Category Archives: Nhứng thứ phải nhớ – phải làm – không vợ la – con quấy

Bệnh “Ngộ nhận” là gì ? làm sao lại có bệnh này và cách chữa bệnh này ?


Trên đời hoạn lộ có rất nhiều cảnh đời và con đường mà mỗi người chọn để đi, để sống “ĐƯỜNG SỐNG” và cái nghiệp nó dẫn dụ đi theo “NGHIỆP DẪN” (hơi khó hiểu ở vế sau, nhưng mà có lẽ đúng vì chúng ta luôn có 2 vế để mà cân bằng).

Sống trên đời có 2 thứ chúng ta xét tới đó là:

Loại người thứ nhất: sẽ nói nhiều trước khi làm hoặc “chém gió” trước khi nghĩ và làm thực.

Loại người thứ hai: sẽ làm hùng hục trước khi nói hoặc “Trảm” trước khi tấu (ít có khả năng mắc bệnh, không bàn đến trong bài này).

– Tôi xin vẽ cách hiểu logic của những thứ nói trên như sau:

image

– Xét theo góc độ bệnh học: chúng ta có thể đổ lỗi về căn nguyên bệnh này là do Virus “Ngộ nhận”

Virus bệnh này ấp ủ thường trực trong mỗi suy nghĩ con người chúng ta, với những ai tỉnh táo, sáng suốt, mạnh khỏe tinh thần thì nó khống có điều kiện chuyển thành bệnh, với bất kỳ ai mụ mẫm, háo danh, mờ mắt chỉ cần có điều kiện là mắc bệnh ngay.

Các Cán bộ viên chức nào cũng mong muốn có bảng thành tích cá nhân vàng chóe để khẳng định khả năng sáng tạo, sự thông minh nhạy bén, khiếu diễn thuyết, tài viết lách, cuốn từ điển sống của tri thức, trình độ thuyết phục dẻo đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra…

Muốn kết luận được tài năng của bản thân lại cần đến những người xung quanh nhận xét về mình, mà thái độ của thiên hạ vô cùng đa dạng:

  1. Người dĩ hòa vi quý lúc nào chẳng gật gù, nắm tay lắc lắc,
  2. Người giữ xã giao mỉm cười, nhìn xa ngẫm nghĩ,
  3. Người không muốn biểu lộ thái độ thì quay đi chăm chú làm việc khác,
  4. Chỉ một thiểu số người vì lý do sâu xa nào đó sẽ tán thưởng nồng nhiệt khen ngợi hết lời, tấm tắc lắc lư thế là cơn bệnh ngộ nhận bắt đầu phát tác tự nhiên hơn cả ruồi.

Những người ngộ nhận thấy tự tin hơn, khi gặp gỡ đồng nghiệp và cấp trên rất đon đả, chững chạc, trong đầu họ lăm lăm một số ý tưởng, chủ đề thu phát được qua các tần số tán gẫu công cộng, chỉ đợi dịp là thao thao bất tuyệt.

Hệ quả: vậy là đã có nhiều sếp cứ ngỡ rất tình cờ tìm ra nhân tài bèn tin cậy giao việc cho mặc sức thể hiện và ung dung đợi kết quả như ý trong khi những tài năng này lo toát mồ hôi hột chạy vạy nhờ vả anh em, bạn bè giúp đỡ làm hộ, viết thuê để cốt sao thành quả thật hoành tráng tương xứng với năng lực mà bản thân và cấp trên cùng ngộ nhận.

Tác dụng phụ:

Không ít trường hợp đã biết rõ mình nhưng cố tình “hình tượng hóa bản thân – nặn tượng”  cao lồng lộng bằng cách lo lót bằng cấp này nọ, thuê làm luận văn để đại từ nhân xưng có thêm mấy tiền tố đáng nể hơn. Một số người khác còn bào chế những tuyệt chiêu bằng cách quảng cáo, khuếch trương những quan hệ ảo. Họ thường đưa ra vài đại từ nhân xưng thân mật hoặc danh từ riêng kiểu:  cái tay Nguyễn Văn X này, ông anh Minh Z ấy, sếp Trần Y chứ gì… với giọng điệu người nhà, thậm chí còn lấy điện thoại di động ra bấm số gọi ngay, sau một lúc lại thanh minh tiếc rẻ anh ấy, sếp ấy chắc đang bận họp nên tắt máy (thực tế đọc được mấy cái tên này trên báo chí hoặc nghe ai đó kể chuyện có quen biết, thế là coi như bạn người cũng là bạn mình, “thế giới đại đồng “).

Qua kịch bản biểu diễn của bệnh nhân ngộ nhận ấy mà khối người lác mắt, cung kính nhờ cậy việc này việc nọ…

Xét trên khía cạnh nhân văn, người nào ngộ nhận về bản thân thì bất lợi trên đường sự nghiệp. Lý do là mình tự kỷ ám thị đến mức theo chủ trương duy ngã độc tôn, coi thiên hạ yếu kém, mãi đến lúc sực tỉnh mới ngấm sự chán ngán, suy sụp. Hơn nữa, để người khác ngộ nhận về mình thì hậu quả xấu cho cả hai bên: người được ngộ nhận càng đắc ý uống thuốc mê quá liều khó tỉnh, người ngộ nhận thì thất vọng bởi không chọn đúng mặt gửi vàng, lại còn hoang mang vì trình độ bản thân không phân biệt được thật giả, hay dở. Có những người chưa từng hiểu lầm về bản chất và năng lực của mình nhưng do vài lần được khen thành tích nhỏ như ong mật thành con chim công, thế là vênh váo tự hào coi mình bắt đầu gia nhập thế hệ thiên tài mới. Tất nhiên không phải ai cũng cả tin với lời khen như vậy nhưng do được nhiều lời khen lấy lòng quá đâm ra sung sướng, tự thấy mỹ mãn với mình.

Nguyên nhân bệnh thêm nặng:

Có thể kết luận rằng: khen ngợi không trung thực chính là nguyên nhân khiên cho bệnh ngộ nhận phát tác. Tăng bốc phỉnh nịnh là liều thuốc độc cực mạnh giết chết nhận thức chân chính. Ngỡ rằng đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh sẽ có thuốc chữa trị, nhưng giời ạ, khó lắm! Làm gì có loại cân đo vi chính xác để xác định lời khen nào thật, giả? Có ai thừa nhận rằng những lời mình vừa nói là tâng bốc? Cho nên danh ngôn mới chua rằng: lời nói như tên, đã cắm vào tai ai, không tài nào rút ra được. Tất nhiên, cần có ngoại lệ cho những câu nói khiến cho người ta ngộ nhận, đó là những mũi tên vô hình tẩm mật ong rừng! Ngọt ngào lắm ai ơi!

 

Phương pháp chữa:

Rất ít thuốc để chữa, thuốc rất đắng tùy thuộc cấp độ bệnh nhẹ hay nặng và quan trọng “Tự vấn lương tâm và tự giác ngộ”:

  • Có thấy sai không ?
  • Có thấy cần quay đầu lại để làm lại mà không hối tiếc không ?
  • Có tự vấn lương tâm chua sót trước khi trở thành người có “Đạo đức giả” không ?

 

Thuốc chữa chỉ có tác dụng hiệu quả:

  • Khi thấy cảnh đời con người đau khổ, chỉ có cảm thông sâu sắc, chia sẻ với họ thật lòng, các bạn à: “sống trong đời sống cần có tấm lòng cao thượng  biết hy sình vì gia đình, người thân, bạn bè” mới không bao giờ còn cái bệnh Quỉ quái đó.
  • Trong lời ăn tiếng nói phải tử tế, trân thành và biết trân trọng mọi người

(từ cái nhỏ nhất đừng có văng tục chửi thề, ngay cả từ viết tắt chửi tục cũng vậy – vì cái tâm của bạn nó nghe được, nó cũng sẽ nhớ được, nó thành quen ở mồm “Khẩu thiệt” thì nó cũng có thể dẫn đến ở ý thức, nhận thức và hành động của bạn “nó là Vô thức ý” rồi dẫn tới hành sử thực tế của bạn. Đậy gọi là “NGHIỆP DẪN Ý” nhiều tai họa, tính mạng hiểm nguy chỉ bởi lời ăn tiếng nói, câu viết như vậy đó).

  • Đừng lười suy nghĩ, đừng lười lao động chân tay hay trí óc, hãy vận động để sáng tạo hãy học hỏi thay vì ngồi chỗ “Chém gió”, hãy làm việc cho dù “Chó cứ sủa đoàn người cứ đi”.
  • Không phải vì bạn đóng góp cho ai, cho xã hội nào, cho công ty nào được nhiều giá trị là vinh quang đâu, đừng lầm tưởng nay có thể là như thế này mai thế khác nhưng Lao động là vinh quang.
  • Hạn chế “Chém gió” khi có thể là tiết kiệm thời gian dành cho Lao động hoặc chỉ đúng với mục đích tôn cao giá trị của “Lao động là vinh quang”.

 

Chúc Cô gì, chú bác, anh chị em và tất thẩy Trời – người – các loài vật không mắc bệnh “NGỘ NHẬN” !

 

Trích báo:  Hà nội ngàn năm văn hiến.

P.S: Bài này không có trong báo sức khỏe & đời sống.

Hoàn thành 6 tháng tu tập bằng lời dậy của Phật


Con đường hướng thượng là con đường tu tập chuyển hóa những nghiệp nhân bất thiện, hướng đến sự đoạn tận khổ đau, đạt đến quả vị giải thoát. Con đường hướng thượng ấy, mỗi người là chủ nhân của chính mình và phải tự mình cất bước.

Lời giảng dạy của Đức Thế Tôn, chúng ta phải ý thức được rằng, đời sống của mỗi người có hạnh phúc và thánh thiện hay không, không nằm ở sự nguyện cầu van xin, hay dựa dẫm vào một thế lực thần linh nào khác, hay ước vọng một sự che chở nào của thế lực bên ngoài, mà ở chính sự tu tập của chính mỗi người, nếu mỗi người biết tu tập chuyển hóa những nghiệp ác thành nghiệp thiện.

Con người sinh ra trên cuộc đời này, có người được sống an vui hạnh phúc, có người lại chịu nhiều khổ đau bất hạnh, thiết nghĩ tất cả sự đau khổ hay hạnh phúc đều có sự tác động mật thiết của ý nghĩ, lời nói và việc làm của mỗi người. Nếu ai biết thực hành những thiện pháp thì sẽ hưởng được đời sống an lành hạnh phúc, còn trái lại nếu thực hành những pháp bất thiện thì sẽ tự chuốc lấy khổ đau. Như vậy, cuộc sống hạnh phúc hay đau khổ là do chính mình quyết định, chứ không phải một ai khác can thiệp vào. Điều này được minh chứng qua lời dạy minh triết của Bậc Giác ngộ cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm, lời dạy ấy được ghi lại trong kinh Tạp A Hàm thông qua cuộc đối thoại giữa Đức Thế Tôn và vua Ba Tư Nặc.

Có bốn hạng người là những hạng người chúng ta nên biết:

Thứ nhất:  Hạng người từ bóng tối đi vào bóng tối

Thứ hai: Hạng người từ bóng tối đi ra ánh sáng

Thứ ba: Hạng người từ ánh sáng đi vào bóng tối

Thứ tư: Hạng người từ ánh sáng đi vào ánh sáng

Qua quan điểm trên của Đức thế tôn về cách đánh giá và là cái nhình mới mẻ về Con người, Chúng ta sẽ ý thức được giá trị thực sự của con người là ở chính mình, và con đường hướng thượng. Như vậy, con đường hướng thượng, là con đường mà chính mỗi người chúng ta phải tu tập chuyển hóa những nghiệp nhân bất thiện, hướng đến sự đoạn tận khổ đau, đạt đến quả vị giải thoát. Con đường hướng thượng ấy, mỗi người là chủ nhân của chính mình và phải tự mình cất bước tiến lên thôi bạn à.

Lưu bút chuẩn bị đón Xuân 2013


Tiễn mùa Đông 2012

Những hình ảnh kỷ niệm Năm tháng đã qua của các Anh Chị người thân trong Đại gia đình Việt

 

Scanner_0005Scanner_0006Scanner_0007

Tiễn biệt Mùa Đông lạnh giá, xa xôi và đơn độc:

DSC_0074

Minh Trang, Mát-x-cơ-va, 2012

DSC00721

Anh Dzich, Hà-nội 2011

DSCF4123

Ngọc Hà, Luân-đôn, 2009

31012009_231012009_1

Đào miền bắc, Mai miền nam đang đợi nàng tiên Mùa Xuân trở về để kịp khoe sắc hương.

16 Điều tâm niệm trong cuộc đời làm người mà bạn luôn tu tập làm theo

1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.

2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là giả dối, dối trá.

3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự cao tự đại.

4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen ghét, ghen tỵ.

5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.

6. Tỗi lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu, bất trung.

7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty.

8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên khi đã từng bị vấp ngã.

9. Phá sản lớn nhất của đời người là Tuyệt vọng.

10. Tài sản lớn nhất của đời người là Sức khỏe và Trí tuệ.

11. Món nợ lớn nhất của đời người là Tình cảm.

12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

15. Thành công lớn nhất của đời người là không làm khổ người khác.

16. Hạnh phúc lớn nhất đời người là đem niềm vui đến cho mọi người.

 

Thơ năm 2011 Tân Mão:

Tiễn “Đông chí” đón “Xuân về”

Mong sao năm nay Tân Mão
Nhiều cái mới, cơ hội mới
Khó khăn thách thức vẫn vượt qua
Như truyền kỳ “Bát tiên quá hải”.

Đường đi mới, thấy chân trời sáng
Phía cuối đường hầm, bóng tối mờ dần
Sau những ngày lao động nghiên cứu miệt mài
Sẽ là tiền tài, lộc phát, niềm vui thành quả.

Năm mới đến, Đông sắp tàn, Xuân sắp về
Lòng này hướng tới Niềm tin “Ất Thái Lai”
Bao công sức quyết giữ gìn
Anh em đoàn kết quyết tiến lên Thắng lợi !

Đầu năm, Đông Chí – Tân Mão 2011.

我希望今年茅挞嗯
新事物,新机会
挑战依然克服
由于公共电视,“第一蝙蝠的习俗。“

新航线,看到明亮的视野
该隧道的尽头,消失在黑暗中
经过几天的辛勤劳动研究
将金钱,财富播放,娱乐性能。

新的一年,东方印染,明年春天
信托目的是请“佚来泰
包括保全工作
兄弟俩决定搬到团结的胜利!

今年早些时候,冬至谈呒熬2011年。

 

Chúc tết Xuân Canh Dần, 10/1/2010:

image

 

Mong Xuân Kỷ Sửu sớm trở về , 26/1/2009:

image

 

image

image

image

Hồi ký tháng 9: Niềm tin đã có cơ sở, tôi cảm nhận được nhân duyên từ nhiều kiếp trước, lập hạnh nguyện để có đủ hành trang đi tiếp


1. Tôi đã có dịp đọc và nghiền ngẫm những tháng năm qua:

“Hành trang của hành giả niệm phật”. Chợt giật mình như tỉnh cơn mê bỏ lại hết những bâng khuâng tháng ngày qua:

Không nhẽ gần 40 năm qua, tôi đã cố gắng học hành cho bằng chúng bạn, trong khoa học, sinh học, hoá học, công nghệ điện tử máy tính, phần mềm, giải pháp … nó có nhiều điều vô lý thế sao ?

Không nhẽ nhận thức về khoa học, giáo dục mà xã hội ngày nay đã và đang dậy tôi, tôi cố gắng theo đuổi, lĩnh hội lại thấy nó nhiều viển vông, mơ hồ và kém thực tế vậy sao ?

2. Nhân ngày lễ chùa Tâm Giác Đà Nẵng.

3. Nhân dịp tìm được cuốn sách “Vượt luân hồi vào Tịnh độ”

– Khai sáng cho tôi con đường đi để thông giữa những tư tưởng khoa học – y học – Công nghệ – Kinh tế và Đời sống với những môn phái từ nhỏ tôi đã được luyện tập như Yoga – Thiền định – Khí công với Giáo dục Phật giáo.

Tôi xin trích  dẫn đoạn mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất trong cuốn: “Vượt Luân hồi vào Tịnh độ”:

Người tỉnh thức như thấy trước mắt ánh sáng vàng tươi nhuận, quyện tỏa bao trùm muôn vật, biến tất cả chung quanh lấp lánh lung linh một màu vàng kim dễ chịu, tựa như tia nắng buổi bình minh.

Pháp tu, niệm danh hiệu Phật, không chỉ ước nguyện xây dựng một thế giới tương lai cho chính cá nhân hành giả, mà còn nhân duyên xây dựng một nguyện lực độ sanh như Ðức Giáo chủ Phật A Di Ðà.

Có phải Thế giới Cực Lạc hiện hữu từ nguyện lực đại bi của Ngài! Vâng chính vậy, thì người nguyện sanh về Cực Lạc đã mặc nhiên thiết lập cho mình không khác Ngài vậy. Người đã vãng sanh tất nhiên không thoái chuyển tâm giải thoát, và do tâm bồ đề không thoái chuyển, lại đành bỏ mặc nơi mình đã từng đau khổ với muôn vàn chúng sanh !

Thật ra tất cả đều do tâm tạo; tâm tạo Ta Bà, tâm tạo Tịnh Ðộ; diệu dụng của Tâm thật khó nghĩ bàn. Thế giới Ta Bà là khổ, nhưng cũng có người vui sướng, thế giới Ta Bà là đau thương thù hận, nhưng ở đó đã xuất hiện biết bao vị Thánh nhân mà cõi trời phải mơ ước được gặp. Nhưng vì một ít Thánh nhân ví như đất dính vào tay của Phật Thích Ca, nên không thể nào tỉnh thức được tâm phiền trược của chúng sanh ví như đất đại địa. Thậm chí đến cả Ðức Phật là viên ngọc vàng, rực rỡ chiếu rọi khắp mười phương thế giới, còn chưa thể chan hòa rọi hết lượng số của chúng sanh đang phiền trược khổ đau (Phật có thể độ vô số chúng sanh chớ không thể độ hết chúng sanh).

Vậy thì tâm diệu dụng giải thoát, nhưng vẫn nằm sâu vào tiềm thức (A Lại Da) chân như, và nó phải được khơi dậy, phải được lay động mới trở về bản tánh chân như của nó, nghĩa là nó mới diệu dụng được sự tỉnh thức giác ngộ mà quay về Phật tánh, thành Phật không khác.

Bậc Giác ngộ rõ biết tâm diệu dụng nên quyết thị hiện vào cõi Ta Bà nơi đau khổ mà không ngại chướng duyên, để làm công việc khơi dậy tánh giác cho chúng sanh.

Thị hiện vào Ta Bà, như đi vào cõi mê tình, vọng thức điên đảo để làm sáng ra ánh sáng chân như, chân thức – và chúng ta thực hành niệm Phật là chuyển di tâm thức vào một thế giới thanh tịnh trang nghiêm, không khác gì ánh sáng chân thức, chân như Niết Bàn. Cho nên dù diệu tâm vô hình không chướng ngại nhưng, nếu ta không nhờ vào lời dạy của Phật Thích Ca và nguyện lực của Phật A Di Ðà ta vẫn mãi sống nơi mê tình của vọng thức dù ở thế giới này hay bất cứ nơi đâu. Do đó nên hiểu, thế giới thô phù ô nhiễm ở đây là do vọng thức điên đảo biến hiện ra mà thôi. Thế thì cầu sanh vào thế giới thanh tịnh là việc cụ thể, cho dù thế giới đó cũng là do diệu tâm sinh ra; nhưng đây là một việc tối quan trọng, vì nơi đó ta khám phá ra được diệu tâm của ta giống như diệu tâm của Phật Di Ðà không khác.

Như không tin, ta thử tìm diệu tâm A Di Ðà nơi đây có được không? Nếu có, thì kính xin chúc mừng hành giả đó, vì hành giả đã thành Phật tại đây! Nhưng xin thưa, vì hiện còn giáo Pháp Phật Thích Ca thì ta không thể nào thành Phật tại đây. Vậy ta chỉ thành Bồ Tát mà thôi. Nhưng lại xin thưa, Bồ Tát nơi đâu cũng phải cầu mong gần gũi đấng Ðại giác (Phật), để tiếp tục học hỏi mà thành Phật như tất cả bằng chứng trong các kinh, thời kinh nào cũng có vô số Bồ Tát tham dự. Vậy niệm Phật ở đây để thành Bồ Tát, sao không cầu niệm Phật sanh về Cực Lạc cũng là Bồ Tát, nhưng gần đấng Ðại Giác A Di Ðà có sướng hơn không!

Bây giờ người tỉnh thức đã an tâm vững chải, ổn thỏa nghi vấn cõi lòng, nên bắt đầu thiết lập hành trang cho việc Niệm Phật.

Có ba hành trang mà người tỉnh thức phải mang theo, cho đến khi về nơi Liên cảnh.

Thứ nhứt là Tín, thứ nhì là Nguyện và thứ ba là Hành

Hành trang thứ nhứt

Tín là niềm tin, tin vào một sự việc, sự kiện, vấn đề, là thật hay giả. Tín không đủ tiềm lực mạnh mẽ, tất việc làm không thể thành tựu như ý.

Người tỉnh thức đến đây, đã có đủ niềm tin. Không phải chỉ tin cõi Phật A Di Ðà là thật, người tỉnh thức còn tin: vũ trụ có hằng hà sa số cõi Phật ở mười phương đang hiện hữu và, đang diễn ra những diệu âm giải thoát, những diệu cảnh huy hoàng, những chân thức tuyệt đối, những chân như vô ngại và lìa khỏi ngôn ngữ diễn bày của chúng sanh.!

Ðiều cơ bản niềm tin đó sẽ không thay đổi cho đến khi hành giả niệm Phật sanh về cõi Phật, và chắc chắn khi sanh về đó, hành giả lại có niềm tin mãnh liệt hơn nữa! Vì sao ! Vì hành giả sẽ phát tâm vân du cúng dường chư Phật ở mười phương.

Bên cạnh niềm tin mãnh liệt tuyệt đối như vậy, người tỉnh thức lại giựt mình khi tin rằng vô số thế giới đang đau khổ cũng đã hiễn bày ra đó. Vì có thế giới tịnh ắt có thế giới ô nhiễm; có thế giới vui như Cực Lạc, hẳn có thế giới phiền hà đau khổ như sáu cõi luân hồi.

Ngay thế giới Ta Bà này, kẻ tỉnh thức phải hốt hoảng, khi mục kích những loài thú vật sống trong sự đe dọa đầy đọa của loài người, lại còn bị đe dọa với thiên nhiên vũ trụ. Ðau khổ nầy ập lên đau khổ khác. Chúng chẳng thể nào biết được, thế giới chúng đang ở, còn có thế giới loài người, là loài thông minh, hạnh phúc hơn chúng gấp triệu lần; nói cả triệu lần hạnh phúc, là ý nghĩa con người có cơ hội vươn lên những thế giới còn đẹp hơn vô số lần cõi Ta Bà nầy.

Dù với cặp mắt chúng, vẫn thấy loài sinh vật hai chân lạ lùng đang sai khiến mình, nhưng cái thấy vô trí (ví con số thông minh hết sức hạn hẹp) của loài súc sanh, chỉ biết giới hạn qua hiện tượng hình ảnh cử động mà thôi. Ôi thật tội nghiệp!

Nhìn chung lại, không một con vật nào mà không khổ trong cõi phiền trược nầy; dù là con vật nuôi trong nhà được cưng chìu hay được tự do bay, lội, chạy, nhảy giữa thiên nhiên. Nhưng có lẽ và chắc chắn, khổ đau nhất là chúng không thể nào biết được Phật pháp!

Nếu duyên lành nào, được chủ nuôi là người thực hành Phật pháp, rồi bố thí kinh cho chúng nghe thì con vật này quả là đại phước. Chúng sẽ kết được duyên đời sau; mặc dầu không hiểu lời kinh, nhưng do linh diệu, thần lực nhiệm mầu của kinh sẽ giúp chúng ghi nhận được. Tuy nhiên số con vật được như vậy, giống như một giọt nước nhiễu trên ngón tay so với nước đại dương.

Riêng con người, cảnh khổ hiện ra cũng lắm đau buồn, khiếp hãi !

Nỗi đau khổ về thân bệnh day dưa, khổ vì tật nguyền bất lực, khổ vì nghèo đói cơ hàn, khổ vì địa vị thấp kém, khổ vì thất học dại khờ, khổ vì tình cảm yêu thương, khổ vì tình thù dằn vặt, khổ vì ý nguyện bất thành và còn rất nhiều nữa. Những đau khổ nầy thuộc cả hai, thể chất và tinh thần. Ðây là cụ thể hiển hiện mà người tỉnh thức trực diện trải qua, chớ không phải nghe ai kể lại [1]

Như thế, cảnh giới Ta Bà này đâu cần đức Phật Thích Ca buộc chúng ta phải tin là khổ! Sự thật hiển nhiên này rõ ràng hiện chân ra đó! Tuy thế rõ biết nguyên nhân và tận nguồn gốc khổ chỉ có Phật mới rõ, nên dạy cho ta. Phật dạy rõ khổ phát xuất từ Tham, Sân Si, và cảnh giới ô nhiễm như vậy cũng từ duyên khởi của ba độc này.

Con người (chánh báo) thế nào hoàn cảnh (y báo) thế đó. Vì do một cộng nghiệp vọng thức Tham, Sân, Si khổng lồ nên kết thành một thế giới to lớn đủ chứa vô số những vọng tình ô nhiễm, rồi hình thành một thế giới dục (dục giới), là thế giới Ta Bà chúng ta đây.

Có thể nói bất cứ chúng sanh nào (trừ chúng sanh đã và đang chứng đạo giải thoát), mang hình thù chi, hễ ngụ ở Ta Bà là vọng tình ô nhiễm. Nhưng hỏi tại sao phải đủ loại hình chúng sanh?

Là vì nghiệp thức điên đảo, vì phiền não vô minh nên tạo tác vô số NGHIỆP, để quả báo hiện thành vô số hình tướng. Ðó là chân lý, là cảnh tượng sự thật trước mắt, mà ta vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng.

Thế thì sự thật nơi đây, thế giới này ta đã tin trăm phần trăm lời Phật dạy, thì cảnh giới Cực Lạc cũng do Phật nói ta lại há không tin!

Nếu Phật không xuất hiện, cái khổ Ta Bà nầy ta phải mù mờ chịu đau khổ mãi, mà chẳng bao giờ biết khổ là do đâu! Và dù biết khổ chăng nữa, ta chắc chắn cho rằng chỉ có loài người khổ, chứ không biết còn vô số chúng sanh khác còn khổ hơn ta – từ đó là nguyên nhân nghiệp sát chất chồng, để kết quả không bao giờ thoát lên cảnh giới tươi sáng huy hoàng được.

Ngày nay con người đang sống vào thời đại có thể nói hoàng kim của văn minh điện tử, thì việc củng cố niềm tin thế giới Cực Lạc lại dễ dàng hơn! Ðây há không phải đại duyên biết được pháp tu niệm Phật ở thời đại này!

Phải nói rằng dù thời tượng pháp nhiều người niệm Phật vững vàng được vãng sanh, nhưng niềm tin của họ chỉ đơn thuần tin Phật, mà khó giải thích Thế giới Cực Lạc bằng kiến thức văn minh thời đó. Do thế chỉ lấy sự tu hành làm chứng có thế giới Cực Lạc (tức là vãng sanh), riêng về phần lý giải khó được người tin. Với hiện nay, vừa lấy sự niệm Phật vãng sanh làm chứng, vừa lấy kiến thức xã hội con người ngày nay làm chứng.

Minh chứng kiến thức ngày nay là ngành thiên văn học.

Ngày nay nhìn lên bầu trời con người đã không thấy xa lạ như con người cách đây một ngàn năm; ngày nay con người có thể phóng phi thuyền lơ lững ở ngoài trái đất cả tháng trời để thám hiểm nhìn ngắm không gian vũ trụ; và ngày nay dưới mắt các nhà khoa học thiên văn, họ xem mặt trăng cũng chẳng khác gì một tỉnh lỵ ở không gian, có thể dụ lịch thường xuyên chẳng trở ngại gì. Sự kiện được như vậy là do con người đã lên thăm mặt trăng từ hơn ba thập niên qua ;[2] và so với kỷ thuật không gian ngày nay thì thời điểm đánh dấu vàng son đó chỉ là một chuyến đò nhỏ vượt qua con sông thật ngắn.

Ngày xưa con người cứ tưởng chỉ có thế giới này (trái đất) số một, còn lại tất cả chỉ là những hộ tinh (hành tinh phụ quay quanh theo) quay chung quanh; kể cả mặt trời cũng chẳng làm được gì!

Nhưng rồi chẳng bao lâu các Thiên văn gia khám phá ra sự thật, thế giới chúng ta chỉ là một trong nhiều thế giới giữa vũ trụ mênh mông nầy. Thiên văn gia nói là nhiều chớ không nói vô số, vì có thể xấp xỉ đếm được, đó là đầu thế kỷ 19 với viễn vọng kính (telescope) tương đối kỹ thuật cao.

Bây giờ thì không còn đếm được nữa, khi viễn vọng kính hiện đại càng phóng xa bao nhiêu, thế giới muôn hình hiện ra càng nhiều chừng nấy. Ấy vậy khoa học vẫn nói là hàng tỉ; hàng tỉ cũng có thể mường tượng là trăm ngàn tỉ cũng quá nhiều, tuy nhiên với Phật dạy, phải dùng đến “hằng hà sa số”. Hằng hà sa số là biểu tượng đến cát sông hằng (Hằng tên sông, hà nghĩa là sông), vậy nhiều như cát sông Hằng, thế thì đếm làm sao được! Nên gọi bất khả thuyết !

Ðó là lời Phật dạy từ xưa (cách đây hơn 2600 năm), và thiên văn học ngày nay mới biết, hay biết sớm nhất, cũng khoảng đầu thế kỷ 19 (đầu thế kỷ 19 mới tạm đủ phương tiện nghiên cứu).

Ngành Thiên văn cho biết, chỉ trong dãy ngân hà Milk Way thôi, đã có đến hàng trăm tỉ ngôi sao mặt trời, và “mười tỉ hành tinh giống như hành tinh của thái dương hệ [3]“. Trái đất chúng ta thuộc thái dương hệ nằm trong Ngân hà này. Nhưng Khoa học lại cho biết, vũ trụ có vô số ngân hà với những dạng hình khác nhau như: hình bánh xe, hình con bướm, hình nước xoáy, hình thai tạng, hình đám mây, hình bông hoa, hình chim phượng, hình con cua v.v… và cứ mỗi ngân hà (Galaxy) lại lớn nhỏ không đồng; có ngân hà đây lớn gấp trăm lần ngân hà kia, và mỗi cái lớn nhỏ đều chứa ít nhất ngàn triệu hay trăm tỉ ngôi sao .

Một điều tất nhiên, các ngân hà, thiên hà lớn như vậy chúng phải cách nhau một khoảng cách cũng khá xa!!

Nói đến khoảng cách thật khó mường tượng nổi, bởi chúng ta chỉ quen đo lường trên bề mặt hay bề cao của một vật trong giới hạn tương đối, đằng này là không gian, lại vượt khỏi hành tinh mình đang sống! Tuy nhiên, văn minh khoa học thiên văn đã tính được phần nào, và tất nhiên cũng có giới hạn.

Từ trái đất chúng ta đến mặt trăng Khoa học tính được khoảng 384.400 cây số (kilometre), đây thì quá gần rồi ! Từ mặt trời đến trái đất khoảng cách tương đối là 93,000,000 dặm (mile) tương đương 150 triệu cây số, và sức khoa học vẫn cho là gần. Nhưng từ Thái dương hệ nầy đến thái dương hệ khác khoa học tính bằng quang niên (danh từ Ðơn vị thiên văn – Astronomical Unit) tức theo ánh sáng đi một năm. Một quang niên [4] bằng 5.88 tỉ dặm.

Chẳng hạn Thiên hà hình sông M81 cách xa trái đất 10 quang niên; đó là đại khái thấy từ ngân hà nầy đến ngân hà kia là xa như vậy. Nhưng vũ trụ lại có vô số ngân hà chưa biết được, vậy vũ trụ sẽ lớn chừng nào ?

Thế thì điều ta tin, chỉ có trái đất chúng ta là có chúng sanh còn vô số hằng hà sa thế giới khác không thể nghĩ bàn, thì sao !!

Ta sẽ như đứa bé mẫu giáo cầm trên tay cuốn sách đại học !

Vậy kết lại, những gì Phật dạy đã vượt xa khoa học; tuy nhiên, cũng nhờ khoa học nhất là ngành

Thiên văn đã chứng minh được một sự thật, có vô số thế giới trong vũ trụ mênh mông – và thế giới Phật A Di Ðà cũng chẳng còn gì lạ, trong khi vũ trụ có hằng xa số cõi Phật.

Thật không thể tả được nỗi mừng khi Phật Thích Ca dạy niệm Phật nhất định sẽ sanh về thế giới Cực Lạc.

Xác định hiện hữu thế giới Cực Lạc chuẩn bị hành trang làm niềm tin tìm về, ta mới có vài quan sát nhận định trên; nhưng để có một khái niệm về thế giới thật nhỏ ta cũng cần nêu ra để thấy rằng với trí huệ của Phật, không một thế giới nào ra ngoài huệ nhãn của Ngài. Ðiều này lại giúp ta vững vàng thêm niềm tin Cực Lạc.

Ðúng như vậy, nếu ta cho Phật chỉ nói những gì cao xa khó thấy, thì khi Phật nói những gì gần gũi bên cạnh ta, và ngay cả trước mắt hay trong người chúng ta, ta cũng chẳng thấy nốt!

Phật nói về vi trùng, là những chúng sanh thật nhỏ, nhỏ đến nổi mắt thường không thấy được, phải nhờ đến kính hiển vi (microscope).

Phật nói thế nào! Phật dạy, hãy nên chú nguyện mỗi khi uống nước, phải ý thức mỗi khi di động, tránh vô tình sát hại chúng sanh. Duyên cớ đó mà một lần vài tháng trong mỗi năm, Ngài dạy đại chúng đệ tử nên lưu lại trú xứ, giảm chế việc di chuyển khất thực, hoặc Phật sự bên ngoài vì thời tiết côn trùng sinh nở. Ðó là truyền thống định kỳ an cư kiết hạ Phật chế ra.

Ly nước sạch trong có thể uống được mà Phật còn thấy vô số vi trùng, thử hỏi sau trận mưa dầm, đất cát sền sệch ứ đọng móc meo thì đừng nói chi vi trùng, vô số sinh vật lớn hơn vi trùng cũng đã tràn ngập; vậy dưới huệ nhãn từ bi của Ngài đành nào dẫm đạp, khi chứng kiến quá rõ ràng vô số chúng sinh đang đau khổ !

Ðó là thế giới hữu tình cực nhỏ. Ðến thế giới vô tình, thuộc vật chất cực nhỏ, lại càng cho thấy huệ nhãn của Phật không chỗ nào giấu che được.

Trong giáo lý giải thoát, chúng ta hẳn biết mọi vật đều do nhân duyên sinh. Nói về vật chất, tất cả do vô số nguyên tử kết thành. Tùy vào duyên ra sao vật chất đó sẽ tồn tại tương xứng. Nhìn cái bát bằng sành, cái ly bằng thủy tinh sẽ biết tuổi thọ quá ít oi so với cái chuông đồng hay thanh sắt. Tuy nhiên, những nguyên tử cấu tạo nên những vật nào, đều có thời gian hữu hạn của nó, thành ra sau thời gian ngắn hoặc dài, chúng cũng phải ra đi để kết vào duyên khác, tức đồng phải rỉ, và sắt cũng sét tiêu.

Những nguyên tử nhỏ như vậy, khoa học phải nhờ phương tiện kỹ thuật hiện đại phân tích chứng minh và điều đó được thấy qua năng dụng của nó; lại khi tiến đến cực nhỏ, nhỏ hơn nguyên tử nhiều nữa, bây giờ nó có tên khác; nhưng dù đặt tên chi, cũng không làm khoa học ngỡ ngàng cho bằng, mức độ càng quá nhỏ đó, không biết chúng có thật hay không ! Vì độ nhỏ của chúng đến mức khó thể quan sát tin được! [5]

Thế thì tại ta không thấy được, chớ nào đâu không có!

Vật nhỏ thì thuật ngữ của kinh đã nhắc qua gọi là vi trần, cực vi trần… Và nhỏ đến nổi, mà ta há chẳng nghe “Sắc bất dị không”,(sắc chẳng khác không) tức hình sắc kia nào đâu phải thật, chúng chỉ do vô số cực vi nguyên tử kết thành, và tự mỗi nguyên tử đó cũng phải bị hư hoại, thế cái Có như vậy đâu khác gì Không (không thật có)!

Tóm lại, đó là những chướng ngại của những người chưa chứng đạo như chúng ta, nên cái thấy từ xa đến gần đều chẳng hoàn bị, và sẽ không bao giờ hoàn bị, trừ khi ta được huệ nhãn như Phật.

Niềm tin về thế giới Nhiễm, Tịnh đã có căn cứ, đến đây niềm tin có được sanh về thế giới Tịnh (Cực Lạc) hay không!

Qua những điều dẫn chứng, sự thấy biết của đấng giác ngộ, so với hiểu biết con người phàm phu; chúng ta thấy rằng, xưa hay nay nếu chưa chứng đạo vẫn là cái thấy phiến diện, cái biết nhị biên [6], do thế cái thấy của người chưa chứng đạo thật là mù mờ, hạn hẹp.

Tuy nhiên con người ngày nay, dù không duyên thấy đấng giác ngộ, hay gần chư Thánh Tăng, nhưng lòng tin Phật pháp và sự kiểm chứng theo nền văn minh tiến bộ của loài người, khiến ta không những thoái tâm bồ đề mà còn xác định lập trường giải thoát của giáo lý Phật đà vững chãi hơn.

Kết lại mà nói, thế giới Tịnh và thế giới ô nhiễm thật sự đã hiện hữu.

Phật và hàng Bồ Tát là nhân chứng thế giới Thanh tịnh, và chúng ta những người còn ô nhiễm phiền não là chứng nhân của thế giới uế tịnh này.

Nhưng Chư Phật, Bồ Tát là quả của nhân tu chứng từ chúng sanh; thế thì thế giới Thanh Tịnh, tức thế giới Phật chỉ là thế giới tương lai cho chúng sanh sinh về mà thôi. Vậy còn gì phải thắc mắc có được sanh về hay không!

Huống chi chính kim ngôn của đấng Ðại Giác xác nhận cho ta điều này. Quả là Phật đại từ đại bi, việc hiển nhiên như thế mà Ngài vẫn thương chúng sanh mà nhắc nhở.

Hành trang thứ hai

Nguyện là khắc ghi vào tâm một tư duy, một ý tưởng, một hoài bão, một ước ao…để rồi tha thiết chân thành, cảm kích trọn đời sự việc đeo đuổi đó.

Cuộc đời thật rối ren, phức tạp, con người phải vất vả đương đầu vượt qua, tuy nhiên mỗi người trong mỗi hoàn cảnh đều thao thức ưu tư nuôi dưỡng ý niệm lẽ sống cho mình; chính nhờ như thế tạo nên thế giới biệt lập cho riêng mình (thế giới riêng) mà ung đúc nuôi dưỡng lẽ sống năng động hơn.

Từ đây, có một số người thao thức chung một ý tưởng, một tư duy, hóa thành dòng sống nhịp nhàng đồng điệu làm đẹp cho đời. Ðó là sự hình thành các tổ chức, hội đoàn, đoàn thể chuyên môn về một chức năng phục vụ đời sống, cho đến vấn đề tinh tế như triết lý, siêu hình qua hình thức gọi là tôn giáo đạo giáo vậy.

Lẽ đó khách quan mà nhìn, tác dụng của ý tưởng, tư duy có một sức mạnh ảnh hưởng đến nhân sinh vũ trụ. Và tất nhiên nhân sinh và vũ trụ quan của một số người nào đó sẽ trở thành tốt hay xấu đều do nhận thức hiểu biết riêng của một số người.

Hành giả tu niệm pháp môn nào, tất phải tha thiết pháp môn đó; tha thiết bằng lời hay hành động, tùy theo sở năng của mình. Sự tha thiết bằng lời, khiến hành giả ca tụng tán dương, nhưng ca tụng tán dương là để phô diễn điều ưa thích hướng đến bên ngoài, và điều mà hành giả phải ca tụng tự trong sâu thẩm của tâm hồn đó là NGUYỆN vậy.

Hẳn nhiên có phô diễn được bên ngoài cũng do bên trong, nhưng ở đây chưa thể gọi là nguyện. Vì nguyện thường tự đeo đuổi mãi trong lòng, cho dù sự nguyện đó có được phô diễn hay không phô diễn, tâm nguyện vẫn không chấm dứt, không ngừng nghỉ, thành ra nó phải là sâu nhiệm.

Nguyện chân thành tha thiết, là hòa nhịp vào hết cả thân tâm, không phải bị một chướng ngại gì làm rung chuyển. Có nghĩa, thân trong tình huống hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ lời nguyện, không làm sai trái phản lại.

Tất nhiên thân giữ được lời nguyện là do tâm. Nhưng nên cẫn thận vì cũng dễ thấy; nhiều khi Tâm vẫn giữ nguyện mà thân chẳng làm! Do vậy công phu giảm sút đạo lực yếu dần.

Tại sao Tâm có nguyện mà thân chẳng thể hiện! Vì không tha thiết. Không tha thiết nên chỉ có nguyện bằng âm thanh nơi khí quản, nên không khác âm thanh đối thoại hằng ngày! Dù vẫn có tác dụng tạo ra công đức, nhưng không đủ lực thu kết lại con đường đi tới mau hơn. Do đó người ta thường châm biếm là nói suông chẳng làm; ở đây là nguyện rỗng chẳng có cảm ứng!

Nguyện có tha thiết chân thành, hành động sẽ dần dần biến đổi từ thô đến tế, từ ngoài vào trong, và từ tác động nhẹ nhàng nhưng nghiệp dụng thật vững bền kiên cố.

Niệm Phật hòa vào được sự gia trì của Phật lực là do Nguyện tha thiết này. Nhưng Phật lực là gì, là Niệm Phật trong nguyện lực vậy. Niệm Phật trong nguyện lực tha thiết là tự tánh Di Ðà hiển lộ, là phát được tánh chân thiện, tánh giác ngộ, tánh từ bi tỏa ra chiếu đến khắp nơi.

Những tánh chân thiện như vậy là tánh huệ là tánh Chân Như, tánh Niết Bàn hay nói thẳng đó là tánh Phật.

Tánh huệ đó tạo nên dòng sáng, hòa vào từ quang (dòng sáng hào quang) của đức Phật Di Ðà, và ảnh Ngài xuất hiện. Hành giả sẽ thấy Ngài qua hai ảnh lực một là tự tánh của hành giả chiêu cảm ra, vì tánh huệ của hành giả ứng hợp với tánh Phật; hai là kim tướng của đức Di Ðà tỏa hiện từ những hào quang vô lượng phóng khắp mười phương.

Ðến đây đã tạm đầy đủ, và hẳn nhiên hành giả đã biết mình phải nguyện thế nào, nguyện ra sao.

Hành giả niệm Phật, duy nhất chỉ nguyện sanh về Cực Lạc, điều này không thể sai khác.

Lại nguyện khi chứng đạo giải thoát nơi Cực Lạc, liền quay lại cõi trược phiền để độ chúng sanh. Phải cần nguyện độ chúng sanh tâm hành giả mới thuần với tâm Phật, và mới mong được sanh Cực Lạc chóng được thành chánh giác.

Hành giả lại nhớ nguyện, là kể từ đây cho đến ngày rời bỏ xác thân ngũ uẩn này, mọi công đức gì, hành giả chỉ cầu hồi hướng sanh về Cực Lạc mà thôi.

Hành giả cũng nguyện cho tất cả chúng sanh đủ nhân duyên gặp được pháp môn Niệm Phật để tương lai sanh về Cực Lạc.

Ðó là một vài điểm phát khởi Nguyện lực cầu sanh Cực Lạc trong hành trang thứ hai vậy.

Hành trang thứ ba

Hành trang cuối cùng này, là những gì thành tựu của hai hành trang trên, giống như vật dụng, lương thực, đã đủ đầy trong ba lô, người du mục chỉ còn mang lên vai tiến bước.

Kẻ du mục không thể ra đi khi trên ba lô chẳng có món gì; lại không thể đến nơi nếu ba lô chưa đủ đầy phương tiện cần thiết. Như thế người du mục khôn ngoan, không những rõ biết trong ba lô chứa đựng món gì, mà còn biết rõ hành trang như thế sẽ mất bao ngày tới đích. Có như vậy sự lên đường mới được phấn khởi và ngày tới điểm sẽ huy hoàng.

Tuy nhiên hành trang thứ ba này xem ra vô cùng quan trọng, vì dù hai hành trang đầu (tín, nguyện) có đầy đủ, hay dư thừa chăng nữa cũng thành vô dụng. nếu đôi chân của hành giả hãy còn nằm yên một chỗ.

Hành giả phải đứng lên bước tới, hãy vững mạnh mà đi. Nếu hành giả không thể đi được! Vì sao? Vì hành giả chưa đủ niềm tin, chưa có lập nguyện. Chỉ có vậy thôi, ngoài ra không gì cả. Nhưng nếu hành giả đã tin rồi, đã có lập nguyện, sao lại không đi !

Ðó là phần còn lại, quyết định cho người niệm Phật đi về thế giới Cực Lạc vững vàng.

Có lẽ, chúng ta đã biết niệm Phật không phải chỉ mới trong đời nay, mà đã từng trong quá khứ, nhưng vì những bước niệm Phật của ta ngập ngừng do dự, nên đã chẳng đến nơi, thành ra đời này sanh ra còn duyên niệm Phật, nhưng lại bước đi quá khập khễnh.

Cũng không ít người thật có tin, thật có nguyện, và còn nguyện tha thiết nữa kìa, tuy thế vẫn hãy uể oải bước đi! Nói như thế, không phải mâu thuẩn với hành trang thứ hai (nguyện), mà nói như thế để chúng ta biết động lực vô hình của vô minh, sinh từ ái dục quá mạnh khiến người niệm Phật dù đủ hành trang trên vai mà vẫn ngoái đầu tiếc thương, tiếc rẽ cuộc đời!

Tiếc thương gì? Luyến lưu chi?

Ta dư hiểu điều này, đó là bao việc quay bủa chung quanh đời sống. Ðó là năm món ham muốn: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thùy) – chúng đã trì trệ bước chân của ta từ vô thỉ đến nay.

Công phu niệm Phật chỉ được nhất tâm tinh tấn, là khi ta trực nhận sự giả dối vô thường của chúng, tức ý thức, xem chúng là việc chẳng cần phải quan tâm; lại xem chúng là chân lý vô thường trong dòng pháp giải thoát.

Hiểu rõ năm món ham muốn như vậy, người niệm Phật mới đi vào sâu thẩm tự tâm, sáng suốt phát ra danh hiệu Phật. Ðây chính là phương pháp nhận ra vọng tưởng và xem nhẹ vọng tưởng. Xin thưa rằng tại sao chúng ta lại xem nhẹ vọng tưởng mà không nói là diệt vọng tưởng!

Thật tình để nói, diệt vọng tưởng là việc vô cùng khó khăn, điều này chắc chắn ai cũng đồng ý; với căn cơ của người thời nay sống trong hoàn cảnh không Phật, xa Thánh Tăng, cái khó chỉ có tăng không giảm!. Trong khi biết rằng tâm chúng sanh lại vô thường, làm sao diệt hết vọng tưởng! Không thể diệt được trong một ngày, mà chắc chắn một giờ cũng không được.

Nhưng vẫn có người diệt được; sự diệt được này phải đòi hỏi hành giả hài hòa giữa tâm cảnh bên trong và hoàn cảnh bên ngoài. Trước hết hành giả phải điều thân, sống trong giới hạnh oai nghi, rồi tư duy thiền định, vậy mới sinh ra được định tâm thanh tịnh; tuy nhiên thuận duyên để làm được thế, hành giả phải sống trong cảnh yên tịnh, an bình tránh nơi khích động, huyên náo. Và khi thành tựu điều thân và tâm, bấy giờ hoàn cảnh mới hài hòa tâm cảnh hành giả; đó là lúc hành giả có thể rời nơi yên mà đến cảnh ồn cũng vẫn an tâm.

Nơi đây, ta là người công phu niệm Phật, và niệm Phật trong mọi hoàn cảnh, nên chẳng giống người quán tâm thiền định; cho nên chẳng lo vọng tưởng diệt, hay không diệt, mà chỉ tập trung vào danh hiệu Phật, thế mới nói là xem nhẹ vọng tưởng đi.

Suy ra nữa, nếu ta không xem nhẹ chúng, lại không diệt được chúng, ta không thể niệm Phật nhất tâm. Thế thì không diệt được vọng tưởng lại quá quan tâm vọng tưởng, chỉ làm phân tâm niệm Phật mà thôi.

Ðến đây thấy rằng, bước đầu học Phật, buộc phải hiểu cơ bản giáo lý, vô thường, vô ngã, nhân quả duyên sinh, để có thể là những tác duyên hòa thuận giúp người vượt qua những chặng đường cám dỗ trong đời sống.

Niệm Phật trong mọi hoàn cảnh là tạo mãi chủng tử Phật vào A Lại Da thức (thức thứ tám theo Duy thức học), là nơi sâu thẳm của tâm, là nơi tàng chứa tích tụ muôn duyên sự. Có thực hành như vậy ta mới bớt đi sự khuyến dụ khích động hấp dẫn của dòng đời; mà chúng là nguyên nhân chính làm đầy vọng tưởng trong tâm.

Ta không quan tâm đến năm thứ dục lạc kia, nghĩa là ta sống mà không hệ lụy quá đáng với nó, để thành thái quá sa lầy; ta vẫn sống với nó nhưng trong dè dặt răn đe, và hưởng ứng nó bằng tâm người tỉnh thức – biết chuyển hóa thế nào là phương tiện tùy duyên để sanh về cõi Thanh tịnh là cứu cánh.

Hành trang người niệm Phật đã đầy đủ; hành trang thứ ba cũng đang trên đường về đích. Người tỉnh thức không còn chút nào lo lắng, mĩm cười mời gọi mọi người đi theo.

Thật khâm phục Đức phật Thế tôn, sao con người lại có thể tìm ra được những thứ mà trước đó, thời đó và sau này, con người có thể đọc được và gần như xua đi được mọi mô hồ ảo ảnh của chính cuộc đời mình vậy.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô A-Di-Đà Phật.

Sưu tầm: Lý thuyết Thang bậc nhu cầu Maslow và các ứng dụng của nó trong đời sống và giáo dục.


Mở đầu

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism).

Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước.

Tổng quan về lý thuyết Thang bậc nhu cầu của Maslow (Maslow’s Hierarchy of Needs)

Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
– Nhu cầu cơ bản (basic needs)
– Nhu cầu về an toàn (safety needs)
– Nhu cầu về xã hội (social needs)
– Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)
– Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)

Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được Maslow hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc:
– Nhu cầu cơ bản (basic needs)
– Nhu cầu về an toàn (safety needs)
– Nhu cầu về xã hội (social needs)
– Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)
– Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs)
– Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs)
– Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
– Sự siêu nghiệm (transcendence)

Nguồn: http://www.bkone.co.in

Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới.

Giải thích và phân tích

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ sử dụng phiên bản 5 bậc để phân tích và giải thích các hành động trong cuộc sống và giáo dục.

1.Nhu cầu cơ bản (basic needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất.

Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được.

Ông bà ta cũng đã sớm nhận ra điều này khi cho rằng: “Có thực mới vực được đạo”, cần phải được ăn uống, đáp ứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn.

Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu.

Nguồn: tiki.oneworld.net

Sự phản đối của công nhân, nhân viên khi đồng lương không đủ nuôi sống họ cũng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản cần phải được thực hiện ưu tiên.

2. Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs):
Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp theo? Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần.

Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,…. Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ, mong muốn được vỗ về.

Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,…Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần.

Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm, …cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này.

* Thông qua việc nghiên cứu 2 cấp bậc nhu cầu trên chúng ta có thể thấy nhiều điều thú vị:

– Muốn kìm hãm hay chặn đứng sự phát triển của một người nào đó, cách cơ bản nhất là tấn công vào các nhu cầu bậc thấp của họ. Nhiều người làm việc chịu đựng các đòi hỏi vô lý, các bất công, vì họ sợ bị mất việc làm, không có tiền nuôi bản thân và gia đình, họ muốn được yên thân,…

– Muốn một người phát triển ở mức độ cao thì phải đáp ứng các nhu cầu bậc thấp của họ trước: đồng lương tốt, chế độ đãi ngộ hợp lý, nhà cửa ổn định,…Chẳng phải ông bà chúng ta đã nói: “An cư mới lạc nghiệp” hay sao?

– Một đứa trẻ đói khát cùng cực thì không thể học tốt, một đứa trẻ bị stress thì không thể học hành, một đứa trẻ bị sợ hãi, bị đe dọa thì càng không thể học. Lúc này, các nhu cầu cơ bản, an toàn, an ninh được kích hoạt và nó chiếm quyền ưu tiên so với các nhu cầu học hành. Các nghiên cứu về não bộ cho thấy, trong các trường hợp bị sợ hãi, bị đe doạ về mặt tinh thần và thể xác, não người tiết ra các hóa chất ngăn cản các quá trình suy nghĩ, học tập.

3. Nhu cầu về xã hội (social needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love). Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, …

Nhu cầu này là một dấu vết của bản chất sống theo bầy đàn của loài người chúng ta từ buổi bình minh của nhân loại. Mặc dù, Maslow xếp nhu cầu này sau 2 nhu cầu phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh. Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, những người sống độc thân thường hay mắc các bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô hấp hơn những người sống với gia đình. Chúng ta cũng biết rõ rằng: sự cô đơn có thể dễ dàng giết chết con người. Nhiều em ở độ tuổi mới lớn đã lựa chọn con đường từ bỏ thế giới này với lý do: “Những người xung quanh, không có ai hiểu con!”.

Để đáp ứng cấp bậc nhu cầu thứ 3 này, nhiều công ty đã tổ chức cho các nhân viên có các buổi cắm trại ngoài trời, cùng chơi chung các trò chơi tập thể, nhà trường áp dụng các phương pháp làm việc theo nhóm, các phương pháp giảng dạy dựa trên vấn đề, các tổ chức Đoàn, Đội trong nhà trường được giao trách nhiệm tập hợp các em, định hướng các em vào những hoạt động bổ ích. Các kết quả cho thấy: các hoạt động chung, hoạt động ngoài trời đem lại kết quả tốt cho tinh thần và hiệu suất cho công việc được nâng cao.

Kinh nghiệm giảng dạy của nhiều giáo viên cũng đưa đến kết luận: phần lớn các em học sinh sống trong các gia đình hay bất hòa, vợ chồng lục đục, thiếu quan tâm, tình thương của gia đình thường có kết quả học tập không cao như các em học sinh khác.

4. Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân. Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn.

Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn. Nhu cầu này được xếp sau nhu cầu “thuộc về một tổ chức”, nhu cầu xã hội phía trên. Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốn được mọi người trong nhóm nể trọng, quý mến, đồng thời chúng ta cũng phấn đấu để cảm thấy mình có “vị trí” trong nhóm đó.
Kinh nghiệm giáo dục cũng chỉ ra rằng: các hành động bêu xấu học sinh trước lớp, cho các học sinh khác “lêu lêu” một em học sinh bị phạm lỗi,… chỉ dẫn đến những hậu quả tồi tệ hơn về mặt giáo dục, tâm lý.

Nhà sư phạm lỗi lạc Makarenko trong suốt cuộc đời dạy dỗ trẻ em hư, khi được hỏi bí quyết nào để sửa trị các em, ông nói “Tôi chỉ đúc kết trong một công thức ngắn gọn: Tôn trọng và yêu cầu cao”. Bản chất tâm lý con người ai cũng muốn được tôn trọng, chạm đến lòng tự trọng là chạm đến điều sâu và đau nhất, là điểm tử huyệt nhất của con người (cho dù đó là đứa trẻ khó dạy, chưa ngoan).
Chỉ tôn trọng mà không yêu cầu là không ổn. Khi được tôn trọng là đã cho con người ở đúng vị trí “Người” nhất của mình. Do vậy, cần có trách nhiệm buộc phải sống và hành xử đúng đắn với sự tôn trọng đó.””

( Trích VietNamNet, ngày 30/10/2007)

5. Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs):
Khi nghe về nhu cầu này: “thể hiện mình” chúng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực. Không phải ngẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất. “Thể hiện mình” không đơn giản có nghĩa là nhuộm tóc lòe lẹt, hút thuốc phì phèo, “xổ nho” khắp nơi, nói năng khệnh khạng, …

Maslow mô tả nhu cầu này như sau: “self-actualization as a person’s need to be and do that which the person was “born to do”” (nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm”). Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội.

Chúng ta có thể thấy nhiều người xung quanh mình, khi đã đi đến đoạn cuối của sự nghiệp thì lại luôn hối tiếc vì mình đã không được làm việc đúng như khả năng, mong ước của mình. Hoặc có nhiều trường hợp, một người đang giữ một vị trí lương cao trong một công ty, lại vẫn dứt áo ra đi vì muốn thực hiện các công việc mà mình mong muốn, cái công việc mà Maslow đã nói “born to do”. Đó chính là việc đi tìm kiếm các cách thức mà năng lực, trí tuệ, khả năng của mình được phát huy và mình cảm thấy hài lòng về nó.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây trên báo VietNamNet, diễn viên Quyền Linh đã trả lời câu hỏi của người phỏng vấn như sau:

PV: Nếu hiện tại có một lời mời đóng phim nhưng cát-sê không tương xứng với thời gian công sức anh sẽ phải bỏ ra thì anh có nhận không?

DV Quyền Linh: Bù lại nếu vai diễn đó hay thì thậm chí chỉ cần nuôi cơm, không cần tiền tôi cũng đóng. Từ trước đến nay đóng phim đâu có dư tiền, tôi biết điều đó mà. Nhưng hãy cho tôi một vai diễn, một cơ hội và một sự tôn trọng..
(Trích VietNamNet, ngày 27/11/2007)

Nhu cầu này cũng chính là mục tiêu cao nhất mà giáo dục hiện đại nhắm đến. Trong báo cáo của Unesco Learning: the Treasure Within, vấn đề học tập đã được mô tả qua 4 trụ cột của giáo dục (The Four Pillars of Education):

Nguồn: http://www.unesco.org/delors/fourpil.htm

Learning to know: Học để biết.
Learning to do: Học để làm.
Learning to live together: Học để chung sống.
Learning to be: Học để tự khẳng định mình.

Kết luận

Thông qua lý thuyết về Thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, mỗi người trong chúng ta có thể rút ra nhiều điều thú vị về những nhu cầu, giá trị trong cuộc sống, tìm hiểu các khó khăn mà học sinh gặp phải, các phương thức cần thiết để giáo dục hiệu quả.

Cũng giống như bao lý thuyết khác, lý thuyết này dĩ nhiên không phải là một sự tuyệt đối hóa và toàn vẹn, nó cũng nhận được nhiều ý kiến trái ngược và phản bác. Tuy nhiên, hơn 60 năm qua, lý thuyết vẫn được nhắc đến và sử dụng rộng rãi.

Tài liệu tham khảo

http://www.ship.edu
http://psychology.about.com
http://ezinearticles.com
http://changingminds.org/explanations/needs/maslow.htm
http://academic.emporia.edu/smithwil/00 … /tuel.html
http://www.iejs.com/Management/maslows_ … _needs.htm
http://thelibrarylady.net/
http://www.bkone.co.in
http://www.unesco.org/delors/fourpil.htm

Trái cây cho người đái tháo đường


Sức Khoẻ và Đời Sống

(Nguồn Glycemic Index Foundation)

BS.CKI. NGUYỄN THANH HẢI – SKDS

Người đái tháo đường (ĐTĐ) nên chọn loại trái cây có nhiều chất xơ, lượng đường fructose cao, chỉ số đường huyết thấp và nên ăn đúng suất theo nhu cầu năng lượng của mình.

Trái cây là nguồn cung cấp nhiều dưỡng chất quý báu như:

– Các loại vitamin A, B, C…

– Muối khoáng như Ca++, Mg++, K+…

– Đường và nhiều chất xơ.

– Các hóa chất sinh học như polyphenol, resveratrol và quercetin, pectin… giúp cho cơ thể chống lại bệnh ung thư, bệnh tim mạch và béo phì…

Với những tính năng có lợi cho sức khỏe như thế thì không có lý do gì nghiêm cấm người đái tháo đường (ĐTĐ) ăn trái cây mỗi ngày. Vấn đề mà người ĐTĐ lo ngại khi ăn trái cây là họ sợ “chất ngọt có trong trái cây sẽ làm cho đường huyết của mình gia tăng và trở nên khó kiểm soát”. Các mối quan ngại khác: không biết nên ăn loại trái cây nào, ăn bao nhiêu và khi nào ăn thì tốt…

– Từ trái cây tươi, người ta có thể đem sấy hay phơi khô để dùng quanh năm, làm sinh tố hoặc ép lấy nước uống, bảo quản lạnh, đóng lon, ướp đường… rất đa dạng.

Một số khái niệm cần biết

– Chất xơ: có nhiều ở lớp vỏ, lớp dưới vỏ, phần xơ thịt và hạt. Chất xơ có khả năng làm chậm quá trình hấp thu đường, tránh hiện tượng tăng đường huyết quá nhiều sau ăn. Các loại trái cây giàu chất xơ (kể cả lớp vỏ): táo (2,5%), lê (2,1%), mơ (2,1%), trái kiwi (2,1%), quả lựu (3,4%) và trái bơ (6,7%)…

– Chất đường: hai loại đường có nhiều trong trái cây là glucose và fructose. Ăn trái cây chứa nhiều đường glucose sẽ không có lợi cho người ĐTĐ vì nó sẽ làm tăng đường huyết và tăng nhu cầu sử dụng insulin. Khác với glucose, quá trình hấp thu và chuyển hóa đường fructose không đòi hỏi sự hiện diện của insulin. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn loại trái cây nào có nhiều fructose và ít glucose (tỷ lệ fructose/glucose lớn hơn 2) như: táo, lê, ổi và xoài…

– Chỉ số đường huyết-CSĐH (glycemic index- GI): chỉ số phản ánh tốc độ gia tăng đường trong máu sau khi dùng một loại thực phẩm nào đó. Người ta lấy bánh mì trắng hoặc glucose làm chuẩn (GI=100) để phân chia CSĐH của thực phẩm thành ba mức: cao (GI từ 70 trở lên), trung bình (GI từ 55-69), thấp (GI từ dưới 55). Nếu ăn trái cây có CSĐH cao sẽ làm cho đường huyết tăng cao ngay sau ăn. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn ăn loại trái cây có CSĐH càng thấp càng tốt.

Điều cần nên lưu ý là CSĐH không tương ứng với vị ngọt. Có nghĩa là không nên dựa vào độ ngọt khi nếm một loại trái cây nào đó để suy ra CSĐH của nó. Trái cây ngọt không đồng nghĩa là nó có CSĐH cao; và ngược lại trái cây lạt không có nghĩa là có CSĐH thấp.

– Suất trái cây: là khối lượng của một loại trái cây hay nước ép nào đó mà sau khi ăn vào có khả năng cung cấp 15g chất đường, tương đương 60Kcalo.

– Trong chế độ ăn hàng ngày, không phải lúc nào cũng có thể cân đo đong đếm chính xác được. Vì thế, ta chỉ có thể ước lượng trung bình một suất trái cây khoảng bao nhiêu mà thôi.

Nên ăn mấy suất trái cây mỗi ngày?

Mỗi ngày người ĐTĐ có thể ăn từ 2 – 4 suất trái cây tùy theo nhu cầu năng lượng trong ngày.

Những người có nhu cầu năng lượng 1.200 – 1.600 Kcalo/ngày: 2 suất.

Đó là các đối tượng sau:

– Phụ nữ tầm vóc nhỏ con hoạt động nhiều.

– Phụ nữ tầm vóc nhỏ đến trung bình muốn giảm cân.

– Phụ nữ tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.

Những người có nhu cầu năng lượng 1.600 – 2.000Kcalo/ ngày: 3 suất.

– Phụ nữ tầm vóc to muốn giảm cân.

– Nam giới nhỏ con có cân nặng bình thường theo chiều cao.

– Nam tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.

– Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con muốn giảm cân.

Những người có nhu cầu năng lượng 2.000 – 2.400Kcalo/ngày: 4 suất.

– Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con vận động hoặc lao động nhiều.

– Nam lớn con có cân nặng phù hợp chiều cao.

– Phụ nữ tầm vóc trung bình đến lớn con phải vận động hoặc lao động nhiều.

Nên ăn vào lúc nào cho tốt?

– Theo nghiên cứu ở Mỹ, ăn trái cây một giờ trước bữa ăn có tác dụng giảm béo và giúp tiêu hóa hiệu quả.

– Nếu ăn cơm no rồi mà ăn thêm trái cây, lượng đường tổng cộng trong bữa ăn sẽ tăng, đường huyết tăng cao và nhanh không có lợi cho sức khỏe, nhất là người bị ĐTĐ.

– Nên ăn vào thời điểm giữa hai bữa ăn, khoảng cách giữa hai lần ăn trái cây nên cách nhau 6 giờ.

Lưu ý:

Chọn loại trái cây tươi tốt hơn là loại khô, đông lạnh hay nước ép. Nếu đường huyết trong giai đoạn tăng khó kiểm soát thì nên hạn chế ăn trái cây.

Hãy biết lắng nghe cơ thể nói, bởi vì thụ cảm của mỗi người không giống nhau. Chẳng hạn, có người chỉ ăn một trái cam nhỏ cũng làm đường huyết tăng cao. Trái lại, có người có thể ăn 2 – 3 trái chuối mà không hề hấn gì, mặc dù người ta biết là chuối có CSĐH cao hơn cam.

Hồi ký tháng 7: Tư tưởng Tỷ phú và Giáo dục Phật Giáo góc nhìn của Tôi


– Tôi luôn muốn là người Giàu có, đúng, không sai vì tôi theo đạo phật, muốn làm nhiều điều thiện cho nhiều người để được nhận lại trả quả, thù thắng từ Phúc, từ Đức…

– Tôi đã sẵn sàng trở thành người có tư tưởng Giàu có, đúng – đã sẵn sàng.

– Tôi luôn nghĩ cách để tiền bạc phải sinh sôi cho cuộc sống ngày mai của tôi và gia đình của tôi.

Chỉ bởi từ nhỏ tôi và anh em tôi xuất thân nghèo khó, cha mẹ đều nuôi dậy anh em tôi phải chăm chỉ học hành, đỗ đạt, làm ăn nghiêm túc.

Cái xuất thân đó chỉ làm tôi hiểu rằng phải chăm chỉ và nghiêm túc trong việc tiền bạc. Tuy nhiên, sau nhiều năm làm ăn thất bại có, thành công chút ít có, tôi nhận thức được rằng muốn làm giàu không thể chỉ có chăm chỉ làm ăn.

Làm sao khẳng định được chỉ chăm chỉ mà có thể thành giàu có được, cũng chẳng phải tại Số trời cho gì cả. Đó là những điều làm tôi khó nghĩ, đối nghịch lại điều nhà trường dậy, Cha mẹ đã dậy.

Tôi luôn nhìn thẳng vào cuộc sống của mình và của nhiều người, thậm trí đem so sánh với những điều Phật giáo dậy. Mới thấy đơn giản “Nếu muốn từ bi hỷ xả” giúp được nhiều người thì bản thân phải mạnh mẽ, nhất là giàu có, cường thịnh, trí huệ hơn người mới mong giúp được nhiều người…

Hàng tỉ người trên trái đất này, ngày đêm phải làm Nô-lệ cho công việc, phụ thuộc vào nó để kiếm tiền nuôi sống bản thân hoặc gia đình, âu cũng là điều tất yếu của cuộc sống. Vậy họ có giàu không ? không – phần lớn là không hoặc sống nghèo túng, gần như nghèo vẫn hoàn nghèo.

Tôi và nhiều người khác an nhàn hơn, thảnh thơi hơn, nghỉ ngơi, đi mua sắm vậy họ là ai – người giàu có, người giàu không cần cật lực đi kiếm tiền. Vì sao lại có nghịch lý này.  Tôi thì thấm nhuần đạo lý Phật giáo nên việc mua sắm là không nhất thiết phải có, giản dị, tiết kiệm , chỉ mua những thứ thật cần thiết làm phương tiện cho tương lai. Người nghèo thì mua sắm những thứ hôm này và thường chi tiêu vượt quá mức thu.

Chúng ta thường nghĩ đơn giản, có lao động thì mới kiếm được tiền và nhờ đó mới nuôi sống bản thân, điều này không sai, đương nhiên chuyện ít hoặc nhiều tiền, nếu biết chi tiêu tiết kiệm hợp lý, cân bằng giữa thu và chi thì bạn sẽ có 1 cuộc sống hoàn toàn đầy đủ, không lo sợ thiếu thốn.

Người giàu luôn có cuộc sống lo đủ vì họ biết cách sống và làm việc khôn ngoan, tận dụng thời gian lao động hiệu quả, tận dụng nhiều quan hệ, lợi thế của kỹ năng sử dụng phương tiện tinh sảo. Họ không trực tiếp làm việc mà thuê người khác làm thay (nói đúng hơn, họ buộc đồng tiền phải làm thay họ, sinh sôi nảy nở cho họ). Vậy người giàu có phải làm cật lực không ? có thể có, Tôi cũng đã từng làm cật lực để được 3 thứ sau:

– Kinh nghiệm, vốn sống quý báu để truyền thụ lại cho thế hệ sau, sẵn sàng chia sẻ không sợ hãi cho sự mất mát khi chia sẻ kiến thức cho đồng loại (cái đó do Phật giáo giáo dục tôi).

– Tiền bạc là thứ quan trọng, khác với nhu cầu hạnh phúc, tinh thần, hưởng lạc… và tôi luôn làm cho chúng có cả hai trong cuộc đời của tôi (hoàn toàn trái ngược với tư tưởng cổ hủ mà người nghèo nghĩ rằng: đã hạnh phúc thì chắc không giàu sang được, hoặc thù ghét người giàu do nghĩ rằng vì nó Giàu nó cướp tiền của người nghèo thật là nối suy nghĩ vô lý, tất cả những thứ đó tại tâm thức, nhận thức và năng lực của mình hết – Phật giáo giáo dục tôi như vậy).

– Trả quả lại cho người và trời những thứ: Tiền bạc, hạnh phúc, duyên phận nhờ vào sự giàu sang, thù thắng lợi lạc, Trí huệ do lao động cật lực nói trên mà thành nơi tôi. (cái đó cũng do Giáo dục Phật giáo đem lại cho tôi).

Tôi luôn cho rằng lao động cật lực, hết sức mình chỉ là cái tạm thời, trước mắt để thu lại được 3 cái lợi lạc nói trên, tôi luôn biết rằng rồi sẽ tới lúc buộc Tiền bạc phải đem lại thù thắng, lợi lạc và Giàu sang cho mình. Tiền bạc càng ôm việc và làm nhiều việc cho ta bao nhiêu thì ta càng đỡ phải làm việc bấy nhiêu.

Cũng chính vì cải lao động cật lực trên, tôi rút ra được điều khắc cốt ghi xương: “Nghèo túng, cùng quẫn luôn tìm cách đổi thời gian, công sức lấy tiền bạc. còn người giàu có luôn khác, họ biết cách đổi công sức thành những dạng khác mà vẫn đổi ra tiền, vẫn lấy được tiền – đó là Trí huệ, giáo dục, sức lao động của người khác, cách thức quản lý kinh doanh, vốn đầu tư từ tiết kiệm, quan hệ lòng tin và tôn trọng người có tư tưởng Giàu có”.

Khi tôi chưa có tiền, thì tôi phải lao động kiếm tiền, khi có dư ra khoản tiền thì tôi bắt đầu đầu tư, bắt tiền bạc kiếm lại tiền cho mình. Tôi luôn bắt đầu bằng 2 thứ:

– Mơ ước cao, xa, đẹp:

Tôi phải đẹp đẽ hơn, cao thượng hơn.

Tôi mong muốn thành tâm: mọi người trên đất nước tôi luôn khỏe mạnh, lo ấm, hạnh phúc, tran hòa, không biết đến tức giận, không biết đến hận thù, làm chuyện sằng bậy, không biết đến triến tranh vì kẻ thù luôn tự biết khiếp sợ trước đất nước cường thịnh… Chí ít thì nó cũng huy hoàng và đi về với thế giới A-di-đà-Phật như trong Kinh Vô Lượng Thọ.

– Mục tiêu cuộc đời:

Tự do kinh doanh, làm chủ vận mệnh của đời mình, tiền kiếm được do công sức bỏ ra, tổng tài sản phải không bị giới hạn bằng tỷ US$/ năm, không phải bỏ hết sức để chỉ kiếm tiền đủ sống.

(Tóm lại: không phải làm để kiếm tiền bạc nữa,Tiền bạc phải làm việc cho mình,  làm sao số tiền thu về phải lớn gấp nhiều lần so với số tiền phải bỏ ra chi dùng cho cuộc sống).

Giờ đây, tôi luôn suy nghĩ và tìm hiểu, nghiên cứu các loại hình lao động, sao cho hoạt động Kinh doanh thu được dưới hình thức nguồn thu Thụ động, không phải bỏ sức ra quản lý như: Bất động sản, cho thuê nhà, nhuận bút viết sách/hồi ký/ sở hữu trí tuệ sáng tạo, viết phần mềm xử lý các số liệu phân tích/thống kê trong các ngành quản lý kinh tế, đầu tư cổ phần nhỏ, lấy tiền từ đề xuất giải pháp CNTT hoặc đề tài khoa học công nghệ Vi sinh – gen di truyền … Lập kế hoạch kinh doanh hoạt động cho hệ thống dịch vụ cho thuê hạ tầng đào tạo Công nghệ và trờ đợi.

Tôi không còn phải tốn sức cho các hoạt động kinh doanh vì đã thực thi theo hình thức Thu nhập Thụ Động ít ai nghĩ đến điều này, bởi đơn giản từ nhỏ mọi người được dậy: “Không nên há miệng trờ xung, không nên thụ động , có làm mới có ăn” nghĩa là phải hướng tới nguồn thu từ Lao động Chủ động do sức lao động của mình bỏ ra.

Các bạn hãy nhớ “Tiền bạc là nỗi đau lớn nhất của cuộc đời, khi chúng ta không được dậy dỗ một cách đầy đủ, cẩn thận hoặc khi thất cơ lỡ vận”.

Tôi đã phải đi học và làm “vài năm đàng” ăn cơm Ấn, ngủ giường Ấn, Sống trên đất Ấn và đọc sách kinh Phật mới có thể thấu hiểu những điều này. Tôi rất trân trọng đất nước này vì những điều chứng ngộ được viết ra trên đây.

Chính vì vậy, giờ đây tôi nhận thấy Tôi có thời gian sẵn sàng để tiếp chiêu với khoa học mới, công nghệ mới đồ sộ hơn so với 2 thập kỷ đã và đang qua của Steve, của Bill, của Azure.

Hãy tham khảo:

– Tư tưởng làm giàu để trở thành Tỷ phú của tác giả T. Harv Eker.

Tìm đọc khai kinh kệ:

– Kinh Đại thừa – Thuyết Vô Lượng Thọ.

– Kinh A-di-đa và 48 đại nguyện của phật tổ.

Nam Mô A-di-đà Phật !

Những bài luyện tập của học sinh lớp 5


Ý định:”

Bạn đã bao giờ nghĩ tới truyện lưu lại hết hoặc một số bài văn hay, bài toán, bài tiếng anh… của mình hoặc của con mình chưa ? khá thú vị đấy.

Tư tưởng:

Tôi luôn nghĩ tới việc lưu bút lại cho hậu thế cũng như những Bậc tiền bối có tầm đầu óc chiến lược như Lê lợi , nguyễn trãi đã từng làm.

Cơ hội:

Đơn giản mà lại hóa phức tạp, chỉ nhờ chút may mắn là có các hệ thống như Scanner and Printer MP280 cháu ruột đáng yêu của tôi đã mua tặng tôi năm 8/2011  (Stephan Phúc) Smile.

Trở ngại:

Nhưng quả thật vấn đề vấp phải là nhận dạng tiếng Việt, một thứ quá khó khi không có thư viện hỗ trợ định nghĩa các ngôn từ chuẩn hóa như: Anh, Đức, Pháp, Tây ban nha.

Nhận định:

Nhưng điều đó không có nghĩa là Tiếng Việt không làm được, không nhận dạng được ?

Quyết tậm:

Sau 4 tiếng đồng hồ vật lộn với vấn đề xác định ngôn ngữ tiếng Việt khi được vec-tơ bằng BMP/TIFF images, tôi đã làm được đống tài liệu cũ của con gái Hà Lan và đống tài liệu của tôi đã mất file điện tử.

Tìm tòi:

Vậy là cơ hội mới lại đến với tôi. Nhận dạng đống tài liệu tiếng Việt, ngoại ngữ … đã trở lên dễ dàng hơn rất nhiều.

Củng cố tình thần:

Tôi đã kịp tham khảo cả phần mềm AABBYY FineReader v11.0.102.48 đúng là phần mềm đáng kính nể, chất lượng không kém gì tôi mong muốn và vượt xa so với HP OCR VnDocr / google docr…

Kết quả thực hiện:

Hãy thử xem bản quét trên ảnh từ máy scanner Canon MP280:

 

IMG_0002

IMG_0003

IMG_0004

Khoe mẽ đôi chút thành công:

Hãy xem kết quả sau khi nhận dạng chúng bằng OCR của tôi:

Thứ .. ngày …tháng năm 2011

Lớp: 5 PHIẾU LUYỆN TOÁN – số 3

( Các bài toán về phân số )

Bài 1: Ba người thợ chia nhau tiền công. Người thứ nhất được 2/9 tổng số tiền công.

Người thứ hai được 3/8 tổng số tiền công. Người thứ ba được hơn người thứ hai 30000 đồng. Hỏi mỗi người được bao nhiêu tiền?

Bài 2: Có 3 rổ đựng cam. Rổ một đựng được 2/9 số cam. Rổ hai đựng được 1/7 số cam.

Rổ ba đựng được nhiều hơn rổ hai 62 quả cam. Hỏi mỗi rổ đựng được bao nhiêu quả cam?

Bài 3: Học sinh tự đặt đề toán tương tự và giải.

Bài 4: Một cửa hàng buổi sáng bán được 2/9 tấm vải, buổi chiều bán được 2/5 tấm vải ấy. Phần vải bán buổi chiều nhiều hơn phần vải bán buổi sáng là 8m. Hỏi mỗi buổi cửa
hàng đó bán được bao nhiêu mét vải?

Bài 5: Một cửa hàng buổi sáng bán được 3/8 số gạo, buổi chiều bán được 1/4 số gạo ấy.

Số kilôgam gạo bán buổi sáng nhiều hơn số kilôgam gạo bán buổi chiểu là 35kg. Hỏi
mỗi buổi cửa hàng đó bán được bao nhiêu kilôgam gạo?

Bài 6: Học sinh tự đặt đề toán tương tự và giải

Bài 7: Người ta lấy nước mắm từ một thùng ra để bán. Lần thứ nhất lấy ra 1/4 số nước

mắm; lần thứ hai lấy ra 2/5 số nước mắm. Lần thứ ba lấy ra bằng 3/7 tổng số hai lần

trước. Trong thùng còn lại 8 lít nước mắm. Hỏi lúc đầu thùng đó có bao nhiêu lít nước
mắm?

Bài 8: Người ta lấy dầu từ một thùng ra để bán. Lần thứ nhất lấy ra 1/5 số dầu; lần thứ

hai lấy ra 3/7 số dầu. Lần thứ ba lấy ra bằng 5/11 tổng số hai lần trước. Trong thùng còn lại
12 lít dầu. Hỏi lúc đầu thùng đó có bao nhiêu lít dầu? Tính số lít dầu bán ra mỗi lần?

Bài 9: Học sinh tự đặt đề toán tương tự và giải.

————

Thứ ngày tháng năm 2011

Họ và tên:

Lớp: 5 PHIẾU LUYỆN TOÁN – số 2

( Các bài toán về phân số)

Bải 1: Một lớp học có 18 học sinh nữ và 27 học sinh nam. Hỏi:

a) Số học sinh nữ bằng bao nhiêu phần số học sinh nam?

b) Số học sinh nữ bằng bao nhiêu phần số học sinh cả lớp?

c) Số học sinh nam bằng bao nhiêu phần số học sinh cả lớp?

Bài 2: Lớp 5A có 50 học sinh. Cuối năm học, số học sinh đạt loại khá chiếm 3/5 số học

sinh cả lớp. Số học sinh giỏi chiếm 1/2 số học sinh khá, còn lại là học sinh trung bình.
Hỏi lớp có bao nhiêu học sinh trung bình?

Bài 3: Tổng kết năm học, lớp 5A có 1/3 số học sinh đạt loại giỏi, 4/9 số học sinh đạt loại

khá, còn lại 10 học sinh trung bình. Hỏi:

a. Số học sinh trung bình chiếm bao nhiêu phần số học sinh lớp 5A?

b. Tính số học sinh của lớp 5 A?

c.Tính số học sinh giỏi, số học sinh khá của lớp 5A?

Bài 4: Trong kho có 1/5 tổng số kg là lạc; 2/3 tổng số kg là đỗ, còn lai 64 kg là ngô.

a. Hỏi trong kho có tất cả bao nhiêu kg lạc, đỗ và ngô?

b. Tính số kg lạc, số kg đỗ?

Bài 5: Tổng kết năm học khối 4 có 1/4 số học sinh đạt loại giỏi, 2/3 số học sinh đạt loại

khá, còn lại là 15 học sinh trung bình.

a) Tính số học sinh của khối 4?

b) Tính số học sinh giỏi, học sinh khá của khối 4?

Bài 6: Một đội công nhân sửa một quãng đường trong 3 ngày. Ngày thứ nhất đội đó sửa được 2/5 quãng đường. Ngày thứ hai đội đó sửa được – quãng đường. Ngày thứ ba sửa được 96 mét đường. Hỏi:

c) Ngày thứ ba đội đó còn phải sửa bao nhiêu phần của quãng đường?

d) Cả ba ngày đội đó phải sửa bao nhiêu mét đường?

Bài 7: Một cửa hàng bán nước mắm. Lần 1 người ta xuất ra 1/6 số lít nước mắm. Lần 2 người ta xuất ra 3/7 số lít nước mắm thì trong kho còn lại 85 lít nước mắm. Hỏi lúc đầu
trong kho có bao nhiêu lít nước mắm?

Bài 8: Một cửa hàng bán gạo. Lần thứ nhất bán được 1/7 số kg gạo; lần thứ hai bán được 2/5 số kg gạo thì trong kho còn lại 128 kg gạo. Hỏi lúc đầu trong kho có tất cả
bao nhiêu kg gạo? Tính số gạo cửa hàng bán lần 1, lần 2?

——————-

Thứ………………………………… ngày.. tháng năm 2011

Họ và tên:

Lớp: 5 PHIẾU LUYỆN TOÁN – số 1

( Các bài toán về phân số)

Bài 1: Một lớp học có 1/4 số học sinh là học sinh giỏi, 3/5 số học sinh là học sinh khá, còn

lại là học sinh trung bình. Tìm phân số chỉ số học sinh trung bình của lớp đó.

Bài 2: Lớp 5A có 42 học sinh, trong đó 3/7 số học sinh đạt loại giỏi, 1/3 số học sinh đạt loại khá, còn lại là học sinh trung bình. Hỏi:

a) Lớp 5 A có bao nhiêu học sinh giỏi, bao nhiêu học sinh khá?

b) Lớp 5A có bao nhiêu học sinh trung binh?

Bài 3: Một cửa hàng có 200kg gạo. Buổi sáng cửa hàng bán được 1/4 số gạo đó, buổi chiều
cửa hàng bán được 4 số gao còn lại. Hỏi cửa hàng đó còn lại bao nhiêu ki – lô – gam gạo?

Bài 4: Tổng kết năm học, lớp 58 có 1/4 số học sinh đạt loại giỏi, số học sinh đạt loai khá,

còn lại 14 học sinh trung bình.

a. Số học sinh trung bình chiếm bao nhiêu phần số học sinh lớp 5B?

b. Tính số học sinh của lớp 5B?

c. Tính số học sinh giỏi, học sinh khá mỗi loai?

Bài 5: Mẹ có 56 quả táo, mẹ cho Hồng 2/8 số táo, sau đó cho Lan 3/7 số táo còn lại. Hỏi
Hồng, Lan mỗi bạn nhận được bao nhiêu quả táo?

Bài 6: Người ta chia 72 lít dầu vào 3 thùng. Thùng thứ nhất chứa 1/6 số lít dầu, thùng thứ

hai chứa 3/8 số lít dầu, thùng thứ ba chứa số lít dầu còn lại. Hỏi thùng thứ ba chứa bao nhiêu lít dầu?

Bài 7: Một đội công nhân sửa được 3km đường trong ba ngày. Ngày đầu đội đó sửa được

1/3 quãng đường, ngày thứ hai đội đổ sửa được 4 quãng đường. Hỏi:

a. Ngày thứ ba đội đó sửa được bao nhiêu phần của quãng đường?

b. Tính số mét đường đội đó đã sửa trong mỗi ngày.

Bài 8: Trong kho có 120 lít nước mắm. Lần thứ nhất người ta bán được 3/5 số nước mắm

đó. Lần thứ hai người ta bán được 1/6 số nước mắm còn lai.

a. Tính số lít nước mắm người ta bán lần 1, lần 2?

b. Tính số lít nước mắm còn lại sau hai lần bán.

Bải 9: Một người đi xe máy từ tỉnh A đến tỉnh B mất 3 giờ. Giờ thứ nhất người đó đi được

2/5 quãng đường, giờ thứ hai người đó đi được 1/3 quãng đường, giờ thứ ba đi được 44 km.
Hỏi quãng đường từ tỉnh A đến tỉnh B dài bao nhiêu kilômét?

Bài 10: Một công nhân mỗi tháng sử dụng 1/2 số tiền lương để ăn, sử dụng 1/6 số tiền lương

để trả tiền nhà, sử dụng 1/5 số tiền lương để chi trả các khoản khác, thì mỗi tháng còn để

dành được 240000 đồng. Hỏi mỗi tháng người công nhân đó lãnh được bao nhiêu tiền lương?

—————————-

Họ tên:

Thứ..ngày tháng

PHIẾU LUYỆN TIẾNG VIỆT – số 1

I. LUYỆN Từ VÀ CÂU:

1. Trong mỗi nhóm từ dưới đây, từ nào không cùng nghĩa với các từ trong nhóm:

a. Tổ quốc, tổ tiên, đất nước, giang sơn, sông núi, nước nhà, non sông, nước non, non nước.

b. Quê hương, quê quán, quê cha đất tổ, quê hương, bản quán, quê mùa, quê hương xứ sở, nơi
chôn rau cắt rốn.

2. Tìm và điền tiếp các từ đồng nghĩa vào mỗi nhóm từ dưới đây và chỉ ra nghĩa chung của
từng nhóm:

a) Cắt, thái, .

b) to, lớn,

c) chăm, chăm chỉ,

3. Tìm từ ngữ đồng nghĩa trong mỗi đoạn thơ sau. Viết đoạn văn nêu rõ tác dụng của cách sử
dụng các từ đồng nghĩa này.

a) Mình về với Bác đường xuôi

Thưa dùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!

Tố Hữu

b) Hoan hô anh giải phóng quân!

Kính chào Anh, con người đẹp nhất
Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất
Sống hiên ngang, bất khuất trên đời
Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi.

Tố Hữu

4. Chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh từng câu dưới đây:

a) Câu văn cần được (đẽo, gọt, gọt giũa, vót, bào) cho trong sáng và súc tích.

b) Trên sân trường, mấy cây phượng vĩ nở hoa (đỏ au, đỏ bừng, đỏ đắn, đỏ hoe, đỏ gay, đỏ
chói, đỏ lòm, đỏ quạch, đó tía, đỏ ửng)

c) Dòng sông chảy rất (hiền lành, hiền từ, hiền hoà, hiền hậu) giữa hai bờ xanh mướt lúa ngô.

5. Xếp các từ sau thành 3 nhóm từ đồng nghĩa: phân vân, se sẽ, quyến luyến, do dự, nhè nhẹ,
quấn quýt.

6. Lựa chọn từ trong nhóm từ đồng nghĩa ở cột phải để viết 3 câu văn có sử dụng biện pháp
nhân hoá tả đối tượng được nêu ở cột trái.

a) Những cánh cò chấp chới, rập rờn, phân vân, bay lả bay la

b) Giọt mưa xuân se sẽ, nhẹ nhàng, nhè nhẹ, dịu dàng

c) Hoa cỏ may quấn quýt, mắc vào, vướng vào.

7. Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau rồi đặt 2 câu với 2 từ tìm được: thật thà, giỏi giang, cứng cỏi,
hiền lành, nhỏ bé, nông cạn, sáng sủa, thuận lợi, vui vẻ, cao thượng, cẩn thận, siêng năng, nhanh
nhảu, đoàn kết.

II. CẢM THỤ:

Đoạn vãn dưới đây có thành công gì nổi bật trong cách dùng từ? Điều đó đã góp phần miêu tả
nội dung sinh động như thế nào?

Vai kĩu kịt, tay vung vẩy, chân bước thoăn thoắt. Tiếng lợn eng éc, tiếng gà chíp chíp, tiếng
vịt cạc cạc, tiếng người nói léo xéo. Thỉnh thoảng lại điểm những tiếng ăng ẳng của con chó bị lôi
sau sợi dây xích sắt, mặt buồn rầu, sợ sệt…

Ngô Tất Tố

————————

Họ tên:……………… Thứ…… ngày.. tháng. năm……

LUYỆN TIẾNG VIỆT – số 2

1. Luyện từ và câu:

1. Gạch bỏ 1 từ không thuộc các nhóm từ đồng nghĩa sau:

a) Lóng lánh, lấp lánh, lung lay, lấp loá.

b) oi ả, oi nồng, ồn ã, nóng nực.

c) ỉ eo, ca thán, ê a, kêu ca.

2. Tìm từ trái nghĩa với từ “hồi hộp ”, “vắng lặng

3. Đặt 1 câu có cặp từ trái nghĩa “khô héo – tươi mát ” nói vê cây cối trước và sau cơn mưa.

4. Phân biệt nghĩa của những cụm từ đồng âm trong các cụm từ sau:

a) đậu tương – đất lành chim đậu – thi đậu.

b) bò kéo xe – hai bò gạo – cua bò lổm ngổm.

c) cái kim sợi chỉ – chiếu chỉ – chỉ đường – một chỉ vàng

5. Đặt câu đê phân biệt các từ đông âm: “chiếu, kén, mọc”

M: – Mặt trời “chiếu” sáng

– Bà tôi trải “chiếu ” ra sân.

6. a) Mỗi câu dưới đây có mấy cách hiểu? Hãy diễn đạt cho rõ nghĩa từng cách hiểu ấy
(có thể thêm một vài từ)

– Mời các anh chị ngồi vào bàn.

– Hoa mua ở bên đường.

b) Viết lại cho rõ nội dung từng câu dưới đây (có thể thêm một vài từ)

– Đầu gối đầu gối.

– Vôi tôi tôi tôi.

7. Dòng nào dưới đây chỉ gồm các từ trái nghĩa với từ “điềm đạm

a. Bình tĩnh, giận dữ, điềm nhiên.

b. Hấp tấp, nóng nảy, giận dữ.

c. Điềm tĩnh, hấp tấp, nóng nảy.

II. Tập làm văn.

1. Chọn một từ chỉ đối tượng và một từ chỉ màu sắc điền vào chỗ trống cho câu văn mở đầu rồi viết tiếp 3-4 câu để đoạn văn tả màu sắc của một cảnh vật mà em yêu thích.

………. hôm nay như một ngày hội của màu….

2. Hãy viết một đoạn văn tả vườn hoa hoặc vườn rau mà em yêu thích trong đó có sử dụng những từ gợi tả màu sắc khác nhau.

======================================

Một số lưu ý khi thất bại cần cảnh giác:

1. Quét thì tốt khi làm đúng tiêu chuẩn OCR, nhưng nhận dạng số thập phân là khó có kết quả nhận dạng.

2. Quét thì tốt kể cả có màu văn bản, nên chọn màu xám là chuẩn tốt nhất cho OCR, nhưng các ký hiệu toán học, biểu thức, công thức có căn, tích phân, vi phân, giai thừa … là khó có kết quả nhận dạng tốt. Hãy biến chúng thành ảnh nếu có thể.

3. Đừng viết bút chì hặc bút bi nên văn bản cần nhận dạng, nếu không khi nhận dạng sẽ cho nhiều kết quả nhận dạng linh tinh, phải mất thời gian xác nhận định dạng. kết quả thực rất tồi.

Trân trọng cảm ơn

 

Chúc thành công ngày đầu Tháng 6, 2012

Lịch làm việc tại THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI


 

Giờ mở cửa

NỘI QUI CƠ QUAN

  1. Mọi người đến liên hệ với cơ quan phải xuất trình giấy tờ và theo sự hướng dẫn của nhân viên bảo vệ.
  2. Tôn trọng tài sản của thư viện như: Nhà cửa, sách báo và các rtang thiết bị, không tự tiện sử dụng hệ thống thông tin, điện, nước.
  3. Nghiêm cấm mang các chất nổ, chất dễ cháy và khí vào thư viện.
  4. Chú ý tắt động cơ xe máy, tôn trọng sự yên lặng của các bạn đọc khác.
  5. Khi đọc, mượn sách báo ở các phòng chuyên môn phải theo sự hướng dẫn của cán bộ thư viện, không được tự tiện mang sách, báo ra khỏi các phòng đọc nếu không được sự đồng ý của cán bộ thư viện.
  6. Thực hiện nếp sống văn minh giữ trật tự, vệ sinh chung, không hút thuốc lá trong thư viện.
  7. Giờ làm việc hàng ngày: Từ ngày 01/01/2012, Thư viện Thủ đô Hà Nội thực hiện giờ mở cửa các phòng Phục vụ bạn đọc như sau:

Lịch làm việc từ Thứ 2 đến Thứ 6

Tên Phòng

Giờ mở cửa

Phòng Báo – Tạp chí

Sáng: 08h00 – 12h00

Chiều: 13h30 – 17h00

Phòng Khiếm Thị

Phòng đọc tự chọn

Phòng đọc Thiếu nhi

Phòng mượn Thiếu nhi

Phòng mượn người lớn

Từ 08h00 đến 19h30

Phòng đọc Tổng hợp – Ngoại văn

(Chiều thứ 5 của tuần thứ nhất và tuần thứ ba hàng tháng nghỉ vệ sinh kho sách)

Lịch làm việc ngày Thứ 7

Tên Phòng

Giờ mở cửa

Phòng Báo – Tạp chí

Sáng: 08h00 – 12h00

Chiều: 13h30 – 17h00

Phòng mượn người lớn

Phòng Thiếu nhi (đọc và mượn)

Phòng đọc Tổng hợp – Ngoại văn

Các phòng phục vụ nghỉ ngày chủ nhật.

THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THỂ LỆ PHÒNG LÀM THẺ THƯ VIỆN HÀ NỘI

Gồm 3 loại thẻ:

  • THẺ ĐỌC NGƯỜI LỚN
  • THẺ MƯỢN NGƯỜI LỚN
  • THẺ THIẾU NHI

    Ngày làm thẻ: thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bẩy.

    (Thẻ được cấp trong ngày)

    Thời gian:

    • Sáng 8h30 đến 11h00.
    • Chiều 13h30 đến 16h00.

    THẺ ĐỌC NGƯỜI LỚN

    Đối tượng: Các em học sinh PTTH trong thành phố Hà Nội. Sinh viên các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; Cán bộ công nhân viên đang công tác tại các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh, lực lượng vũ trang trên địa bàn thành phố, người lao động và người nghỉ hưu tại Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Chứng minh thư nhân dân. (Công an T.p Hà Nội cấp). Nếu người ngoại tỉnh phải có giấy chứng nhận đang tạm trú tại Hà Nội.
    • 2 ảnh 3 x 4 cm.
    • Lệ phí 20.000đ/ thẻ/năm.

    THẺ MƯỢN NGƯỜI LỚN

    Đối tượng: Tất cả công dân từ 16 tuổi trở lên đang sống và làm việc thường xuyên tại Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Chứng minh thư nhân dân. (Công an T.p Hà Nội cấp). Nếu người ngoại tỉnh phải có giấy chứng nhận đang tạm trú tại Hà Nội.
    • Lệ phí: 40.000đ/ thẻ/năm.
    • 02 ảnh 3x4cm
  • Tiền cược sách: 100.000đ/thẻ.
  • Thẻ Mượn người lớn: sử dụng cho cả phòng đọc và phòng mượn người lớn

    THẺ THIẾU NHI

    Đối tượng: Các em học sinh PTTH, THCS và tiểu học trong Thành phố Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Sổ hộ khẩu (phô tô).
    • 02 ảnh 3x4cm
  • Lệ phí: 20.000đ/thẻ/năm
  • Cược sách thẻ thiếu nhi: 30.000đ/thẻ.

Chú ý: Đề nghị bạn đọc giữ biên lai tiền cược sách cẩn thận. Nếu mất thư viện sẽ không trả lại tiền cược đó. Khi đổi thẻ không có biên lai cũ phải nộp lại tiền cược sách như làm thẻ mới.

Mùa hè nhớ công ơn thầy cô


Em vẫn nhớ những ngày cuối thu

Mùi hoa sữa trên phố Điện biên ngào ngạt hương và hoa bay bay.

Nhớ những ngày này, ngày nhà giáo Việt nam

Bài thầy cô dậy vỡ lòng tiến Việt “công Cha, nghĩa Mẹ, ơn Thầy” vẫn như văng vẳng bên tai mình.

Dẫu đó mà bây giờ em mới biết làm chút thơ.

Đọc chữ O viết chữ số 0, Thầy cô dặn phải viết tròn trĩnh.

Mà chao ôi sao khó với em là thế !

Thôi thì lỗi tại mùa Hoa phượng đỏ, tiếng ve kêu nó mới trôi qua trong em.

Mải rong chơi nên em chẳng thuộc lời Thầy cô dặn.

Dường như Thầy cô già đi mươi tuổi.

Đến khi chúng em trưởng thành, lớn khôn rồi thì mới hiểu điều đơn giản ấy.

Cả cuộc đời Thầy cô đã dõi bóng theo bước chân chúng em.

 

Kính gửi Thầy cô

Trường Phổ thông Thành Công !

Trường Amsterdam !

Trường trung học Nguyễn Trãi !

Đại Học Bách Khoa !

Trường Đại học Tổng Hợp Hà nội !

%d bloggers like this: