Category Archives: Lịch sử ngàn năm Văn hiến

Phần 1. Cấu hình Hệ thống đào tạo trực tuyến thế hệ mới – ROBUSTA Distance Learning 2015


1. Tổng quan:

Đào tạo từ xa (E-learning) với khả năng cung cấp bài giảng đa phương tiện và hỗ trợ việc dạy và học cho mọi người, ở mọi nơi và mọi lúc , đây là một phương pháp hữu hiệu để hỗ trợ bổ sung hoặc thậm trí thay thế một số bộ môn trong hình thức đào tạo truyền thống.

Mô hình E-learning phổ biến nhất hiện nay là phát triển các hệ thống đào tạo trực tuyến dựa trên nền web (Web-Based Training  “WBT”) cho phép quản lý một số lượng lớn người dùng thuộc 6 nhóm chính:

  1. Quản trị hệ thống mạng và dịch vụ (đảm bảo về kỹ thuật, cấu hình dịch vụ cho hoạt động ổn định của hệ thống).
  2. Quản trị hệ thống nội dung, chương trình đào tạo (Nhóm người quản lý các chức năng đào tạo, theo dõi qui mô, tiến trình, báo cáo và đánh giá chất lượng đào tạo để có thể ra các quyết sách hợp lý).
  3. Giảng viên (nhóm đối tượng khai thác chức năng của cả đào tạo “LMS” và quản lý nội dung giáo trình dạy “LCMS” để xây dựng bài giảng và quản lý việc sử dụng bài giảng).
  4. Trợ giảng, người theo dõi quản lý lớp/ khóa học.
  5. Học viên (nhóm đối tượng sử dụng đông đảo và đa dạng nhất của hệ thống. đối với một hệ WBT cho cộng đồng, học viên có thể là mọi đối tượng trong xã hội. Học viên chủ yếu khai thác trực tiếp các chức năng của phân hệ đào tạo “LMS”).
  6. Phụ huynh / người quản lý trực tiếp nhóm của học viên.

và cung cấp các hình thức tương tác giữa 6 nhóm phong phú như:

  1. Lưu sổ điểm, học bạ,điểm danh, chứng chỉ, theo dõi tình hình học tập, tiến trình ôn tập của từng cá nhân học viên.
  2. Hệ thống tương tác qua email, sms, trao đổi qua văn bản / hình ảnh / âm thanh, streaming media.
  3. Cung cấp các nguồn thư viện điện tử, media, video/audio, giáo trình tham khảo điện tử , trình chiếu powerpoint slides, adobe flash, silverlight …
  4. Hệ thống ôn tập thi chứng chỉ các chuyên ngành học dạng ngân hàng đề thi trắc nghiệm, thi mô hình simulators / hotspot, điều khiển Labs thực hành trên máy tính và mạng ảo, chấm điểm tự động.
  5. Khả năng remote hỗ trợ từ xa các máy desktop của giảng viên, học viên chuyên các bộ môn: ITIL, Helpdesk, chăm sóc khách hàng CRM …
  6. Khả năng học nhóm, họp phòng, hội thảo, triển lãm CNTT từ xa bằng tích hợp các hệ thống điện toán đám mây như: Google App, Office 365 hoặc Lync Conferencing 2010/2013, VMware Virtualization…
  7. Hệ thống thực hành trực tuyến điều khiển từ xa giúp học viên, giảng viên và quản trị hệ thống mạng xây dựng được các bài thực hành : Virtualization Data center, SharePoint, BizTalk, Virtualization System, Hybrid Cloud, Private Cloud…
  8. Tích hợp với các mạng xã hội như: facebook, linkedin, youtube, flickr, google, Microsoft Azure, Moodlenews… giúp việc ad/pr, marketing tin tức hoạt động, chương trình đào tạo của hệ thống hiệu quả cao hơn.

Moodle-social

Chính vì vậy đã có nhiều hệ thống WBT được phát triển và số người tham gia vào các hệ thống này ngày càng tăng.

 

2. Cấu trúc cơ bản của WBT:

Một hệ thống WBT hoàn chỉnh thường bao gồm hai thành phần chính:

  1. Phân hệ quản lý đào tạo (Learning Management System – LMS).
  2. Phân hệ quản lý nội dung đào tạo (Learning Content Management System-LCMS).

image

  • LMS là một hệ thống quản lý các quá trình học tập, bao gồm việc đăng ký khoá học của học viên, phân phối các nội dung học cho học viên, các hoạt động kiểm tra đánh giá, và các hoạt động tương tác trong cộng đồng người sử dụng. Một số LMS còn hỗ trợ nhà quản lý và giảng viên thực hiện giám sát tiến trình học và chất lượng học, hỗ trợ các hình thức tương tác trực tuyến và bài giảng đồng bộ.
  • LCMS là hệ thống hỗ trợ việc xây dựng nội dung học tập bao gồm việc tạo, cập nhật, tìm kiếm và sử dụng lại các module bài giảng. Bài giảng có thể được thể hiện dưới nhiều mức khác nhau từ văn bản cho đến bài giảng đa phương tiện chứa video và bài giảng dạng mô phỏng hỗ trợ tương tác. Hầu hết các hệ LCMS đều tiến tới hỗ trợ việc biểu diễn bài giảng theo các chuẩn thống nhất (ví dụ: SCORM hay XML) để dễ dàng chia sẻ và sử dụng lại.

image

 

3. Công nghệ đáp ứng nền tảng:

  1. Web Server: Apache / IIS 7.5 trở lên.
  2. Hệ quản trị CSDL: MySQL 5.x / MS SQL Server 2008 R2 trở lên.
  3. Directory: AD, LDAP / OpenLDAP.
  4. Ngôn ngữ lập trình: PHP 5.x / ASPX 2 trở lên, XML/XSL/ Notes.js
  5. Trình duyệt web: Internet Explorer 6 trở lên; Chrome; Firefox, Opera, Safari, WAP 1.x; Nescape 5.x trở lên

 

4. mô hình các thành phần của hệ thống đào tạo trực tuyến:

image

5. Cấu trúc các chức năng hệ thống:

image

6. Cấu trúc của một môn học trực tuyến:

image

 

7. Yêu cầu kỹ năng tương tác của giảng viên:

image

8. Triển khai mô hình LMS vs LCMS trong đào tạo trực tuyến:

MOOC

Lưu ý: Trong mô hình trên chúng ta sẽ vướng phải yêu cầu về đăng nhập 1 lần (SSO) sử dụng giao thức LDAP:// 389 hoặc LDAPS để trao đổi thông tin, đăng nhập xác thực 1 lần giữa WBT, web service với email, ftp, portal và LMS – LCMS của các sản phẩm công nghệ quản lý đào tạo sẵn có như: Moodle, Blackboard, SharePoint Learning gateway …

(xin xem phần 2. Triển khai cấu hình đăng nhập 1 lần giữa Moodle và AD server).

9. Triển khai mô hình hệ thống Cân bằng tải:

image

Hết phần 1.

Advertisements

Vai trò của Tướng Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV


Hoàng Anh Tài

Tam quan đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí

(xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An). Ảnh: Thảo Nguyên

Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (1379-1465) sinh quán tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Trong cuộc đời 69 năm của Cương quốc công thì đã có 60 năm Ngài gắn bó với sự nghiệp triều Lê sơ, từ khi còn là một cậu thiếu niên đến lúc trở thành một công thần, rường cột của triều đình.

Nói về Nguyễn Xí, vua Lê Thánh Tông từng có nhận xét: “Nguyễn Xí: Khí chất cứng cỏi to tát, tính vốn trầm hùng, giúp Cao Hoàng khi mở nước trăm trận gian nan. Giúp Tiên khảo lúc thủ thành một lòng phò tá. Trong ngoài hết chức phận tướng văn, tướng võ, trước sau giữ trọn tiết làm tôi, làm con. Giữ mình có đạo hồn nhiên như viên ngọc không lộ sáng. Nghiêm sắc mặt ở triều, lẫm liệt như thanh kiếm mới tuốt. Các quân đều tưởng mộ phong thái, bốn biển đều trông thấy uy danh. Tiên đế mất trong khi đi tuần phương Nam, người ân cần nhận chiếu ký thác. Ta lên ngôi như mặt trời mới mọc, người bày tỏ hết mực mưu mô giúp rập. Tôn miếu xã tắc được yên vững, trung châu man di đều thuần phục…”(1)

Cùng với những công lao to lớn trên bình diện quốc gia đã được lịch sử dân tộc ghi nhận, Nguyễn Xí còn có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành nên nhiều làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ và trên địa bàn tỉnh Nghệ An ở thế kỷ thứ XV. Phạm vi bài báo này xin đề cập tới: Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành làng xã ở Nghệ An.

Ngay sau ngày đất nước đại định, triều Lê sơ đã thực thi việc bình xét công trạng đi liền với ban cấp lộc điền cho hoàng thân, quốc thích và các khai quốc công thần – những người đã có nhiều công lao giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, giải phóng đất nước. Việc làm này của Lê Lợi và vương triều Lê sơ còn nhằm gắn chặt trách nhiệm của quan lại đối với triều đình phong kiến trung ương tập quyền, đang là xu thế tiến bộ bấy giờ.

Cũng như nhiều vị khai quốc công thần thời Lê sơ, Nguyễn Xí đã được triều đình ban thưởng hàng nghìn mẫu ruộng lộc điền, mà phần lớn là thế nghiệp điền – loại ruộng đất được quyền sử dụng vĩnh viễn.

Tuy gia tộc Nguyễn Đình không còn lưu giữ được các sắc chỉ của triều Lê ban cấp ruộng đất cho Nguyễn Xí, nhưng nội dung Di huấn của Nguyễn Xí hiện còn lưu tại nhà thờ, gia phả dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp và một số thư tịch cũ đã cho ta biết cụ thể số ruộng lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 5.135 mẫu ở rải rác từ Hải Dương đến Nghệ An, Hà Tĩnh, bao gồm 6 trấn, 25 huyện, 93 xã(2). Trong đó, tại trấn Nghệ An (bao gồm địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 1009,5 mẫu, được phân bổ trên địa bàn của các phủ: Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và 5 huyện: Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương và Thiên Lộc.

Cùng với việc xác nhận số đất đai được ban cấp, Di huấn của Nguyễn Xí cũng nhắc nhở trách nhiệm của con cháu trong việc ghi nhớ công lao của tiền nhân: “Vua ra sắc lệnh ban cho Ta được hưởng ruộng đất lộc điền và Ta mới tương tậu thêm một số ruộng đất ở các xứ, phủ, huyện xã đều đặt làm sản nghiệp vĩnh viễn. Nay chúng mày được hưởng sự giàu sang, nhà đẹp, ruộng đất, nên nhớ lại khi Ta khó nhọc phát bụi, chặt gai. Thấy cảnh trí, ca nhi, vũ nữ, nên nghĩ đến lúc Ta chịu khổ gối gươm, nằm đất(3)

Ngoài hàng ngàn mẫu “lộc điền” được ban cấp, số đất ruộng do Nguyễn Xí tương tậu (mua) và tổ chức khai khẩn thêm còn có trên 765 mẫu, tập trung chủ yếu vùng xung quanh làng Thượng Xá quê hương Ngài.

Do bận việc quân cơ, triều chính, Nguyễn Xí không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình mà giao chủ yếu cho con cháu quản lý và thu hoa lợi. Thông thường mức địa tô mà người cày ruộng lộc điền phải nộp cho Nguyễn Xí trong khoảng 1/3 sản lượng, sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cần thiết. Mức thu này bằng, hoặc thấp hơn qui định của nhà nước; những năm mất mùa thì được miễn giảm tùy theo tình hình thực tế của mùa vụ.

Tuy nhiên, theo thời gian và sự biến động của lịch sử, số ruộng đất của Nguyễn Xí cũng bị thất thoát dần. Trong đó, một phần bị tư nhân hóa, một phần bị cường hào các địa phương chiếm đoạt; thậm chí do một số con cháu quá đói, buộc phải bán “ruộng họ”. Do đó, trong thực tế mức hoa lợi mà Nguyễn Xí cũng như con cháu thu được chỉ ở mức nhất định. Nhưng, việc khai thác, sử dụng ruộng đất của Nguyễn Xí đã góp phần đáng kể vào công cuộc mở mang kinh tế và quá trình hình thành nên nhiều làng xã ở nước ta trong thế kỷ thứ XV, mà chỉ tính riêng trên địa bàn Nghệ An thì đã có hàng chục làng xã thuộc 4 phủ, 5 huyện. Đây là một trong những đóng góp quan trọng nữa của Cương quốc công Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình rất cần được ghi nhận.

Theo Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở xã Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết: Nguyễn Xí đã giao cho Nguyễn Trọng Đạt (người con thứ 10) cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chàm, gồm các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp tiến hành khai khẩn đất đai tại vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc. Kết quả công cuộc khai khẩn ruộng đất đã hình thành nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng (nay thuộc địa bàn xã Nghi Hương và xã Nghi Thu, (thị xã Cửa Lò). Số hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử tử tế như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi những làng xã mới khai khẩn. Quá trình lao động và chung sống lâu đời, những nhóm người Chăm đó đã hoàn toàn hòa hợp với nông dân ngưòi Việt(5).Ngoài ra, Nguyễn Xí còn sử dụng bọn hàng binh nhà Minh, như Nguyễn Sĩ, Nguyễn Tiếp cùng dân địa phương khai hoang lập ra làng Phú Ích (nay thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc). Di huấn của Nguyễn Xí cũng ghi lại điều đó.

Đề cập đến vấn đề này, học giả người Pháp Hippolyte Le Breton trong cuốn An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh) được Tập san Đô thành hiếu cổ xuất bản lần đầu vào năm 1936 đã viết những dòng, như sau:

“Nguyễn Xí được cấp lãnh địa cả miền duyên hải nằm giữa Cửa Lò và Cửa Hội (Hội Thống) ngày nay. Trong số các đầm phá này có Bàu Ó, cái bàu mà theo các sách Dư địa chí thì gọi là hồ nước biển. Dọc theo bờ Bàu Ó, Nguyễn Xí lập nên làng Bàu Ó mà đất đai thì do một đám tù binh người Tàu mà Nguyễn Xí bắt được trong các cuộc chiến tranh ở An-Tĩnh (1418-1428) khai khẩn. Trên những đầm phá khác, Nguyễn Xí lập ra rất nhiều làng. Đất đai mới nổi lên đều do những người Chăm khai khẩn. Những người này do Nguyễn Xí bắt được trong cuộc đánh nhau với nước Chăm Pa năm Thái Hòa thứ 3, đời Nhân Tôn, tức năm Ất Sửu (1445)”.(5)

Tương truyền Làng Long Trảo (Móng Rồng), xưa thuộc làng Khánh Duệ, (nay thuộc xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc), là nơi được Nguyễn Xí chọn làm địa điểm tổ chức lễ mừng công sau ngày đất nước đại định. Lễ hội được tổ chức vào ngày mồng 01 tháng Hai âm lịch. Hàng năm đến ngày này, quan khách và con cháu khắp mọi miền đất nước kéo về đây dự lễ. Để có hàng hóa phục vụ lễ hội, Nguyễn Xí đã cho cưới chợ Sơn và giao làng thu thuế chợ nộp cho họ Nguyễn Đình mỗi năm 6 quan để góp vào việc tổ chức lễ hội mừng công. Chợ Sơn ra đời từ đó, mà người có công cưới chợ là Cương quốc công Nguyễn Xí.

Về sau, vào ngày 16 tháng 6 âm lịch hàng năm, tại chợ Sơn, dòng họ Nguyễn còn tổ chức tiểu lễ (lễ nhỏ) để tri ân những người có công với nhà Lê, với Nguyễn Xí, nhưng chưa được ban thưởng mà đã chết. Tại lễ này, Nguyễn Xí hoặc con cháu thay mặt Ngài tạ lỗi với những oan hồn đã bỏ xác trong các cuộc binh đao…Việc làm này, nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đó là sự biểu hiện của tình cảm “uống nước, nhớ nguồn“ – tấm lòng nhân văn cao cả của Cương quốc công Nguyễn Xí và gia tộc Nguyễn Đình.

Nguyễn Xí có 15 người con trai, 8 người con gái. Tất cả 15 người con trai đã noi gương thân phụ, đều hết lòng trung quân, ái quốc; trong 15 người thì có 7 người giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình và 8 người điều khiển chỉ huy 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu của nước Đại Việt. Nhiều người trong số họ đã được phong tước Hầu, hoặc Quận công; có người được phong làm Quốc công. Còn 8 người con gái đều lấy chồng thuộc các gia đình quí tộc. Quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất của con cháu Nguyễn Xí cũng góp phần mở mang kinh tế và hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn nước ta.

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết: Thái úy Nguyễn Sư Hồi – con trai cả của Cương quốc công Nguyễn Xí là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành làng Vạn Lộc – tiền thân của phường Nghi Tân, (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài ngót 5 cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc kinh dinh của Nguyễn Sư Hồi ở thế kỷ thứ XV.

Tương truyền: Chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng Vạn Lộc. Đến thế kỷ thứ XIX đã trở thành một trong số 10 chợ lớn của huyện Chân Lộc(6).

Đền thờ Nguyễn Sư Hồi trên địa bàn phường Nghi Tân vẫn trường tồn đến tận ngày nay cùng đôi câu đối ca ngợi công đức của Người “một thuở mang gươm đi mở cõi”:

“Dẹp giặc, yên dân, nghĩa khí ngàn năm ghi nhớ,

Khai cơ, lập nghiệp, công ơn muôn thuở lưu truyền.”

Trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, dọc sông Mai Giang đến núi Tùng Lĩnh có một giải đất với diện tích trên 5 mẫu, dân địa phương gọi là cánh đồng Dần. Truyền rằng do Ngọc Linh Vệ quản lệnh Nguyễn Đình Dần (con thứ 13 của Cương quốc công Nguyễn Xí) khai phá từ thế kỷ thứ XV(7).

Có thể dẫn ra nhiều ví dụ nữa cho thấy lộc điền và các loại đất ruộng của Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình đã tạo những tiền đề vật chất cho việc hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn Nghệ An, góp phần quan trọng vào việc mở mang kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, đưa Nghệ An từ vùng đất trại, từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của quốc gia Đại Việt.

Tài liệu tham khảo:

(1) Lê Quí Đôn Toàn tập, tập III (Đại Việt Thông sử) Nxb KHXH, H.1978, tr.181.

(2) Đỗ Danh Gia, Luận án tốt nghiệp khoa Sử, K11, Hà Nội, 1976.

(3) Di huấn của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí.

(4) Lịch sử Nghệ – Tĩnh, Tập I, Nxb Nghệ Tĩnh, 1984, tr.181.

(5) Hippolyte Le Breton, An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh), Nxb Nghệ An, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005; tr.99.

(6) Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh – quá trình hình thành và phát triển, tr.24.

(7) Hoàng Anh Tài, Quỳnh Xuân xưa và nay

Nguồn: Tập san KHXH &NV Nghệ An

Hồi ký tuỳ bút–một ngày cuối năm 2009 nói về chữ “TẾT” của Dân tộc Việt Nam


Người italia, người tây ban nha, người Đức và người Pháp… mà trong cuộc đời tôi có dịp sống làm việc cùng họ ở liên hiệp quốc, FAO.
Họ đều hiểu văn hóa người Việt và họ đều nói rất rõ “Vietnamese new year” hoặc đơn giản là “Tết“.
Có nhiều điều lý giải cho sự đồng hóa “chiếm” lĩnh văn hóa, xóa bỏ lịch sử của nhiều Triều đại để làm cho các thế hệ sau nhầm lẫn.
(ví dụ: 40 – 50% thế hệ trẻ việt đều nói rằng họ xuất thân là gốc người hoa vì họ cho rằng họ biết lịch sự trung quốc tốt hơn lịch sử Việt nam. Vậy mà tôi đã từng đặt ra nhiều câu hỏi họ đã không trả lời được:
1. Lúa gạo, Trà ẩm thực ngày nay là những sản vật có nguồn gốc từ đất nước Trung hoa ?
2. Những ngày lễ hội như: 1/1, 3/3, 5/5, 7/7, 9/9,11/11 là những ngày gì ? chúng có liên quan gì với nền văn minh “Lúa nước” ?
3. Bạn có biết người Trung quốc cũng có những ngày lễ đó mặc dù không phải là thuộc nền văn hóa “Lúa nước“, các bạn biết tại sao không ?

Những thứ đó chưa bao giờ có nguồn gốc từ người Trung Quốc, mắc dù vậy họ vẫn cố công tạo dựng hình ảnh để thế giới tưởng nhầm rằng những thứ tuyệt tác đó là nguồn gốc của họ, làm cho Trung quốc có cái bong bóng vĩ đại.

Bôi nhọ, nói xấu Việt nam để Thế giới nghĩ rằng Việt nam nhỏ bé, không có nguồn gốc to đẹp, phụ thuộc vào “Bành trướng Bắc Kinh”, những kẻ chỉ giỏi mị dân, nói láo và làm nhiều điều độc ác, thất đức, sằng bậy.

Tóm lại, những câu hỏi trên thật đơn giản và thật khó bởi vì các nhà sử học, môn học lịch sử việt nam lại không viết một cách thực tế như vậy để con cháu người Việt hiểu mà chỉ toàn nêu sự kiện, văn học thì toàn đưa ra những lý giải thích dung dị khó chấp nhận làm cho văn hóa và sử học người Việt ngày càng mờ nhạt lẫn lộn với lịch sử Trung quốc, mặc dù 2 lịch sử, văn hóa hoàn toàn khác nhau.

Ngày nay, chúng ta lại đi cãi nhau về chuyện cái nào có trước, cái nào có sau. Hay phong tục đó là của người Trung quốc, văn hóa đó là của người Việt…  Rồi chuyện người Trung quốc làm sằng làm bậy ở đảo Hoàng xa, Trường xa, đưa mấy ngôi mộ giả theo kiểu kế “72 ngôi mộ giả của Tào Tháo”  rồi bảo với thiên hạ là ngôi mộ cổ của tổ tiên họ mới mọc ra ở đảo – lố bịch quá, bởi Trung quốc còn không có “ngày quốc giỗ” lấy đâu ra cái tôn quí những ngôi mộ cổ của tổ tiên, họ chỉ giỏi đào bới  mộ tổ tiên lên để lấy các vật cổ, giá trị.

Tôi rất hạnh phúc là người Việt, bởi vì đơn giản tôi có gốc tích người Việt cổ xưa, cũng thuộc 1 dòng họ “Đế vương” , tự hào và luôn cố gắng để thể hiện mình là con cháu Đế vương. Điếu đó cho thấy tôi hơn hẳn suy nghĩ của người khác cho dù đó là người Việt hay họ tự cho rằng họ là người Trung hoa.

Và cũng như bao người dân việt khác, toàn thể dân Việt tự hào hơn các dân tộc khác (kể cả người trung quốc hiện đại) vì chúng tôi là dân tộc có ngày thờ cúng tổ tiên “Ngày giỗ tổ“.

 (Các nước trên Thế giới, người Trung quốc và các dân tộc khác đông là thế, văn minh là vậy nhưng không có nổi ngày đó).

Tôi nói tất cả những điều này để hiểu đơn giản rằng:
– Tết cổ truyền của Dân tộc Việt nam hoàn toàn khác với tết trung quốc.
– Tết của người Việt có trước cả lễ hội của người Trung Quốc chỉ bởi đơn giản Lịch âm được tính theo lịch mặt trăng. Lịch mặt trăng được tính theo những ngày mùa làm ruộng của nền văn minh “Lúa nước“, Trung quốc không thuộc nền văn minh này, nên hiển nhiên họ không biết gì về lịch âm.

– Có trong sử sách Chiến tranh 1000 năm bắc thuộc, nhà Hán đã học được ở Cha ông người Việt chúng ta có ngày Tết dân tộc, để nhớ ơn công đức tổ tiên.
Từ đó người Trung quốc mới có những ngày lễ “Tết người trung quốc“.

– Thậm chí, những ngày tết nguyên tiêu hay tết thượng nguyên, là những ngày lễ được mùa của nền văn hóa “Lúa nước“, người Trung quốc cũng đem áp dụng và chép sử thành ngày lễ do họ nghĩ ra để ngụy tạo văn hóa. Sử gia Việt nam lại viết thành những tích truyện làm thế hệ chúng ta không thấy rõ giá trị nhân văn, đúng đắn và coi thường văn hóa cha ông mình.

– Tết của người Trung quốc tại sao không được nhà Hán gọi với tên như kiểu người Việt “Tết cổ truyền Trung Hoa” ? bởi vì người Trung quốc có nhiều dân tộc là gốc người Việt, và vì họ đón tết theo phong vị cổ truyền của người Việt, do đó Nhà Hán đã không thừa nhận ngày cuối âm lịch của họ là “ngày tết cổ truyền của người Trung quốc”.

 Trung quốc sợ mang tiếng là phụ thuộc vào văn hóa của người Việt.

– Nói về chiến tranh biên giới việt nam và trung quốc từ 1979, không có một người lính nào có gốc tích từ sông trường giang đổ xuống phía nam tham gia cuộc chiến, vì sao vậy ? thật đơn giản: nhà cầm quyền Bắc kinh quá biết những người đó có gốc Việt, họ sẵn sàng đảo chính hoặc không phục tùng vì lẽ nào họ giết hại chính dân tộc mình. Cũng may là chúng ta đã ngừng được chiến tranh vì, Người Việt cha ông là những người vĩ đại và yêu tổ quốc, hiểu được sử nước Việt.

– Năm nay là năm thứ 4 tôi dậy con tôi về sử Việt nam, con tôi đã thích thú với việc đọc 4 tập “Sử ký” của Cha tôi tặng tôi hồi còn nhỏ, và tôi cũng hiểu rằng những cuốn đó có từ thời xa xưa, có lẽ có từ thời dòng họ “Vua cha Lê” .

Trên tất thẩy mọi thứ mong ước:

Một ngày đầu xuân, chúc toàn thể dân Việt “Hạnh phúc, An khang, thịnh vượng”, chúc các bạn trên toàn thế giới hiểu người Việt và cũng sẽ được hưởng hạnh phúc, thái bình như những người con đất Việt.

 Mùa xuân và Tết nguyên đán “Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam”.

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 

===========================================================================
Italians, Spaniards, Germans and French … that in my life have the opportunity to work with them living in United Nations, FAO.
They understand Vietnamese culture and they all say very clearly “Vietnamese new year” or simply “New Year” or Tet.
There is much justification for the assimilation of “constitute” cultural domains, delete the history of many Dynasty to make the next generation confusion.
(e.g: 40-50% the young Vietnamese have said that they came body is the root of chinese because they think they know Chinese history better than history Vietnam.
So I have had many questions they posed were not answered:    
1. Rice, tea production materials are derived from Chinese country?
2. The festivals such as: 1/1, 3/3, 5/5, 7 / 7, 9 / 9, 11/11 on what’s date ? they related to civilization “Rice water”?
3. You also know the Chinese holidays, although it is not the culture of “Rice water“, do you know why? )

In short, these questions are simple and very difficult because historians, historical subjects Vietnam not write such a practice to the Vietnamese children out only if all events, literature shall make all reasonable explanation difficult to accept locally made and cultural historian of Vietnamese increasingly faint confused with Chinese history, although the two different history, different cultures.

Today, we take an argument about which one is first, which one is later. Tradition of the Chinese, the culture of the Vietnamese…

I am very happy that the Vietnamese, because I have a simple analysis of Vietnamese ancient origin, and a family of “kingly” proud and always trying to express themselves as descendants kingly. This shows that I think superior to others even the Vietnamese people or they themselves think they are Chinese.

And how well as other Vietnamese people, all Vietnamese people are proud than other peoples (including Chinese modern) because we are a nation on ancestor worship “The King Day on the hero. (Chinese people and peoples that almost no).

I say all this is simple to understand that:
– New Year traditional Vietnamese people completely different  Chinese new year.
– Year of the Vietnamese is the first festival of the Chinese Lunar simply just by the lunar calendar. Lunar calendar are the days of the season farming civilization “Rice water“, not the Chinese civilization is so obvious they do not know about lunar calendar.

– The war in history in 1000 in the north, the Han Dynasty have learned in his father we have on the Vietnamese Tet nation, grateful to the ancestral faith.
Since then the Chinese have holidays “Year of China“.

– Even the original title on Tet or Tet Thuong Nguyen, holidays are the season of culture “Rice water“, the Chinese also provide application and copy of the holidays because they think that in order to disguise the literature chemical. Vietnam historians write the story of how systems analysis we can not clearly see the value of humanity and right and generally considered his father his culture.

– Why Year of China in the Han Dynasty is not known to the Vietnamese-style names like “traditional Chinese New Year“? because many Chinese ethnic groups of Vietnamese origin, and because they welcomed the New Year are traditional style of the Vietnamese, so Han Dynasty did not recognize the end of their lunar calendar “Year of the Traditional Chinese country“, they bring fear is dependent on the free culture of the Vietnamese.

– Talking about war borders Vietnam and China since 1979, a soldier does not have the original area from the Yangtze River down south join the war, why so? simple: the authorities said Beijing so that the original Vietnamese, they are ready coup or fail to obey reason they killed the peoples themselves. Fortunately, we have stopped the war because, Vietnamese people his father and the great love of country, understand the history of Vietnam.

– This year the 4th I use up my child in Vietnam, my children enjoy reading the fourth episode “Histories” of the gift I asked my father as a child, and I also understand that from the book ancient, perhaps even longer time before the family “Father of King Le“.

On everything:
One day in spring, wish all of Vietnam “Happiness, lucky, prosperity, wish you the world understand the Vietnamese and will enjoy happiness and peace as children Vietnam.

TET, SPRING and Vietnamese New year.

HAPPY NEW YEAR

%d bloggers like this: