangVuongPhat– Đây là cách mà tôi hiểu, rồi tôi và những người khác đều phải chuẩn bị làm không sớm thì muộn đó là “Di chúc trước khi đi xa”.

– Tôi viết sẵn sơ lược di chúc cho chính tôi ngay từ những tháng ngày này “tuổi nửa đời người trước khi về với cõi Phật”.

1. Cầu nguyện và niệm phật để cho người mất thâm tâm an lành.

2. Hoả táng để không còn luyến tiếc cái thân xác ở cõi Ta bà này.

3. Phát nguyện trọn đời Thiên ý theo Phật.

4. Sống muôn đời chọn vẹn giữ gìn hạnh phúc cá nhân và bao người xung quanh mình, sống chân thực mọi lúc, mọi nơi để có thể kết nối giáo dục tư tưởng giữ gìn đạo đức muôn đời.

5. Nếu mắc bệnh hiểm nghèo thì phải rèn luyện chính mình, theo đuổi quy luật sống theo tự nhiên, phương pháp chữa bệnh hoàn toàn vứt bỏ “bệnh Tâm”, tiền tài, nhà cửa, sự vô thường ở đời, lo tu dưỡng, loại bỏ dục vọng, tham lam, sống lệch lạc mất đi cân bằng với trạng thái tự nhiên “con người phải hiểu biết chính mình, trở về với chính con người thật, làm chủ cảm giác, ăn ít, uống nước suối loại bỏ độc tố trong người, tim đập chậm lại làm thận nghỉ ngơi”.

6. Tìm hiểu và tu hành sâu sắc Dược sư Lưu Ly Quang Vương Phật dậy trong Kinh: đó là ăn lạc, ăn vừng giúp dạ dày loại bỏ độc tố, tập yoga làm cho Vô cầu, vô niệm mọi thứ trở về tự nhiên.

Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/4-Kinh_DuocSu

 

10. Tượng bà Quán thế Âm Bồ tát đứng tay cầm bình nước Cam lồ, 8/2012.

a. Ngày 24/10 tôi gặp bà nội tôi trong một buổi niệm phật, câu chuyện như sau:

P1090164Tôi điều khiển thể vía đến nơi mộ dòng họ Lê nhà tôi ở Quảng Yên, Quảng Xương, Làng Bình Yên.

Bà tôi bảo: “bữa trước con cầu siêu cho 2 chú và bố con rồi, giờ con cần cầu siêu cho Bà để bà siêu thoát nhé !”

Tôi chỉ kịp có dạ vâng, nước mắt trực trào ra khoé mắt. Bỗng như có một dòng điện chập vào người, mắt tôi chỉ còn thấy 1 màn đen và 2 chấm xanh di chuyển rồi chập vào nhau, vậy là thể xác tôi đã bị 1 người nào đó nhập vào hoặc đứng gần đó chặn thể vía của tôi.

Tôi (thể xác) vung tay vung chân như muốn xua đuổi vật gì đó, còn thể vía thì đang cố quay về với thực tại để nhập vào thể xác, tôi chỉ cảm thấy rốn mình đau nhói (nó là dấu hiệu không thể vào được).

b. Một dọng cười khà khà, tôi đoán tầm 60 tuổi văng vẳng trong vùng tối của thể vía, tôi bất giác hoảng sợ thực sự. Tôi nghĩ rằng thể xác kia đang có ai đó (chắc chắn giỏi hơn mình nhiều mới có thể nhập vào mình và đang nói với mình bằng suy nghĩ).

c. Tôi cố trấn tĩnh bằng cách nhẩm niệm phật tên 84 vị Bồ tát và niệm Nam Mô A Di Đà Phật vì nhớ rằng tất cả linh hồn đều biết nghe kinh phật, cho dù ít nhiều. Vậy là tâm chí tôi đổ dồn vào đọc niệm phật. Tiếng cười đó vẫn cất lên, tôi đoán người này cũng theo đạo Phật…

d. Ngày nào, khoảng 12h đêm tôi cũng để bên tai nghe bằng Nokia các bản Kinh niệm phật, lúc này tôi cố hết sức điều khiển tay trái (tay trái lúc đó có cảm giác bồng bềnh, như bị tiêm thuốc tê, và mọi thứ cứ từ từ di chuyển có lẽ phải mất chừng 15 phút tôi mới điều khiển tay trái và bấm nút bật Play list bản: kinh Sám 6 căn cho Quy y tam bảo, thọ ngũ giới, vừa đủ tôi nghe thì tiếng cười có vẻ bé đi chút ít, tôi đoán người này cũng Quy y tam bảo rồi.

e. Tiếng người đó trợt vọng lại bên tai tôi, tôi hiểu ra, người này cũng đang luyện tập thể vía và vô tình tìm thấy tôi, nhưng chắc chắn đẳng cấp và thời gian luyện thiền của người này hơn hẳn tôi, ông ấy có tâm linh hoạt và thể trí hơn tôi bởi đường sáng từ thể vía trở về một chân trời hướng trỏ tây bắc sáng trắng đậm, bởi tôi bao giờ cũng nằm giường khác với người bình thường “Chân Bắc đầu Nam” tôi thì “Đầu Đông ghé bước đi tây”.

f. Một điều tâm niệm mãnh liệt vụt qua trí óc, lúc đó tôi chỉ kịp hình dung mình như đang là Tôn hành giả, một mình đang nói chuyện tâm thức với người này, còn 1 mình vụt theo đường chỉ sáng vía của người đó tới 1 ngôi làng, rồi hiện ra 1 cổng nhà ở đâu đó vùng Vân Nam hay Côn minh với kiểu nhà hình chữ U 3 tầng, cổng vào duy nhất, trên cổng đề “Pháp Tích Môn Không “. Vậy là đụng phải 1 vị Pháp sư Thiền đây.

g. Bỗng người kia cất tiếng suy nghĩ vẻ buồn buồn, không còn cười nữa.

Ông ta nói: “Tôi biết anh đang nghiên cứu vấn đề y học trong Phật giáo, tôi thấy anh nghe và niệm Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật trong 1 lần bị đau bụng do bị các Linh hồn đến viêng thăm”, bàn tay phải của anh để vào phía bụng bị đau khoảng 4 tiếng sau thì khỏi hẳn, anh có biết anh bị bệnh 2 hôm liền và rất nguy hiểm hay không?

Tôi ngạc nhiên đôi chút và hiểu rằng người này hoặc người thân của ông ta đang bị bệnh gì đó liên quan tới những vấn đề chứng nan y như: Gan, dạ dày, thận mà tôi là người có quan tâm nhiều tới những bệnh đó, thậm trí tôi cũng bị một số bệnh thể nhẹ trong đó. Tôi lại có quan điểm muốn biết và chữa trị thì mình phải có tính thực hành hoặc bị chính những bệnh đó thì về sau mới thấu hiểu và quyết tâm chữa bệnh đó được. Ông ấy nghe thấy lời giải thích của tôi “

Ông ta nói: đó là cái Tâm Ý , thiên ý và Khoa học thực tiễn trong tôi luôn đi cùng ý nghĩ của tôi.

h. Mọi việc trở nên dễ dàng hơn, tôi vụt hiểu ra, và bấm chuyển play list Kinh Dược Sư cho bài kinh được phát ra, tôi nghe được và thế là Ông ấy nghe được, ngay lúc đó hình thể vía của Ông ấy mờ dần, tôi hiểu là bài niệm này có “Tha lực Phật” rất mạnh mẽ để Ông ấy bớt tạp niệm cũng là tôi đề phòng mình không thể kiểm soát được tình hình.

Ông ấy nói 1 lời cuối tôi không nghe rõ nhưng cảm nhận được ý tứ như sau:

Ông ấy hiểu tôi nói gì, Tôi khuyên hãy niệm phật Kinh Dược Sư, giảm thời gian thiền định tịnh tiến, dành thời gian lo cho sức khoẻ bệnh tật chữa bằng phương pháp tinh thần Phật giáo sẽ có cơ hội mạnh khoẻ.

 

Lời kết:

  • Một ngày cuối tháng 10, càng ngày tôi càng giác ngộ ra được rằng “Cuộc đời cần giải thoát” mới giúp tôi tư duy rộng mở được, mọi việc đều không bị ràng buộc mới là sự hạnh phúc chân chính, vì tất cả đều tôn trọng giá trị thật của mọi sự vật.
  • Tôi cũng cảm nhận được sự may mắn trước những thế giới mà tôi đã, đang và sẽ đối mặt vì tôi đã niệm phật và quyết đi vào thế giới Tịnh độ, thanh tịnh.
  • Đáng nhẽ tôi sẽ kể câu chuyện ở mục 10. câu chuyện về lí do hoảng sợ cuối cùng cho đúng với tiêu đề thay vì giới thiệu các bức tượng sưu tầm 10 năm qua và dài dòng với lối trích dẫn, nhưng bạn đọc à tôi đã đưa vào đây lối giải thích về sợ hãi của chúng ta là do có ảo tưởng, chưa bao giờ thấy Cảnh giới mà mình sẽ đến, nên thường là sợ hãi, suy nghĩ tạp niệm. Nay tôi nhờ có Quán tưởng, nhất tâm niệm phật hàng ngày, niệm phật để có Tha lực phật, nhớ có xác định cảnh giới, nhờ có ghi nhận nhiều kết quả tu tập Tôi mới giám vượt qua các Cảnh giới, loại bỏ nhiều tạp niệm đã qua.
  • Tôi luôn có khái niệm “Cận tử nghiệp” nên rất hiểu người có trí tuệ nói câu: “Bạn hãy sống từng ngày như là ngày cuối cùng của cuộc đời” do đó mọi thứ  trong tôi luôn An Lạc, Thanh tịnh, Đề huề Giáo lý của phật tạo đủ phẩm hạnh, chứa chan yêu thương, Thần thức luôn chiếu sáng nhờ niệm Phật để về với cõi Phật.

Con đường cuộc đời của tôi đúng là đã thay đổi !

Xin hãy nghe cuốn sách mà tôi đã chọn làm kim chỉ nam giúp tôi đi đúng con đường tiếp theo:  http://phatgiao.help24x7.net/0-Vuotluanhoi_vaotinhdo 

Phat_nhulai

Tôi thệ nguyện đời này:

– Sẽ làm mọi phương tiện, phương pháp để giúp mọi người phát Bồ đề tâm và thành Phật.

– Sẽ truyền giáo lý, giúp mọi người mở tâm trí huệ, tu hành nhận thức và giác ngộ Phật tính trong chính con người họ.

– Giúp nhiều người đắc đạo, có cõi tâm thanh tịnh, Thuận duyên để tâm Tịnh độ.

– Giúp thâm tâm An lạc, giàu có cơ hội tạo nghiệp hạnh, thực hành cứu độ chúng sinh, tạo phúc đức cho con cháu sau này.

– Cơ hội Niệm phật để lắng nghe lời Phật dậy, có Tha lực Phật để nhẹ nhàng trước khi nhập Niết bàn.

Phat_A-di-da_NhapNietban

Tham khảo các Kinh sách Audio mà tôi đã sưu tầm và học hỏi thực hành hàng ngày:

http://phatgiao.help24x7.net/0-Vuotluanhoi_vaotinhdo 
http://phatgiao.help24x7.net/1-QuiY_TamBao-ThoNguGioi
http://phatgiao.help24x7.net/2-Kinh_NhanQua-ThienAc
http://phatgiao.help24x7.net/3-Kinh_VuLanBaoHieu
http://phatgiao.help24x7.net/4-Kinh_DuocSu
http://phatgiao.help24x7.net/5-Kinh_Dia_Tang
http://phatgiao.help24x7.net/6-Kinh_CauSieu
http://phatgiao.help24x7.net/7-Kinh_ADiDa
http://phatgiao.help24x7.net/8-Kinh_VoLuongTho

Ai cũng thuộc thế giới ham vui sợ khổ não, lão khổ, tôi thì đã từ bỏ nó bằng tâm cảm nhờ Phật giáo dậy, hướng tới sự thanh tịnh của tâm, tôi biết chặng đường tới còn nhiều khó khăn, nhưng luôn có kế hoạch, tìm tòi và tiếp thu giáo dục của Phật.

Bộ kinh tiếp theo tôi phải tìm và niệm phật: Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Pháp Hoa và Kinh Phổ Môn hồi 25, Kinh Bát Nhã Ba-la-mật-đa.

Nam Mô A-Di-Đà Phật !

Hồi ký tháng 9: Niềm tin đã có cơ sở, tôi cảm nhận được nhân duyên từ nhiều kiếp trước, lập hạnh nguyện để có đủ hành trang đi tiếp


1. Tôi đã có dịp đọc và nghiền ngẫm những tháng năm qua:

“Hành trang của hành giả niệm phật”. Chợt giật mình như tỉnh cơn mê bỏ lại hết những bâng khuâng tháng ngày qua:

Không nhẽ gần 40 năm qua, tôi đã cố gắng học hành cho bằng chúng bạn, trong khoa học, sinh học, hoá học, công nghệ điện tử máy tính, phần mềm, giải pháp … nó có nhiều điều vô lý thế sao ?

Không nhẽ nhận thức về khoa học, giáo dục mà xã hội ngày nay đã và đang dậy tôi, tôi cố gắng theo đuổi, lĩnh hội lại thấy nó nhiều viển vông, mơ hồ và kém thực tế vậy sao ?

2. Nhân ngày lễ chùa Tâm Giác Đà Nẵng.

3. Nhân dịp tìm được cuốn sách “Vượt luân hồi vào Tịnh độ”

– Khai sáng cho tôi con đường đi để thông giữa những tư tưởng khoa học – y học – Công nghệ – Kinh tế và Đời sống với những môn phái từ nhỏ tôi đã được luyện tập như Yoga – Thiền định – Khí công với Giáo dục Phật giáo.

Tôi xin trích  dẫn đoạn mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất trong cuốn: “Vượt Luân hồi vào Tịnh độ”:

Người tỉnh thức như thấy trước mắt ánh sáng vàng tươi nhuận, quyện tỏa bao trùm muôn vật, biến tất cả chung quanh lấp lánh lung linh một màu vàng kim dễ chịu, tựa như tia nắng buổi bình minh.

Pháp tu, niệm danh hiệu Phật, không chỉ ước nguyện xây dựng một thế giới tương lai cho chính cá nhân hành giả, mà còn nhân duyên xây dựng một nguyện lực độ sanh như Ðức Giáo chủ Phật A Di Ðà.

Có phải Thế giới Cực Lạc hiện hữu từ nguyện lực đại bi của Ngài! Vâng chính vậy, thì người nguyện sanh về Cực Lạc đã mặc nhiên thiết lập cho mình không khác Ngài vậy. Người đã vãng sanh tất nhiên không thoái chuyển tâm giải thoát, và do tâm bồ đề không thoái chuyển, lại đành bỏ mặc nơi mình đã từng đau khổ với muôn vàn chúng sanh !

Thật ra tất cả đều do tâm tạo; tâm tạo Ta Bà, tâm tạo Tịnh Ðộ; diệu dụng của Tâm thật khó nghĩ bàn. Thế giới Ta Bà là khổ, nhưng cũng có người vui sướng, thế giới Ta Bà là đau thương thù hận, nhưng ở đó đã xuất hiện biết bao vị Thánh nhân mà cõi trời phải mơ ước được gặp. Nhưng vì một ít Thánh nhân ví như đất dính vào tay của Phật Thích Ca, nên không thể nào tỉnh thức được tâm phiền trược của chúng sanh ví như đất đại địa. Thậm chí đến cả Ðức Phật là viên ngọc vàng, rực rỡ chiếu rọi khắp mười phương thế giới, còn chưa thể chan hòa rọi hết lượng số của chúng sanh đang phiền trược khổ đau (Phật có thể độ vô số chúng sanh chớ không thể độ hết chúng sanh).

Vậy thì tâm diệu dụng giải thoát, nhưng vẫn nằm sâu vào tiềm thức (A Lại Da) chân như, và nó phải được khơi dậy, phải được lay động mới trở về bản tánh chân như của nó, nghĩa là nó mới diệu dụng được sự tỉnh thức giác ngộ mà quay về Phật tánh, thành Phật không khác.

Bậc Giác ngộ rõ biết tâm diệu dụng nên quyết thị hiện vào cõi Ta Bà nơi đau khổ mà không ngại chướng duyên, để làm công việc khơi dậy tánh giác cho chúng sanh.

Thị hiện vào Ta Bà, như đi vào cõi mê tình, vọng thức điên đảo để làm sáng ra ánh sáng chân như, chân thức – và chúng ta thực hành niệm Phật là chuyển di tâm thức vào một thế giới thanh tịnh trang nghiêm, không khác gì ánh sáng chân thức, chân như Niết Bàn. Cho nên dù diệu tâm vô hình không chướng ngại nhưng, nếu ta không nhờ vào lời dạy của Phật Thích Ca và nguyện lực của Phật A Di Ðà ta vẫn mãi sống nơi mê tình của vọng thức dù ở thế giới này hay bất cứ nơi đâu. Do đó nên hiểu, thế giới thô phù ô nhiễm ở đây là do vọng thức điên đảo biến hiện ra mà thôi. Thế thì cầu sanh vào thế giới thanh tịnh là việc cụ thể, cho dù thế giới đó cũng là do diệu tâm sinh ra; nhưng đây là một việc tối quan trọng, vì nơi đó ta khám phá ra được diệu tâm của ta giống như diệu tâm của Phật Di Ðà không khác.

Như không tin, ta thử tìm diệu tâm A Di Ðà nơi đây có được không? Nếu có, thì kính xin chúc mừng hành giả đó, vì hành giả đã thành Phật tại đây! Nhưng xin thưa, vì hiện còn giáo Pháp Phật Thích Ca thì ta không thể nào thành Phật tại đây. Vậy ta chỉ thành Bồ Tát mà thôi. Nhưng lại xin thưa, Bồ Tát nơi đâu cũng phải cầu mong gần gũi đấng Ðại giác (Phật), để tiếp tục học hỏi mà thành Phật như tất cả bằng chứng trong các kinh, thời kinh nào cũng có vô số Bồ Tát tham dự. Vậy niệm Phật ở đây để thành Bồ Tát, sao không cầu niệm Phật sanh về Cực Lạc cũng là Bồ Tát, nhưng gần đấng Ðại Giác A Di Ðà có sướng hơn không!

Bây giờ người tỉnh thức đã an tâm vững chải, ổn thỏa nghi vấn cõi lòng, nên bắt đầu thiết lập hành trang cho việc Niệm Phật.

Có ba hành trang mà người tỉnh thức phải mang theo, cho đến khi về nơi Liên cảnh.

Thứ nhứt là Tín, thứ nhì là Nguyện và thứ ba là Hành

Hành trang thứ nhứt

Tín là niềm tin, tin vào một sự việc, sự kiện, vấn đề, là thật hay giả. Tín không đủ tiềm lực mạnh mẽ, tất việc làm không thể thành tựu như ý.

Người tỉnh thức đến đây, đã có đủ niềm tin. Không phải chỉ tin cõi Phật A Di Ðà là thật, người tỉnh thức còn tin: vũ trụ có hằng hà sa số cõi Phật ở mười phương đang hiện hữu và, đang diễn ra những diệu âm giải thoát, những diệu cảnh huy hoàng, những chân thức tuyệt đối, những chân như vô ngại và lìa khỏi ngôn ngữ diễn bày của chúng sanh.!

Ðiều cơ bản niềm tin đó sẽ không thay đổi cho đến khi hành giả niệm Phật sanh về cõi Phật, và chắc chắn khi sanh về đó, hành giả lại có niềm tin mãnh liệt hơn nữa! Vì sao ! Vì hành giả sẽ phát tâm vân du cúng dường chư Phật ở mười phương.

Bên cạnh niềm tin mãnh liệt tuyệt đối như vậy, người tỉnh thức lại giựt mình khi tin rằng vô số thế giới đang đau khổ cũng đã hiễn bày ra đó. Vì có thế giới tịnh ắt có thế giới ô nhiễm; có thế giới vui như Cực Lạc, hẳn có thế giới phiền hà đau khổ như sáu cõi luân hồi.

Ngay thế giới Ta Bà này, kẻ tỉnh thức phải hốt hoảng, khi mục kích những loài thú vật sống trong sự đe dọa đầy đọa của loài người, lại còn bị đe dọa với thiên nhiên vũ trụ. Ðau khổ nầy ập lên đau khổ khác. Chúng chẳng thể nào biết được, thế giới chúng đang ở, còn có thế giới loài người, là loài thông minh, hạnh phúc hơn chúng gấp triệu lần; nói cả triệu lần hạnh phúc, là ý nghĩa con người có cơ hội vươn lên những thế giới còn đẹp hơn vô số lần cõi Ta Bà nầy.

Dù với cặp mắt chúng, vẫn thấy loài sinh vật hai chân lạ lùng đang sai khiến mình, nhưng cái thấy vô trí (ví con số thông minh hết sức hạn hẹp) của loài súc sanh, chỉ biết giới hạn qua hiện tượng hình ảnh cử động mà thôi. Ôi thật tội nghiệp!

Nhìn chung lại, không một con vật nào mà không khổ trong cõi phiền trược nầy; dù là con vật nuôi trong nhà được cưng chìu hay được tự do bay, lội, chạy, nhảy giữa thiên nhiên. Nhưng có lẽ và chắc chắn, khổ đau nhất là chúng không thể nào biết được Phật pháp!

Nếu duyên lành nào, được chủ nuôi là người thực hành Phật pháp, rồi bố thí kinh cho chúng nghe thì con vật này quả là đại phước. Chúng sẽ kết được duyên đời sau; mặc dầu không hiểu lời kinh, nhưng do linh diệu, thần lực nhiệm mầu của kinh sẽ giúp chúng ghi nhận được. Tuy nhiên số con vật được như vậy, giống như một giọt nước nhiễu trên ngón tay so với nước đại dương.

Riêng con người, cảnh khổ hiện ra cũng lắm đau buồn, khiếp hãi !

Nỗi đau khổ về thân bệnh day dưa, khổ vì tật nguyền bất lực, khổ vì nghèo đói cơ hàn, khổ vì địa vị thấp kém, khổ vì thất học dại khờ, khổ vì tình cảm yêu thương, khổ vì tình thù dằn vặt, khổ vì ý nguyện bất thành và còn rất nhiều nữa. Những đau khổ nầy thuộc cả hai, thể chất và tinh thần. Ðây là cụ thể hiển hiện mà người tỉnh thức trực diện trải qua, chớ không phải nghe ai kể lại [1]

Như thế, cảnh giới Ta Bà này đâu cần đức Phật Thích Ca buộc chúng ta phải tin là khổ! Sự thật hiển nhiên này rõ ràng hiện chân ra đó! Tuy thế rõ biết nguyên nhân và tận nguồn gốc khổ chỉ có Phật mới rõ, nên dạy cho ta. Phật dạy rõ khổ phát xuất từ Tham, Sân Si, và cảnh giới ô nhiễm như vậy cũng từ duyên khởi của ba độc này.

Con người (chánh báo) thế nào hoàn cảnh (y báo) thế đó. Vì do một cộng nghiệp vọng thức Tham, Sân, Si khổng lồ nên kết thành một thế giới to lớn đủ chứa vô số những vọng tình ô nhiễm, rồi hình thành một thế giới dục (dục giới), là thế giới Ta Bà chúng ta đây.

Có thể nói bất cứ chúng sanh nào (trừ chúng sanh đã và đang chứng đạo giải thoát), mang hình thù chi, hễ ngụ ở Ta Bà là vọng tình ô nhiễm. Nhưng hỏi tại sao phải đủ loại hình chúng sanh?

Là vì nghiệp thức điên đảo, vì phiền não vô minh nên tạo tác vô số NGHIỆP, để quả báo hiện thành vô số hình tướng. Ðó là chân lý, là cảnh tượng sự thật trước mắt, mà ta vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng.

Thế thì sự thật nơi đây, thế giới này ta đã tin trăm phần trăm lời Phật dạy, thì cảnh giới Cực Lạc cũng do Phật nói ta lại há không tin!

Nếu Phật không xuất hiện, cái khổ Ta Bà nầy ta phải mù mờ chịu đau khổ mãi, mà chẳng bao giờ biết khổ là do đâu! Và dù biết khổ chăng nữa, ta chắc chắn cho rằng chỉ có loài người khổ, chứ không biết còn vô số chúng sanh khác còn khổ hơn ta – từ đó là nguyên nhân nghiệp sát chất chồng, để kết quả không bao giờ thoát lên cảnh giới tươi sáng huy hoàng được.

Ngày nay con người đang sống vào thời đại có thể nói hoàng kim của văn minh điện tử, thì việc củng cố niềm tin thế giới Cực Lạc lại dễ dàng hơn! Ðây há không phải đại duyên biết được pháp tu niệm Phật ở thời đại này!

Phải nói rằng dù thời tượng pháp nhiều người niệm Phật vững vàng được vãng sanh, nhưng niềm tin của họ chỉ đơn thuần tin Phật, mà khó giải thích Thế giới Cực Lạc bằng kiến thức văn minh thời đó. Do thế chỉ lấy sự tu hành làm chứng có thế giới Cực Lạc (tức là vãng sanh), riêng về phần lý giải khó được người tin. Với hiện nay, vừa lấy sự niệm Phật vãng sanh làm chứng, vừa lấy kiến thức xã hội con người ngày nay làm chứng.

Minh chứng kiến thức ngày nay là ngành thiên văn học.

Ngày nay nhìn lên bầu trời con người đã không thấy xa lạ như con người cách đây một ngàn năm; ngày nay con người có thể phóng phi thuyền lơ lững ở ngoài trái đất cả tháng trời để thám hiểm nhìn ngắm không gian vũ trụ; và ngày nay dưới mắt các nhà khoa học thiên văn, họ xem mặt trăng cũng chẳng khác gì một tỉnh lỵ ở không gian, có thể dụ lịch thường xuyên chẳng trở ngại gì. Sự kiện được như vậy là do con người đã lên thăm mặt trăng từ hơn ba thập niên qua ;[2] và so với kỷ thuật không gian ngày nay thì thời điểm đánh dấu vàng son đó chỉ là một chuyến đò nhỏ vượt qua con sông thật ngắn.

Ngày xưa con người cứ tưởng chỉ có thế giới này (trái đất) số một, còn lại tất cả chỉ là những hộ tinh (hành tinh phụ quay quanh theo) quay chung quanh; kể cả mặt trời cũng chẳng làm được gì!

Nhưng rồi chẳng bao lâu các Thiên văn gia khám phá ra sự thật, thế giới chúng ta chỉ là một trong nhiều thế giới giữa vũ trụ mênh mông nầy. Thiên văn gia nói là nhiều chớ không nói vô số, vì có thể xấp xỉ đếm được, đó là đầu thế kỷ 19 với viễn vọng kính (telescope) tương đối kỹ thuật cao.

Bây giờ thì không còn đếm được nữa, khi viễn vọng kính hiện đại càng phóng xa bao nhiêu, thế giới muôn hình hiện ra càng nhiều chừng nấy. Ấy vậy khoa học vẫn nói là hàng tỉ; hàng tỉ cũng có thể mường tượng là trăm ngàn tỉ cũng quá nhiều, tuy nhiên với Phật dạy, phải dùng đến “hằng hà sa số”. Hằng hà sa số là biểu tượng đến cát sông hằng (Hằng tên sông, hà nghĩa là sông), vậy nhiều như cát sông Hằng, thế thì đếm làm sao được! Nên gọi bất khả thuyết !

Ðó là lời Phật dạy từ xưa (cách đây hơn 2600 năm), và thiên văn học ngày nay mới biết, hay biết sớm nhất, cũng khoảng đầu thế kỷ 19 (đầu thế kỷ 19 mới tạm đủ phương tiện nghiên cứu).

Ngành Thiên văn cho biết, chỉ trong dãy ngân hà Milk Way thôi, đã có đến hàng trăm tỉ ngôi sao mặt trời, và “mười tỉ hành tinh giống như hành tinh của thái dương hệ [3]“. Trái đất chúng ta thuộc thái dương hệ nằm trong Ngân hà này. Nhưng Khoa học lại cho biết, vũ trụ có vô số ngân hà với những dạng hình khác nhau như: hình bánh xe, hình con bướm, hình nước xoáy, hình thai tạng, hình đám mây, hình bông hoa, hình chim phượng, hình con cua v.v… và cứ mỗi ngân hà (Galaxy) lại lớn nhỏ không đồng; có ngân hà đây lớn gấp trăm lần ngân hà kia, và mỗi cái lớn nhỏ đều chứa ít nhất ngàn triệu hay trăm tỉ ngôi sao .

Một điều tất nhiên, các ngân hà, thiên hà lớn như vậy chúng phải cách nhau một khoảng cách cũng khá xa!!

Nói đến khoảng cách thật khó mường tượng nổi, bởi chúng ta chỉ quen đo lường trên bề mặt hay bề cao của một vật trong giới hạn tương đối, đằng này là không gian, lại vượt khỏi hành tinh mình đang sống! Tuy nhiên, văn minh khoa học thiên văn đã tính được phần nào, và tất nhiên cũng có giới hạn.

Từ trái đất chúng ta đến mặt trăng Khoa học tính được khoảng 384.400 cây số (kilometre), đây thì quá gần rồi ! Từ mặt trời đến trái đất khoảng cách tương đối là 93,000,000 dặm (mile) tương đương 150 triệu cây số, và sức khoa học vẫn cho là gần. Nhưng từ Thái dương hệ nầy đến thái dương hệ khác khoa học tính bằng quang niên (danh từ Ðơn vị thiên văn – Astronomical Unit) tức theo ánh sáng đi một năm. Một quang niên [4] bằng 5.88 tỉ dặm.

Chẳng hạn Thiên hà hình sông M81 cách xa trái đất 10 quang niên; đó là đại khái thấy từ ngân hà nầy đến ngân hà kia là xa như vậy. Nhưng vũ trụ lại có vô số ngân hà chưa biết được, vậy vũ trụ sẽ lớn chừng nào ?

Thế thì điều ta tin, chỉ có trái đất chúng ta là có chúng sanh còn vô số hằng hà sa thế giới khác không thể nghĩ bàn, thì sao !!

Ta sẽ như đứa bé mẫu giáo cầm trên tay cuốn sách đại học !

Vậy kết lại, những gì Phật dạy đã vượt xa khoa học; tuy nhiên, cũng nhờ khoa học nhất là ngành

Thiên văn đã chứng minh được một sự thật, có vô số thế giới trong vũ trụ mênh mông – và thế giới Phật A Di Ðà cũng chẳng còn gì lạ, trong khi vũ trụ có hằng xa số cõi Phật.

Thật không thể tả được nỗi mừng khi Phật Thích Ca dạy niệm Phật nhất định sẽ sanh về thế giới Cực Lạc.

Xác định hiện hữu thế giới Cực Lạc chuẩn bị hành trang làm niềm tin tìm về, ta mới có vài quan sát nhận định trên; nhưng để có một khái niệm về thế giới thật nhỏ ta cũng cần nêu ra để thấy rằng với trí huệ của Phật, không một thế giới nào ra ngoài huệ nhãn của Ngài. Ðiều này lại giúp ta vững vàng thêm niềm tin Cực Lạc.

Ðúng như vậy, nếu ta cho Phật chỉ nói những gì cao xa khó thấy, thì khi Phật nói những gì gần gũi bên cạnh ta, và ngay cả trước mắt hay trong người chúng ta, ta cũng chẳng thấy nốt!

Phật nói về vi trùng, là những chúng sanh thật nhỏ, nhỏ đến nổi mắt thường không thấy được, phải nhờ đến kính hiển vi (microscope).

Phật nói thế nào! Phật dạy, hãy nên chú nguyện mỗi khi uống nước, phải ý thức mỗi khi di động, tránh vô tình sát hại chúng sanh. Duyên cớ đó mà một lần vài tháng trong mỗi năm, Ngài dạy đại chúng đệ tử nên lưu lại trú xứ, giảm chế việc di chuyển khất thực, hoặc Phật sự bên ngoài vì thời tiết côn trùng sinh nở. Ðó là truyền thống định kỳ an cư kiết hạ Phật chế ra.

Ly nước sạch trong có thể uống được mà Phật còn thấy vô số vi trùng, thử hỏi sau trận mưa dầm, đất cát sền sệch ứ đọng móc meo thì đừng nói chi vi trùng, vô số sinh vật lớn hơn vi trùng cũng đã tràn ngập; vậy dưới huệ nhãn từ bi của Ngài đành nào dẫm đạp, khi chứng kiến quá rõ ràng vô số chúng sinh đang đau khổ !

Ðó là thế giới hữu tình cực nhỏ. Ðến thế giới vô tình, thuộc vật chất cực nhỏ, lại càng cho thấy huệ nhãn của Phật không chỗ nào giấu che được.

Trong giáo lý giải thoát, chúng ta hẳn biết mọi vật đều do nhân duyên sinh. Nói về vật chất, tất cả do vô số nguyên tử kết thành. Tùy vào duyên ra sao vật chất đó sẽ tồn tại tương xứng. Nhìn cái bát bằng sành, cái ly bằng thủy tinh sẽ biết tuổi thọ quá ít oi so với cái chuông đồng hay thanh sắt. Tuy nhiên, những nguyên tử cấu tạo nên những vật nào, đều có thời gian hữu hạn của nó, thành ra sau thời gian ngắn hoặc dài, chúng cũng phải ra đi để kết vào duyên khác, tức đồng phải rỉ, và sắt cũng sét tiêu.

Những nguyên tử nhỏ như vậy, khoa học phải nhờ phương tiện kỹ thuật hiện đại phân tích chứng minh và điều đó được thấy qua năng dụng của nó; lại khi tiến đến cực nhỏ, nhỏ hơn nguyên tử nhiều nữa, bây giờ nó có tên khác; nhưng dù đặt tên chi, cũng không làm khoa học ngỡ ngàng cho bằng, mức độ càng quá nhỏ đó, không biết chúng có thật hay không ! Vì độ nhỏ của chúng đến mức khó thể quan sát tin được! [5]

Thế thì tại ta không thấy được, chớ nào đâu không có!

Vật nhỏ thì thuật ngữ của kinh đã nhắc qua gọi là vi trần, cực vi trần… Và nhỏ đến nổi, mà ta há chẳng nghe “Sắc bất dị không”,(sắc chẳng khác không) tức hình sắc kia nào đâu phải thật, chúng chỉ do vô số cực vi nguyên tử kết thành, và tự mỗi nguyên tử đó cũng phải bị hư hoại, thế cái Có như vậy đâu khác gì Không (không thật có)!

Tóm lại, đó là những chướng ngại của những người chưa chứng đạo như chúng ta, nên cái thấy từ xa đến gần đều chẳng hoàn bị, và sẽ không bao giờ hoàn bị, trừ khi ta được huệ nhãn như Phật.

Niềm tin về thế giới Nhiễm, Tịnh đã có căn cứ, đến đây niềm tin có được sanh về thế giới Tịnh (Cực Lạc) hay không!

Qua những điều dẫn chứng, sự thấy biết của đấng giác ngộ, so với hiểu biết con người phàm phu; chúng ta thấy rằng, xưa hay nay nếu chưa chứng đạo vẫn là cái thấy phiến diện, cái biết nhị biên [6], do thế cái thấy của người chưa chứng đạo thật là mù mờ, hạn hẹp.

Tuy nhiên con người ngày nay, dù không duyên thấy đấng giác ngộ, hay gần chư Thánh Tăng, nhưng lòng tin Phật pháp và sự kiểm chứng theo nền văn minh tiến bộ của loài người, khiến ta không những thoái tâm bồ đề mà còn xác định lập trường giải thoát của giáo lý Phật đà vững chãi hơn.

Kết lại mà nói, thế giới Tịnh và thế giới ô nhiễm thật sự đã hiện hữu.

Phật và hàng Bồ Tát là nhân chứng thế giới Thanh tịnh, và chúng ta những người còn ô nhiễm phiền não là chứng nhân của thế giới uế tịnh này.

Nhưng Chư Phật, Bồ Tát là quả của nhân tu chứng từ chúng sanh; thế thì thế giới Thanh Tịnh, tức thế giới Phật chỉ là thế giới tương lai cho chúng sanh sinh về mà thôi. Vậy còn gì phải thắc mắc có được sanh về hay không!

Huống chi chính kim ngôn của đấng Ðại Giác xác nhận cho ta điều này. Quả là Phật đại từ đại bi, việc hiển nhiên như thế mà Ngài vẫn thương chúng sanh mà nhắc nhở.

Hành trang thứ hai

Nguyện là khắc ghi vào tâm một tư duy, một ý tưởng, một hoài bão, một ước ao…để rồi tha thiết chân thành, cảm kích trọn đời sự việc đeo đuổi đó.

Cuộc đời thật rối ren, phức tạp, con người phải vất vả đương đầu vượt qua, tuy nhiên mỗi người trong mỗi hoàn cảnh đều thao thức ưu tư nuôi dưỡng ý niệm lẽ sống cho mình; chính nhờ như thế tạo nên thế giới biệt lập cho riêng mình (thế giới riêng) mà ung đúc nuôi dưỡng lẽ sống năng động hơn.

Từ đây, có một số người thao thức chung một ý tưởng, một tư duy, hóa thành dòng sống nhịp nhàng đồng điệu làm đẹp cho đời. Ðó là sự hình thành các tổ chức, hội đoàn, đoàn thể chuyên môn về một chức năng phục vụ đời sống, cho đến vấn đề tinh tế như triết lý, siêu hình qua hình thức gọi là tôn giáo đạo giáo vậy.

Lẽ đó khách quan mà nhìn, tác dụng của ý tưởng, tư duy có một sức mạnh ảnh hưởng đến nhân sinh vũ trụ. Và tất nhiên nhân sinh và vũ trụ quan của một số người nào đó sẽ trở thành tốt hay xấu đều do nhận thức hiểu biết riêng của một số người.

Hành giả tu niệm pháp môn nào, tất phải tha thiết pháp môn đó; tha thiết bằng lời hay hành động, tùy theo sở năng của mình. Sự tha thiết bằng lời, khiến hành giả ca tụng tán dương, nhưng ca tụng tán dương là để phô diễn điều ưa thích hướng đến bên ngoài, và điều mà hành giả phải ca tụng tự trong sâu thẩm của tâm hồn đó là NGUYỆN vậy.

Hẳn nhiên có phô diễn được bên ngoài cũng do bên trong, nhưng ở đây chưa thể gọi là nguyện. Vì nguyện thường tự đeo đuổi mãi trong lòng, cho dù sự nguyện đó có được phô diễn hay không phô diễn, tâm nguyện vẫn không chấm dứt, không ngừng nghỉ, thành ra nó phải là sâu nhiệm.

Nguyện chân thành tha thiết, là hòa nhịp vào hết cả thân tâm, không phải bị một chướng ngại gì làm rung chuyển. Có nghĩa, thân trong tình huống hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ lời nguyện, không làm sai trái phản lại.

Tất nhiên thân giữ được lời nguyện là do tâm. Nhưng nên cẫn thận vì cũng dễ thấy; nhiều khi Tâm vẫn giữ nguyện mà thân chẳng làm! Do vậy công phu giảm sút đạo lực yếu dần.

Tại sao Tâm có nguyện mà thân chẳng thể hiện! Vì không tha thiết. Không tha thiết nên chỉ có nguyện bằng âm thanh nơi khí quản, nên không khác âm thanh đối thoại hằng ngày! Dù vẫn có tác dụng tạo ra công đức, nhưng không đủ lực thu kết lại con đường đi tới mau hơn. Do đó người ta thường châm biếm là nói suông chẳng làm; ở đây là nguyện rỗng chẳng có cảm ứng!

Nguyện có tha thiết chân thành, hành động sẽ dần dần biến đổi từ thô đến tế, từ ngoài vào trong, và từ tác động nhẹ nhàng nhưng nghiệp dụng thật vững bền kiên cố.

Niệm Phật hòa vào được sự gia trì của Phật lực là do Nguyện tha thiết này. Nhưng Phật lực là gì, là Niệm Phật trong nguyện lực vậy. Niệm Phật trong nguyện lực tha thiết là tự tánh Di Ðà hiển lộ, là phát được tánh chân thiện, tánh giác ngộ, tánh từ bi tỏa ra chiếu đến khắp nơi.

Những tánh chân thiện như vậy là tánh huệ là tánh Chân Như, tánh Niết Bàn hay nói thẳng đó là tánh Phật.

Tánh huệ đó tạo nên dòng sáng, hòa vào từ quang (dòng sáng hào quang) của đức Phật Di Ðà, và ảnh Ngài xuất hiện. Hành giả sẽ thấy Ngài qua hai ảnh lực một là tự tánh của hành giả chiêu cảm ra, vì tánh huệ của hành giả ứng hợp với tánh Phật; hai là kim tướng của đức Di Ðà tỏa hiện từ những hào quang vô lượng phóng khắp mười phương.

Ðến đây đã tạm đầy đủ, và hẳn nhiên hành giả đã biết mình phải nguyện thế nào, nguyện ra sao.

Hành giả niệm Phật, duy nhất chỉ nguyện sanh về Cực Lạc, điều này không thể sai khác.

Lại nguyện khi chứng đạo giải thoát nơi Cực Lạc, liền quay lại cõi trược phiền để độ chúng sanh. Phải cần nguyện độ chúng sanh tâm hành giả mới thuần với tâm Phật, và mới mong được sanh Cực Lạc chóng được thành chánh giác.

Hành giả lại nhớ nguyện, là kể từ đây cho đến ngày rời bỏ xác thân ngũ uẩn này, mọi công đức gì, hành giả chỉ cầu hồi hướng sanh về Cực Lạc mà thôi.

Hành giả cũng nguyện cho tất cả chúng sanh đủ nhân duyên gặp được pháp môn Niệm Phật để tương lai sanh về Cực Lạc.

Ðó là một vài điểm phát khởi Nguyện lực cầu sanh Cực Lạc trong hành trang thứ hai vậy.

Hành trang thứ ba

Hành trang cuối cùng này, là những gì thành tựu của hai hành trang trên, giống như vật dụng, lương thực, đã đủ đầy trong ba lô, người du mục chỉ còn mang lên vai tiến bước.

Kẻ du mục không thể ra đi khi trên ba lô chẳng có món gì; lại không thể đến nơi nếu ba lô chưa đủ đầy phương tiện cần thiết. Như thế người du mục khôn ngoan, không những rõ biết trong ba lô chứa đựng món gì, mà còn biết rõ hành trang như thế sẽ mất bao ngày tới đích. Có như vậy sự lên đường mới được phấn khởi và ngày tới điểm sẽ huy hoàng.

Tuy nhiên hành trang thứ ba này xem ra vô cùng quan trọng, vì dù hai hành trang đầu (tín, nguyện) có đầy đủ, hay dư thừa chăng nữa cũng thành vô dụng. nếu đôi chân của hành giả hãy còn nằm yên một chỗ.

Hành giả phải đứng lên bước tới, hãy vững mạnh mà đi. Nếu hành giả không thể đi được! Vì sao? Vì hành giả chưa đủ niềm tin, chưa có lập nguyện. Chỉ có vậy thôi, ngoài ra không gì cả. Nhưng nếu hành giả đã tin rồi, đã có lập nguyện, sao lại không đi !

Ðó là phần còn lại, quyết định cho người niệm Phật đi về thế giới Cực Lạc vững vàng.

Có lẽ, chúng ta đã biết niệm Phật không phải chỉ mới trong đời nay, mà đã từng trong quá khứ, nhưng vì những bước niệm Phật của ta ngập ngừng do dự, nên đã chẳng đến nơi, thành ra đời này sanh ra còn duyên niệm Phật, nhưng lại bước đi quá khập khễnh.

Cũng không ít người thật có tin, thật có nguyện, và còn nguyện tha thiết nữa kìa, tuy thế vẫn hãy uể oải bước đi! Nói như thế, không phải mâu thuẩn với hành trang thứ hai (nguyện), mà nói như thế để chúng ta biết động lực vô hình của vô minh, sinh từ ái dục quá mạnh khiến người niệm Phật dù đủ hành trang trên vai mà vẫn ngoái đầu tiếc thương, tiếc rẽ cuộc đời!

Tiếc thương gì? Luyến lưu chi?

Ta dư hiểu điều này, đó là bao việc quay bủa chung quanh đời sống. Ðó là năm món ham muốn: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thùy) – chúng đã trì trệ bước chân của ta từ vô thỉ đến nay.

Công phu niệm Phật chỉ được nhất tâm tinh tấn, là khi ta trực nhận sự giả dối vô thường của chúng, tức ý thức, xem chúng là việc chẳng cần phải quan tâm; lại xem chúng là chân lý vô thường trong dòng pháp giải thoát.

Hiểu rõ năm món ham muốn như vậy, người niệm Phật mới đi vào sâu thẩm tự tâm, sáng suốt phát ra danh hiệu Phật. Ðây chính là phương pháp nhận ra vọng tưởng và xem nhẹ vọng tưởng. Xin thưa rằng tại sao chúng ta lại xem nhẹ vọng tưởng mà không nói là diệt vọng tưởng!

Thật tình để nói, diệt vọng tưởng là việc vô cùng khó khăn, điều này chắc chắn ai cũng đồng ý; với căn cơ của người thời nay sống trong hoàn cảnh không Phật, xa Thánh Tăng, cái khó chỉ có tăng không giảm!. Trong khi biết rằng tâm chúng sanh lại vô thường, làm sao diệt hết vọng tưởng! Không thể diệt được trong một ngày, mà chắc chắn một giờ cũng không được.

Nhưng vẫn có người diệt được; sự diệt được này phải đòi hỏi hành giả hài hòa giữa tâm cảnh bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Trước hết hành giả phải điều thân, sống trong giới hạnh oai nghi, rồi tư duy thiền định, vậy mới sinh ra được định tâm thanh tịnh; tuy nhiên thuận duyên để làm được thế, hành giả phải sống trong cảnh yên tịnh, an bình tránh nơi khích động, huyên náo. Và khi thành tựu điều thân và tâm, bấy giờ hoàn cảnh mới hài hòa tâm cảnh hành giả; đó là lúc hành giả có thể rời nơi yên mà đến cảnh ồn cũng vẫn an tâm.

Nơi đây, ta là người công phu niệm Phật, và niệm Phật trong mọi hoàn cảnh, nên chẳng giống người quán tâm thiền định; cho nên chẳng lo vọng tưởng diệt, hay không diệt, mà chỉ tập trung vào danh hiệu Phật, thế mới nói là xem nhẹ vọng tưởng đi.

Suy ra nữa, nếu ta không xem nhẹ chúng, lại không diệt được chúng, ta không thể niệm Phật nhất tâm. Thế thì không diệt được vọng tưởng lại quá quan tâm vọng tưởng, chỉ làm phân tâm niệm Phật mà thôi.

Ðến đây thấy rằng, bước đầu học Phật, buộc phải hiểu cơ bản giáo lý, vô thường, vô ngã, nhân quả duyên sinh, để có thể là những tác duyên hòa thuận giúp người vượt qua những chặng đường cám dỗ trong đời sống.

Niệm Phật trong mọi hoàn cảnh là tạo mãi chủng tử Phật vào A Lại Da thức (thức thứ tám theo Duy thức học), là nơi sâu thẳm của tâm, là nơi tàng chứa tích tụ muôn duyên sự. Có thực hành như vậy ta mới bớt đi sự khuyến dụ khích động hấp dẫn của dòng đời; mà chúng là nguyên nhân chính làm đầy vọng tưởng trong tâm.

Ta không quan tâm đến năm thứ dục lạc kia, nghĩa là ta sống mà không hệ lụy quá đáng với nó, để thành thái quá sa lầy; ta vẫn sống với nó nhưng trong dè dặt răn đe, và hưởng ứng nó bằng tâm người tỉnh thức – biết chuyển hóa thế nào là phương tiện tùy duyên để sanh về cõi Thanh tịnh là cứu cánh.

Hành trang người niệm Phật đã đầy đủ; hành trang thứ ba cũng đang trên đường về đích. Người tỉnh thức không còn chút nào lo lắng, mĩm cười mời gọi mọi người đi theo.

Thật khâm phục Đức phật Thế tôn, sao con người lại có thể tìm ra được những thứ mà trước đó, thời đó và sau này, con người có thể đọc được và gần như xua đi được mọi mô hồ ảo ảnh của chính cuộc đời mình vậy.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô A-Di-Đà Phật.

Vai trò của Tướng Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV


Hoàng Anh Tài

Tam quan đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí

(xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An). Ảnh: Thảo Nguyên

Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (1379-1465) sinh quán tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Trong cuộc đời 69 năm của Cương quốc công thì đã có 60 năm Ngài gắn bó với sự nghiệp triều Lê sơ, từ khi còn là một cậu thiếu niên đến lúc trở thành một công thần, rường cột của triều đình.

Nói về Nguyễn Xí, vua Lê Thánh Tông từng có nhận xét: “Nguyễn Xí: Khí chất cứng cỏi to tát, tính vốn trầm hùng, giúp Cao Hoàng khi mở nước trăm trận gian nan. Giúp Tiên khảo lúc thủ thành một lòng phò tá. Trong ngoài hết chức phận tướng văn, tướng võ, trước sau giữ trọn tiết làm tôi, làm con. Giữ mình có đạo hồn nhiên như viên ngọc không lộ sáng. Nghiêm sắc mặt ở triều, lẫm liệt như thanh kiếm mới tuốt. Các quân đều tưởng mộ phong thái, bốn biển đều trông thấy uy danh. Tiên đế mất trong khi đi tuần phương Nam, người ân cần nhận chiếu ký thác. Ta lên ngôi như mặt trời mới mọc, người bày tỏ hết mực mưu mô giúp rập. Tôn miếu xã tắc được yên vững, trung châu man di đều thuần phục…”(1)

Cùng với những công lao to lớn trên bình diện quốc gia đã được lịch sử dân tộc ghi nhận, Nguyễn Xí còn có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành nên nhiều làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ và trên địa bàn tỉnh Nghệ An ở thế kỷ thứ XV. Phạm vi bài báo này xin đề cập tới: Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành làng xã ở Nghệ An.

Ngay sau ngày đất nước đại định, triều Lê sơ đã thực thi việc bình xét công trạng đi liền với ban cấp lộc điền cho hoàng thân, quốc thích và các khai quốc công thần – những người đã có nhiều công lao giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, giải phóng đất nước. Việc làm này của Lê Lợi và vương triều Lê sơ còn nhằm gắn chặt trách nhiệm của quan lại đối với triều đình phong kiến trung ương tập quyền, đang là xu thế tiến bộ bấy giờ.

Cũng như nhiều vị khai quốc công thần thời Lê sơ, Nguyễn Xí đã được triều đình ban thưởng hàng nghìn mẫu ruộng lộc điền, mà phần lớn là thế nghiệp điền – loại ruộng đất được quyền sử dụng vĩnh viễn.

Tuy gia tộc Nguyễn Đình không còn lưu giữ được các sắc chỉ của triều Lê ban cấp ruộng đất cho Nguyễn Xí, nhưng nội dung Di huấn của Nguyễn Xí hiện còn lưu tại nhà thờ, gia phả dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp và một số thư tịch cũ đã cho ta biết cụ thể số ruộng lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 5.135 mẫu ở rải rác từ Hải Dương đến Nghệ An, Hà Tĩnh, bao gồm 6 trấn, 25 huyện, 93 xã(2). Trong đó, tại trấn Nghệ An (bao gồm địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 1009,5 mẫu, được phân bổ trên địa bàn của các phủ: Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và 5 huyện: Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương và Thiên Lộc.

Cùng với việc xác nhận số đất đai được ban cấp, Di huấn của Nguyễn Xí cũng nhắc nhở trách nhiệm của con cháu trong việc ghi nhớ công lao của tiền nhân: “Vua ra sắc lệnh ban cho Ta được hưởng ruộng đất lộc điền và Ta mới tương tậu thêm một số ruộng đất ở các xứ, phủ, huyện xã đều đặt làm sản nghiệp vĩnh viễn. Nay chúng mày được hưởng sự giàu sang, nhà đẹp, ruộng đất, nên nhớ lại khi Ta khó nhọc phát bụi, chặt gai. Thấy cảnh trí, ca nhi, vũ nữ, nên nghĩ đến lúc Ta chịu khổ gối gươm, nằm đất(3)

Ngoài hàng ngàn mẫu “lộc điền” được ban cấp, số đất ruộng do Nguyễn Xí tương tậu (mua) và tổ chức khai khẩn thêm còn có trên 765 mẫu, tập trung chủ yếu vùng xung quanh làng Thượng Xá quê hương Ngài.

Do bận việc quân cơ, triều chính, Nguyễn Xí không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình mà giao chủ yếu cho con cháu quản lý và thu hoa lợi. Thông thường mức địa tô mà người cày ruộng lộc điền phải nộp cho Nguyễn Xí trong khoảng 1/3 sản lượng, sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cần thiết. Mức thu này bằng, hoặc thấp hơn qui định của nhà nước; những năm mất mùa thì được miễn giảm tùy theo tình hình thực tế của mùa vụ.

Tuy nhiên, theo thời gian và sự biến động của lịch sử, số ruộng đất của Nguyễn Xí cũng bị thất thoát dần. Trong đó, một phần bị tư nhân hóa, một phần bị cường hào các địa phương chiếm đoạt; thậm chí do một số con cháu quá đói, buộc phải bán “ruộng họ”. Do đó, trong thực tế mức hoa lợi mà Nguyễn Xí cũng như con cháu thu được chỉ ở mức nhất định. Nhưng, việc khai thác, sử dụng ruộng đất của Nguyễn Xí đã góp phần đáng kể vào công cuộc mở mang kinh tế và quá trình hình thành nên nhiều làng xã ở nước ta trong thế kỷ thứ XV, mà chỉ tính riêng trên địa bàn Nghệ An thì đã có hàng chục làng xã thuộc 4 phủ, 5 huyện. Đây là một trong những đóng góp quan trọng nữa của Cương quốc công Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình rất cần được ghi nhận.

Theo Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở xã Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết: Nguyễn Xí đã giao cho Nguyễn Trọng Đạt (người con thứ 10) cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chàm, gồm các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp tiến hành khai khẩn đất đai tại vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc. Kết quả công cuộc khai khẩn ruộng đất đã hình thành nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng (nay thuộc địa bàn xã Nghi Hương và xã Nghi Thu, (thị xã Cửa Lò). Số hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử tử tế như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi những làng xã mới khai khẩn. Quá trình lao động và chung sống lâu đời, những nhóm người Chăm đó đã hoàn toàn hòa hợp với nông dân ngưòi Việt(5).Ngoài ra, Nguyễn Xí còn sử dụng bọn hàng binh nhà Minh, như Nguyễn Sĩ, Nguyễn Tiếp cùng dân địa phương khai hoang lập ra làng Phú Ích (nay thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc). Di huấn của Nguyễn Xí cũng ghi lại điều đó.

Đề cập đến vấn đề này, học giả người Pháp Hippolyte Le Breton trong cuốn An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh) được Tập san Đô thành hiếu cổ xuất bản lần đầu vào năm 1936 đã viết những dòng, như sau:

“Nguyễn Xí được cấp lãnh địa cả miền duyên hải nằm giữa Cửa Lò và Cửa Hội (Hội Thống) ngày nay. Trong số các đầm phá này có Bàu Ó, cái bàu mà theo các sách Dư địa chí thì gọi là hồ nước biển. Dọc theo bờ Bàu Ó, Nguyễn Xí lập nên làng Bàu Ó mà đất đai thì do một đám tù binh người Tàu mà Nguyễn Xí bắt được trong các cuộc chiến tranh ở An-Tĩnh (1418-1428) khai khẩn. Trên những đầm phá khác, Nguyễn Xí lập ra rất nhiều làng. Đất đai mới nổi lên đều do những người Chăm khai khẩn. Những người này do Nguyễn Xí bắt được trong cuộc đánh nhau với nước Chăm Pa năm Thái Hòa thứ 3, đời Nhân Tôn, tức năm Ất Sửu (1445)”.(5)

Tương truyền Làng Long Trảo (Móng Rồng), xưa thuộc làng Khánh Duệ, (nay thuộc xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc), là nơi được Nguyễn Xí chọn làm địa điểm tổ chức lễ mừng công sau ngày đất nước đại định. Lễ hội được tổ chức vào ngày mồng 01 tháng Hai âm lịch. Hàng năm đến ngày này, quan khách và con cháu khắp mọi miền đất nước kéo về đây dự lễ. Để có hàng hóa phục vụ lễ hội, Nguyễn Xí đã cho cưới chợ Sơn và giao làng thu thuế chợ nộp cho họ Nguyễn Đình mỗi năm 6 quan để góp vào việc tổ chức lễ hội mừng công. Chợ Sơn ra đời từ đó, mà người có công cưới chợ là Cương quốc công Nguyễn Xí.

Về sau, vào ngày 16 tháng 6 âm lịch hàng năm, tại chợ Sơn, dòng họ Nguyễn còn tổ chức tiểu lễ (lễ nhỏ) để tri ân những người có công với nhà Lê, với Nguyễn Xí, nhưng chưa được ban thưởng mà đã chết. Tại lễ này, Nguyễn Xí hoặc con cháu thay mặt Ngài tạ lỗi với những oan hồn đã bỏ xác trong các cuộc binh đao…Việc làm này, nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đó là sự biểu hiện của tình cảm “uống nước, nhớ nguồn“ – tấm lòng nhân văn cao cả của Cương quốc công Nguyễn Xí và gia tộc Nguyễn Đình.

Nguyễn Xí có 15 người con trai, 8 người con gái. Tất cả 15 người con trai đã noi gương thân phụ, đều hết lòng trung quân, ái quốc; trong 15 người thì có 7 người giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình và 8 người điều khiển chỉ huy 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu của nước Đại Việt. Nhiều người trong số họ đã được phong tước Hầu, hoặc Quận công; có người được phong làm Quốc công. Còn 8 người con gái đều lấy chồng thuộc các gia đình quí tộc. Quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất của con cháu Nguyễn Xí cũng góp phần mở mang kinh tế và hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn nước ta.

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết: Thái úy Nguyễn Sư Hồi – con trai cả của Cương quốc công Nguyễn Xí là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành làng Vạn Lộc – tiền thân của phường Nghi Tân, (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài ngót 5 cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc kinh dinh của Nguyễn Sư Hồi ở thế kỷ thứ XV.

Tương truyền: Chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng Vạn Lộc. Đến thế kỷ thứ XIX đã trở thành một trong số 10 chợ lớn của huyện Chân Lộc(6).

Đền thờ Nguyễn Sư Hồi trên địa bàn phường Nghi Tân vẫn trường tồn đến tận ngày nay cùng đôi câu đối ca ngợi công đức của Người “một thuở mang gươm đi mở cõi”:

“Dẹp giặc, yên dân, nghĩa khí ngàn năm ghi nhớ,

Khai cơ, lập nghiệp, công ơn muôn thuở lưu truyền.”

Trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, dọc sông Mai Giang đến núi Tùng Lĩnh có một giải đất với diện tích trên 5 mẫu, dân địa phương gọi là cánh đồng Dần. Truyền rằng do Ngọc Linh Vệ quản lệnh Nguyễn Đình Dần (con thứ 13 của Cương quốc công Nguyễn Xí) khai phá từ thế kỷ thứ XV(7).

Có thể dẫn ra nhiều ví dụ nữa cho thấy lộc điền và các loại đất ruộng của Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình đã tạo những tiền đề vật chất cho việc hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn Nghệ An, góp phần quan trọng vào việc mở mang kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, đưa Nghệ An từ vùng đất trại, từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của quốc gia Đại Việt.

Tài liệu tham khảo:

(1) Lê Quí Đôn Toàn tập, tập III (Đại Việt Thông sử) Nxb KHXH, H.1978, tr.181.

(2) Đỗ Danh Gia, Luận án tốt nghiệp khoa Sử, K11, Hà Nội, 1976.

(3) Di huấn của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí.

(4) Lịch sử Nghệ – Tĩnh, Tập I, Nxb Nghệ Tĩnh, 1984, tr.181.

(5) Hippolyte Le Breton, An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh), Nxb Nghệ An, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005; tr.99.

(6) Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh – quá trình hình thành và phát triển, tr.24.

(7) Hoàng Anh Tài, Quỳnh Xuân xưa và nay

Nguồn: Tập san KHXH &NV Nghệ An

Bài viết hay về vấn đề kinh doanh Công nghệ thông tin thời khủng hoảng


Five reasons business process improvement projects fail

By Scott Lowe

August 22, 2012, 5:20 AM PDT

Takeaway: Even with the best of intentions, even the most sought after business process improvement project can fail. Here are five reasons this happens and some advice for CIOs that want to avoid such failure.

Many CIOs have found or are looking for opportunities to elevate their departments to “business enabler” or “business multiplier” status, with all the rights and privileges therein. These rights and privileges often include increased respect from business partners and, even if the IT budget doesn’t fully escape the axe, a better understanding for the potential impact of such cuts.

Many of these efforts take the form of business process improvement initiatives designed to improve the efficiency of existing work, which could mean having that work take either less time, less money or both. In many organizations, CIOs and the IT department are well positioned to take the lead on such efforts.

Unfortunately, even with the best of intentions, even the most sought after business process improvement project can fail. Here, I will outline five reasons that these efforts often fail and provide some advice for CIOs that want to avoid such failure and see their projects succeed.

Lack of support from the top

Regardless of organizational size, attempting to initiate a significant process improvement effort without clear, direct and publicized support from the top will more than likely result in either total failure of the initiative or the eventual outcomes not being everything that they could be.

Lack of support from the top can be perceived by staff as the initiative not being important and not being deserving of the full time and effort that is required to ensure success. Business process improvement projects can be difficult, so reinforcement from the top that the efforts are necessary and appreciated is critical to the team’s success.

Mitigation: Get clear, public support for the overall initiative before starting any work. Get real support, too, not just words. Ensure that the leadership team is truly ready and that they won’t simply back down when the going gets tough.

Organizational culture

I’ve been in organizations in which the culture itself made process improvement efforts extremely difficult. In short, for pretty much any task, individual employees were empowered to simply opt out or refuse to take part. Given the process improvement efforts have the potential to sometimes uncover individual weakness or group challenges, it’s not a surprise that there may be some angst when improvement efforts are undertaken.

In one organization, I was stunned to discover the kinds of items that people could simply refuse to do, seemingly without repercussion. In that environment, the process improvement efforts were extraordinarily challenging and required much more dedication and time from the project leadership team than I’ve seen in other efforts.

In another example, for a substantial process improvement effort, a VP had promised access to certain members of her team for a period of months with a verbal promise that no other significant objectives would be put before those people until our efforts were complete. As you may have guessed, that promise did not hold and the team was pulled in too many different directions, resulting in failure since no one would budge on the due dates for any initiative.

Mitigation: In these environments, take a slow, measured approach to the initiative and make certain that leadership is squarely on board before proceeding. Ensure that the importance of the project trickles throughout the organization. Consider tying awards or some kind of compensation to outcomes to ensure reasonable participation. Further, get all commitments in writing along with fallback dates that are automatic in certain conditions, such as when a team member falls ill or when a promise is not kept.

Non-cooperative team members

In some cases, organizational culture is to blame for the failure of some efforts and for the shortcomings of some members of the team. However, when the organization itself is sound, you may have a team member that is either hostile or less than engaged in the overall effort. Because the team is theoretically comprised of those with a stake in the process being discussed, everyone needs to be fully involved in order to get the best results.

Mitigation: Find out what’s behind the hostility. If your organization starts the process improvement efforts with the hope that some people can be downsized as a result, don’t expect a lot of cooperation from the individuals whose jobs may be at stake. Further, if you’ve decided to undertake a BPI project to correct a personnel situation rather than dealing with the personnel situation directly, expect failure.

Project team is not representative

If you want to see what failure truly looks like, attempt to reengineer a process without ensuring that all of those with a stake in the process are represented during the effort. Perhaps the most important task is selecting the team that will work on the project. All stakeholders, from start to finish, need to be represented. Even if a person has just a small part in a large process, the insights and experience from each individual part of the process must be understood in order to improve it.

Mitigation: Easy! Be inclusive, even if you’re inclusive to a fault.

Initiative is too IT-focused

Although CIOs may be well suited to lead process improvement efforts, the outcomes may not be about technology at all. Bear in mind that IT plays a supporting role in a company’s process efforts; it’s not all about IT. What is important is leveraging technology assets in ways that optimize a company’s efforts. If the process discussion is slanted to a point where it looks like IT is taking over the process, you will end up with one of two scenarios: 1) Failure or 2) IT being saddled with “responsibility” for everything that happens in the organization. Neither is desirable.

Mitigation: CIOs need to wear their business hats when leading process improvement efforts.

Sưu tầm: Cài và cấu hình BizTalk 2010 – Cài và cấu hình BizTalk Server (Phần 8)


BizTalk 2010 Installation and Configuration, the last chapter!!!

In this section you’ll install BizTalk Server, confirm that the installation succeeded, and then configure BizTalk Server.

When you installed SQL Server, setup granted your account Database Administrator rights. Since these rights are also required for installing BizTalk Server, you must do one of the following:

  • Use the same account you used when you installed SQL Server.
  • Make sure the account you’re using now also has Database Administrator rights.
To install BizTalk Server 2010
  1. Close any programs you have open.
  2. Insert the BizTalk Server 2010 installation disk into the DVD-ROM drive.
  3. On the Start screen, click Install Microsoft BizTalk Server 2010.
    biztalk-installation-start-screen
  4. On the Customer Information screen, type your user name and organization, enter your product key, and then click Next.
    biztalk-customer-information-screen
  5. On the License Agreement screen, click Yes, I accept the terms of the license agreement, and then click Next.
    biztalk-License-Agreement-screen
  6. Use the Customer Experience Improvement Program page of the BizTalk Server 2010 Installation Wizard to enable feature usage reporting functionality for BizTalk Server.
    biztalk-Customer-Experience-screen
  7. On the Component Installation screen, review the available components and select the ones you want to install.
    biztalk-Component-Installation-screen
    biztalk-Component-Installation-screen-2
  8. Accept the default installation location or click Browse to move to the location where you want to install BizTalk Server 2010, and then click Next.
  9. If your computer is missing a prerequisite component such as ADOMD.NET, Setup can install the redistributable prerequisites. You can either:
    1. Select Automatically install the redistributable prerequisites from the web
    2. OR Select Automatically install the redistributable prerequisites from a CAB file if you have downloaded the CAB file. If you select this, you can then browse to the location of the CAB file and select it.
      biztalk-Redistributable-Prerequisites-screen
  10. On the Summary screen, verify that the components that you select to install are correct.
    biztalk-Summary-screen
  11. To enable auto-logon after a system reboot, click Set and provide your logon information. Auto-logon is enabled only for reboots during setup, and is disabled when setup is complete.
  12. Click Install to start the installation process.
  13. On the Microsoft Update Setup page, click Use the Microsoft Update when I check for updates (recommended).
  14. On the Installation Completed screen, clear the Launch BizTalk Server Configuration check box, and then click Finish.
    biztalk-completed-screen
Verify Your Installation

You can check to see whether your installation was successful by using either Programs and Features or the Registry.

To verify installation using Programs and Features

  1. Click Start, click Control Panel (View by: Large/Small icons), and double-click Programs and Features.
  2. When the list is fully populated, look for BizTalk Server 2010. If it appears in the list, setup succeeded.

To verify installation using the Registry

  1. Open a command prompt.
  2. Type regedit and then press Enter.
  3. When the Registry opens, browse to HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\BizTalk Server\3.0
  4. If files exist in the 3.0 folder, setup succeeded.
  5. Close the Registry, and then close the command prompt.
Configure BizTalk Server

Use the following procedure to complete a basic configuration of BizTalk Server. For information on customizing your configuration, see Custom Configuration in the BizTalk Server Help.

To configure BizTalk Server 2010 using Basic Configuration

  1. Click Start, click All Programs, click Microsoft BizTalk Server 2010, right-click BizTalk Server Configuration, and then click Run as Administrator.
    biztalk-conf-run
  2. In the Database field, enter the name of the local computer.
  3. In the Service Credential field, type the User name and Password for the account that the BizTalk services will run under.
    biztalk-conf-start-screen
  4. Click Configure.
  5. Note: You may receive a warning if you enter a user name with administrative credentials on this computer. Click OK to continue.
    biztalk-conf-start-warning-screen
  6. On the Summary screen, review the configuration about to be performed, and then click Next.
    Don’t worry about SharePoint Adapter, we deal with this later!
    biztalk-conf-summary-screen
  7. On the Completion screen, click Finish.
    biztalk-conf-completed-screen

Note: Once again don´t worry about SharePoint Adapter, we deal with this later.

Setting up BizTalk – SharePoint Adapter

We now have the ability to configure the “SharePoint Adapter”. For that you must:

  1. Run BizTalk Server Configuration
    biztalk-conf-overview-screen
  2. On the Configuration Screen, select the option “SharePoint Adapter” and use the drop down list to select the WSS Site where you would like the adapter to be installed, in this case “SharePoint – 90”.
    biztalk-conf-SharePoint-adapter-screen
  3. Assuming everything is aligned correctly, you should now be able to click the “Apply Configuration” button.
  4. On the Summary screen, click “Next”
    biztalk-conf-update-summary-screen
  5. On the Completion screen, click Finish.
    biztalk-conf-update-finish-screen

We now have BizTalk Server 2010 FULLY Installed and Configured!!!

BizTalk-Server-2010

%d bloggers like this: