Category Archives: Phật giáo

Phần 1. Cấu hình Hệ thống đào tạo trực tuyến thế hệ mới – ROBUSTA Distance Learning 2015


1. Tổng quan:

Đào tạo từ xa (E-learning) với khả năng cung cấp bài giảng đa phương tiện và hỗ trợ việc dạy và học cho mọi người, ở mọi nơi và mọi lúc , đây là một phương pháp hữu hiệu để hỗ trợ bổ sung hoặc thậm trí thay thế một số bộ môn trong hình thức đào tạo truyền thống.

Mô hình E-learning phổ biến nhất hiện nay là phát triển các hệ thống đào tạo trực tuyến dựa trên nền web (Web-Based Training  “WBT”) cho phép quản lý một số lượng lớn người dùng thuộc 6 nhóm chính:

  1. Quản trị hệ thống mạng và dịch vụ (đảm bảo về kỹ thuật, cấu hình dịch vụ cho hoạt động ổn định của hệ thống).
  2. Quản trị hệ thống nội dung, chương trình đào tạo (Nhóm người quản lý các chức năng đào tạo, theo dõi qui mô, tiến trình, báo cáo và đánh giá chất lượng đào tạo để có thể ra các quyết sách hợp lý).
  3. Giảng viên (nhóm đối tượng khai thác chức năng của cả đào tạo “LMS” và quản lý nội dung giáo trình dạy “LCMS” để xây dựng bài giảng và quản lý việc sử dụng bài giảng).
  4. Trợ giảng, người theo dõi quản lý lớp/ khóa học.
  5. Học viên (nhóm đối tượng sử dụng đông đảo và đa dạng nhất của hệ thống. đối với một hệ WBT cho cộng đồng, học viên có thể là mọi đối tượng trong xã hội. Học viên chủ yếu khai thác trực tiếp các chức năng của phân hệ đào tạo “LMS”).
  6. Phụ huynh / người quản lý trực tiếp nhóm của học viên.

và cung cấp các hình thức tương tác giữa 6 nhóm phong phú như:

  1. Lưu sổ điểm, học bạ,điểm danh, chứng chỉ, theo dõi tình hình học tập, tiến trình ôn tập của từng cá nhân học viên.
  2. Hệ thống tương tác qua email, sms, trao đổi qua văn bản / hình ảnh / âm thanh, streaming media.
  3. Cung cấp các nguồn thư viện điện tử, media, video/audio, giáo trình tham khảo điện tử , trình chiếu powerpoint slides, adobe flash, silverlight …
  4. Hệ thống ôn tập thi chứng chỉ các chuyên ngành học dạng ngân hàng đề thi trắc nghiệm, thi mô hình simulators / hotspot, điều khiển Labs thực hành trên máy tính và mạng ảo, chấm điểm tự động.
  5. Khả năng remote hỗ trợ từ xa các máy desktop của giảng viên, học viên chuyên các bộ môn: ITIL, Helpdesk, chăm sóc khách hàng CRM …
  6. Khả năng học nhóm, họp phòng, hội thảo, triển lãm CNTT từ xa bằng tích hợp các hệ thống điện toán đám mây như: Google App, Office 365 hoặc Lync Conferencing 2010/2013, VMware Virtualization…
  7. Hệ thống thực hành trực tuyến điều khiển từ xa giúp học viên, giảng viên và quản trị hệ thống mạng xây dựng được các bài thực hành : Virtualization Data center, SharePoint, BizTalk, Virtualization System, Hybrid Cloud, Private Cloud…
  8. Tích hợp với các mạng xã hội như: facebook, linkedin, youtube, flickr, google, Microsoft Azure, Moodlenews… giúp việc ad/pr, marketing tin tức hoạt động, chương trình đào tạo của hệ thống hiệu quả cao hơn.

Moodle-social

Chính vì vậy đã có nhiều hệ thống WBT được phát triển và số người tham gia vào các hệ thống này ngày càng tăng.

 

2. Cấu trúc cơ bản của WBT:

Một hệ thống WBT hoàn chỉnh thường bao gồm hai thành phần chính:

  1. Phân hệ quản lý đào tạo (Learning Management System – LMS).
  2. Phân hệ quản lý nội dung đào tạo (Learning Content Management System-LCMS).

image

  • LMS là một hệ thống quản lý các quá trình học tập, bao gồm việc đăng ký khoá học của học viên, phân phối các nội dung học cho học viên, các hoạt động kiểm tra đánh giá, và các hoạt động tương tác trong cộng đồng người sử dụng. Một số LMS còn hỗ trợ nhà quản lý và giảng viên thực hiện giám sát tiến trình học và chất lượng học, hỗ trợ các hình thức tương tác trực tuyến và bài giảng đồng bộ.
  • LCMS là hệ thống hỗ trợ việc xây dựng nội dung học tập bao gồm việc tạo, cập nhật, tìm kiếm và sử dụng lại các module bài giảng. Bài giảng có thể được thể hiện dưới nhiều mức khác nhau từ văn bản cho đến bài giảng đa phương tiện chứa video và bài giảng dạng mô phỏng hỗ trợ tương tác. Hầu hết các hệ LCMS đều tiến tới hỗ trợ việc biểu diễn bài giảng theo các chuẩn thống nhất (ví dụ: SCORM hay XML) để dễ dàng chia sẻ và sử dụng lại.

image

 

3. Công nghệ đáp ứng nền tảng:

  1. Web Server: Apache / IIS 7.5 trở lên.
  2. Hệ quản trị CSDL: MySQL 5.x / MS SQL Server 2008 R2 trở lên.
  3. Directory: AD, LDAP / OpenLDAP.
  4. Ngôn ngữ lập trình: PHP 5.x / ASPX 2 trở lên, XML/XSL/ Notes.js
  5. Trình duyệt web: Internet Explorer 6 trở lên; Chrome; Firefox, Opera, Safari, WAP 1.x; Nescape 5.x trở lên

 

4. mô hình các thành phần của hệ thống đào tạo trực tuyến:

image

5. Cấu trúc các chức năng hệ thống:

image

6. Cấu trúc của một môn học trực tuyến:

image

 

7. Yêu cầu kỹ năng tương tác của giảng viên:

image

8. Triển khai mô hình LMS vs LCMS trong đào tạo trực tuyến:

MOOC

Lưu ý: Trong mô hình trên chúng ta sẽ vướng phải yêu cầu về đăng nhập 1 lần (SSO) sử dụng giao thức LDAP:// 389 hoặc LDAPS để trao đổi thông tin, đăng nhập xác thực 1 lần giữa WBT, web service với email, ftp, portal và LMS – LCMS của các sản phẩm công nghệ quản lý đào tạo sẵn có như: Moodle, Blackboard, SharePoint Learning gateway …

(xin xem phần 2. Triển khai cấu hình đăng nhập 1 lần giữa Moodle và AD server).

9. Triển khai mô hình hệ thống Cân bằng tải:

image

Hết phần 1.

Advertisements

Bệnh “Ngộ nhận” là gì ? làm sao lại có bệnh này và cách chữa bệnh này ?


Trên đời hoạn lộ có rất nhiều cảnh đời và con đường mà mỗi người chọn để đi, để sống “ĐƯỜNG SỐNG” và cái nghiệp nó dẫn dụ đi theo “NGHIỆP DẪN” (hơi khó hiểu ở vế sau, nhưng mà có lẽ đúng vì chúng ta luôn có 2 vế để mà cân bằng).

Sống trên đời có 2 thứ chúng ta xét tới đó là:

Loại người thứ nhất: sẽ nói nhiều trước khi làm hoặc “chém gió” trước khi nghĩ và làm thực.

Loại người thứ hai: sẽ làm hùng hục trước khi nói hoặc “Trảm” trước khi tấu (ít có khả năng mắc bệnh, không bàn đến trong bài này).

– Tôi xin vẽ cách hiểu logic của những thứ nói trên như sau:

image

– Xét theo góc độ bệnh học: chúng ta có thể đổ lỗi về căn nguyên bệnh này là do Virus “Ngộ nhận”

Virus bệnh này ấp ủ thường trực trong mỗi suy nghĩ con người chúng ta, với những ai tỉnh táo, sáng suốt, mạnh khỏe tinh thần thì nó khống có điều kiện chuyển thành bệnh, với bất kỳ ai mụ mẫm, háo danh, mờ mắt chỉ cần có điều kiện là mắc bệnh ngay.

Các Cán bộ viên chức nào cũng mong muốn có bảng thành tích cá nhân vàng chóe để khẳng định khả năng sáng tạo, sự thông minh nhạy bén, khiếu diễn thuyết, tài viết lách, cuốn từ điển sống của tri thức, trình độ thuyết phục dẻo đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra…

Muốn kết luận được tài năng của bản thân lại cần đến những người xung quanh nhận xét về mình, mà thái độ của thiên hạ vô cùng đa dạng:

  1. Người dĩ hòa vi quý lúc nào chẳng gật gù, nắm tay lắc lắc,
  2. Người giữ xã giao mỉm cười, nhìn xa ngẫm nghĩ,
  3. Người không muốn biểu lộ thái độ thì quay đi chăm chú làm việc khác,
  4. Chỉ một thiểu số người vì lý do sâu xa nào đó sẽ tán thưởng nồng nhiệt khen ngợi hết lời, tấm tắc lắc lư thế là cơn bệnh ngộ nhận bắt đầu phát tác tự nhiên hơn cả ruồi.

Những người ngộ nhận thấy tự tin hơn, khi gặp gỡ đồng nghiệp và cấp trên rất đon đả, chững chạc, trong đầu họ lăm lăm một số ý tưởng, chủ đề thu phát được qua các tần số tán gẫu công cộng, chỉ đợi dịp là thao thao bất tuyệt.

Hệ quả: vậy là đã có nhiều sếp cứ ngỡ rất tình cờ tìm ra nhân tài bèn tin cậy giao việc cho mặc sức thể hiện và ung dung đợi kết quả như ý trong khi những tài năng này lo toát mồ hôi hột chạy vạy nhờ vả anh em, bạn bè giúp đỡ làm hộ, viết thuê để cốt sao thành quả thật hoành tráng tương xứng với năng lực mà bản thân và cấp trên cùng ngộ nhận.

Tác dụng phụ:

Không ít trường hợp đã biết rõ mình nhưng cố tình “hình tượng hóa bản thân – nặn tượng”  cao lồng lộng bằng cách lo lót bằng cấp này nọ, thuê làm luận văn để đại từ nhân xưng có thêm mấy tiền tố đáng nể hơn. Một số người khác còn bào chế những tuyệt chiêu bằng cách quảng cáo, khuếch trương những quan hệ ảo. Họ thường đưa ra vài đại từ nhân xưng thân mật hoặc danh từ riêng kiểu:  cái tay Nguyễn Văn X này, ông anh Minh Z ấy, sếp Trần Y chứ gì… với giọng điệu người nhà, thậm chí còn lấy điện thoại di động ra bấm số gọi ngay, sau một lúc lại thanh minh tiếc rẻ anh ấy, sếp ấy chắc đang bận họp nên tắt máy (thực tế đọc được mấy cái tên này trên báo chí hoặc nghe ai đó kể chuyện có quen biết, thế là coi như bạn người cũng là bạn mình, “thế giới đại đồng “).

Qua kịch bản biểu diễn của bệnh nhân ngộ nhận ấy mà khối người lác mắt, cung kính nhờ cậy việc này việc nọ…

Xét trên khía cạnh nhân văn, người nào ngộ nhận về bản thân thì bất lợi trên đường sự nghiệp. Lý do là mình tự kỷ ám thị đến mức theo chủ trương duy ngã độc tôn, coi thiên hạ yếu kém, mãi đến lúc sực tỉnh mới ngấm sự chán ngán, suy sụp. Hơn nữa, để người khác ngộ nhận về mình thì hậu quả xấu cho cả hai bên: người được ngộ nhận càng đắc ý uống thuốc mê quá liều khó tỉnh, người ngộ nhận thì thất vọng bởi không chọn đúng mặt gửi vàng, lại còn hoang mang vì trình độ bản thân không phân biệt được thật giả, hay dở. Có những người chưa từng hiểu lầm về bản chất và năng lực của mình nhưng do vài lần được khen thành tích nhỏ như ong mật thành con chim công, thế là vênh váo tự hào coi mình bắt đầu gia nhập thế hệ thiên tài mới. Tất nhiên không phải ai cũng cả tin với lời khen như vậy nhưng do được nhiều lời khen lấy lòng quá đâm ra sung sướng, tự thấy mỹ mãn với mình.

Nguyên nhân bệnh thêm nặng:

Có thể kết luận rằng: khen ngợi không trung thực chính là nguyên nhân khiên cho bệnh ngộ nhận phát tác. Tăng bốc phỉnh nịnh là liều thuốc độc cực mạnh giết chết nhận thức chân chính. Ngỡ rằng đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh sẽ có thuốc chữa trị, nhưng giời ạ, khó lắm! Làm gì có loại cân đo vi chính xác để xác định lời khen nào thật, giả? Có ai thừa nhận rằng những lời mình vừa nói là tâng bốc? Cho nên danh ngôn mới chua rằng: lời nói như tên, đã cắm vào tai ai, không tài nào rút ra được. Tất nhiên, cần có ngoại lệ cho những câu nói khiến cho người ta ngộ nhận, đó là những mũi tên vô hình tẩm mật ong rừng! Ngọt ngào lắm ai ơi!

 

Phương pháp chữa:

Rất ít thuốc để chữa, thuốc rất đắng tùy thuộc cấp độ bệnh nhẹ hay nặng và quan trọng “Tự vấn lương tâm và tự giác ngộ”:

  • Có thấy sai không ?
  • Có thấy cần quay đầu lại để làm lại mà không hối tiếc không ?
  • Có tự vấn lương tâm chua sót trước khi trở thành người có “Đạo đức giả” không ?

 

Thuốc chữa chỉ có tác dụng hiệu quả:

  • Khi thấy cảnh đời con người đau khổ, chỉ có cảm thông sâu sắc, chia sẻ với họ thật lòng, các bạn à: “sống trong đời sống cần có tấm lòng cao thượng  biết hy sình vì gia đình, người thân, bạn bè” mới không bao giờ còn cái bệnh Quỉ quái đó.
  • Trong lời ăn tiếng nói phải tử tế, trân thành và biết trân trọng mọi người

(từ cái nhỏ nhất đừng có văng tục chửi thề, ngay cả từ viết tắt chửi tục cũng vậy – vì cái tâm của bạn nó nghe được, nó cũng sẽ nhớ được, nó thành quen ở mồm “Khẩu thiệt” thì nó cũng có thể dẫn đến ở ý thức, nhận thức và hành động của bạn “nó là Vô thức ý” rồi dẫn tới hành sử thực tế của bạn. Đậy gọi là “NGHIỆP DẪN Ý” nhiều tai họa, tính mạng hiểm nguy chỉ bởi lời ăn tiếng nói, câu viết như vậy đó).

  • Đừng lười suy nghĩ, đừng lười lao động chân tay hay trí óc, hãy vận động để sáng tạo hãy học hỏi thay vì ngồi chỗ “Chém gió”, hãy làm việc cho dù “Chó cứ sủa đoàn người cứ đi”.
  • Không phải vì bạn đóng góp cho ai, cho xã hội nào, cho công ty nào được nhiều giá trị là vinh quang đâu, đừng lầm tưởng nay có thể là như thế này mai thế khác nhưng Lao động là vinh quang.
  • Hạn chế “Chém gió” khi có thể là tiết kiệm thời gian dành cho Lao động hoặc chỉ đúng với mục đích tôn cao giá trị của “Lao động là vinh quang”.

 

Chúc Cô gì, chú bác, anh chị em và tất thẩy Trời – người – các loài vật không mắc bệnh “NGỘ NHẬN” !

 

Trích báo:  Hà nội ngàn năm văn hiến.

P.S: Bài này không có trong báo sức khỏe & đời sống.

Bài sám hối trước tượng phật Ngài Quán thế âm Bồ tát


Quì trước Tượng Quán thế âm Bồ tát

1 Bát nước trong vắt 9 hạt gạo thơm

Cúi đầu chấp tay

Con xin lay phật

Lòng con thành thật

Chí nguyêh theo Ngài

Lãnh cõi trần ai

Mong về Tịnh độ

Thấy đời thật khổ

Lắm kẻ điêu tàn

Sống kiếp lầm than

Vì chưa giác ngộ

Nay con đã rõ

Dù trễ hơn không

Cố sức gắng công

Xả thân cầu đạo

Lánh vòng phiền não

Núp bóng từ bi

Mạn tham sân si

Con nguyện từ khước

Lỗi lầm từ trước

Vì tánh còn mê

Nay con xin thề

Thành tâm sám hối

Lấy công chuộc tội

Quyết chí tu hành

Lánh dữ theo lành

Vun trồng cội phúc

Nước nay tuy đục

Lọc mãi phải trong

Con nguyện hết lòng

Bồ đề kiên cố

Lợi danh cám dỗ

Chẳng chút động tâm

Bụi tục bụi trần

Con nguyện dũ sạch

Cho lòng thanh bạch

Cho chí thanh bình

Chánh niệm quang minh

Cầu xin chư Phật

khi con nhắm mắt

Xin phóng đạo hào quang

Tiếp dẫn cho con

Nương về Tịnh độ

Nguồn mê bể khổ

Nghiệp chướng luân hồi

Nay đã dứt rồi

Con xin thệ nguyện

Nguyện thành chánh giác

Nguyện độ chúng sinh

Nguyện thành Phật đạo

 

HỒI HƯỚNG

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ a di đà phật.

 

Nguyên tác: Đệ tử Phùng Thị Thơm

Hiệu Pháp Danh: Cư sĩ Diệu âm : Diệu Hương

 

Chế tác: Đệ tử Lê Toàn Thắng

Hiệu Pháp danh: Đàm Hiếu

 

Hồi ký tháng 12: Khao khát sống tự do và hoàn thành được nhiều thiện nghiệp giúp cho đời người


 

Tháng 12 năm 2012, đúng là tháng có nhiều nhân duyên kỳ lạ với tôi, nó như là sự tổng kết lại của gân 30 năm qua đi trong cuộc đời tôi.

Nó hiện về bao nhiêu ký ức vui, lo âu và 2 năm trước là buồn đau, hẫng hụt khi phải chia tay mãi mãi với Cha tôi.

Tháng 12 cũng là điều vô cùng đặc biệt khi tôi tìm được 1 bài thuốc kỳ lạ, bài thuốc này đã được nhiều người thực nghiệm.

Nó đến khi tôi đang mong muốn làm được những điều tôi ước ao như: tìm được thuốc chữa vĩnh viễn những bệnh như:

– Mẹ tôi và những người tôi biết đến : Tiểu đường, mỡ trong máu, Viêm đa khớp, Gút.

– Hen suyễn cho cháu tôi và đặc biệt Cao huyết áp gây tai biến.

Ước gì được quay trở lại cách đây 2 năm trước khi Cha tôi bị tai biến lần 3, tôi sẽ đem bài thuốc này để làm cho Cha tôi không bị tai biến lần 3, chính nó đã cướp đi cuộc sống của Cha tôi.

Nói vậy không phải tôi thù hận gì bệnh tật bởi vì: Sinh lão bệnh tử, tuổi thọ con người rồi cũng tới hạn, tôi chỉ muốn có nhiều thời gian để hoàn thành tâm nguyên, làm nhiều điều thiện được nhiều Thù thắng, phước đức cho con cháu sau này.

Vậy là giờ đây tôi tự làm cho mẹ tôi, tôi, và mọi người xung quanh mình, mọi người tự làm chuột bạch thí nghiệm 1 ngày và hy vọng sẽ không ai phải khổ vì bệnh Tai biến như Cha tôi nữa.

Ước vọng của tôi là có thật vì tôi không thể biết là người thứ bao nhiều dùng bài thuốc này để phòng chống bệnh đó rồi, chỉ biết nó đã muôn với Cha tôi, tôi không muốn nó muộn với bất cứ ai khi đọc bài thuốc này, bài thuốc này là ghi chép lại của tôi bởi nhiều người đã có công đức truyền lại nó cho muôn đời sau, chỉ tiếc là họ đã không đủ dũng khí hoặc không dùng cách chia sẻ trên các mạng internet xã hội để cho nhiều người biết đến. Tôi xin mạn phép chia sẻ lại cho mọi người biết tới nó để tin dùng.

Tuy vậy còn phải nói đến lòng tin, mức độ chính xác, hiệu quả của bài thuốc là lời tiên nghiệm nhiều năm mới biết được. Nếu các bạn không tin lời tôi viết ra xin hãy đừng đọc bài viết này.

Còn làm theo cách tôi viết thì có 4 mục đích:

  • Bài thuốc này chia sẻ vì tôi muốn mọi người sẽ không bị mắc bênh tai biến sau này, mong muốn sức khoẻ của mọi người con đất Việt là thứ tài sản quý nhất.
  • Tôi không muốn ai đó sẽ bị mắc bệnh như Cha tôi đã từng bị.
  • Nó là liệu pháp chữa bệnh về cả mặt tinh thần, giúp những người đang bị có niềm tin để chữa được bệnh tật.
  • Đối với riêng tôi , đây như thể chút bỏ đi một phần lo lắng, băn khoăn trong cuộc đời mình chưa làm gì  được nhiều để chữa bệnh cho những người thân của mình.

Vậy là sang năm mới rồi, tôi xin chúc mọi người con đất Việt, tràn đầy sinh lực, hạnh phúc, có đủ niềm tin để làm được những điều mình hằng mong ước.

Điều thệ nguyện 1: Tôi thệ nguyện ở đời người làm theo lời Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật dậy, làm nhiều điều thiện để giúp công đức cho con cháu noi theo.

Bài thuốc Phòng Chống tai biến Mạch máu não

(chỉ cần làm 1 lần trong đời người)

A. Nguyên liệu:

A.1. Nguyên liệu chính:

(Mua tại hiệu thuốc bắc đã tán sẵn hoặc đem về nhà tự tán lấy)

1. Hạnh nhân: 10 gram

2. Chi tử: 10 gram

3. Đào nhân: 10 gram

(tất cả 3 thứ trộn lẫn và tán nhỏ)

A.2. Nguyên liệu phụ:

1. Gạo nếp: 10 hạt (nguyên vẹn)

2. Hạt tiêu sọ trắng: 10 hạt

(tất cả 2 thứ trộn lẫn tán nhỏ)

3. Lòng trắng trứng gà: 1 quả (bỏ lòng đỏ)

B. Cách làm và sử dụng:

– Trộn lẫn đều cả 2 loại nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ với nhau. (có thể dùng 1 hộp nhựa sạch có thìa để trộn lẫn với nhau).

rồi gói lại bằng một mảnh vải.

– Đặt gói thuốc vào chính giữa lòng bàn chân phía dưới  huyệt Dũng Tuyền 2 đốt ngón tay.

image

Lưu ý: Nữ đắp chân bên phải, Nam đắp chân bên trái.

– Dùng băng quấn chặt không để thuốc chảy ra ngoài (có thể lấy băng dính, túi ni-lông mềm đặt lên trên gói thuốc rồi hãy quấn băng).

– Thời gian đắp từ chiều tối hôm trước đến sáng hôm sau càng lâu càng tốt rồi mới tháo ra.

– Khi tháo băng thấy lòng bàn chân có màu xanh dương là tốt, có tác dụng, màu xanh càng đậm là càng tốt, báo thể trạng có phản ứng tích cực để ngăn chặn bệnh tai biến.

Chú ý: Không được rửa chân ngay, để màu xanh phai nhạt dần,

 

Nam Mô A di đà phật,

Nam Mô Bổn sư thích ca mâu ni phật.

Nam Mô Quán thế Âm bồ tát.

Nam Mô Đại Thế chí Bồ tát.

Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Nam Mô Đức Phổ hiền Bồ Tát.

Nam Mô Hải Hội Thanh tịnh Vương Phật.

Nam Mô Dược sư Lưu ly Quang Vương Phật.

 

Chúc mọi người thành công, có được sức khoẻ dồi dào, thâm tâm an lạc. thanh tịnh , an toàn không bị mắc bệnh tai biến mạch máu não. !

Hồi ký tháng 10: lí do hoảng sợ cuối cùng cho những thay đổi cuộc đời tôi.


Đầu tháng 10 là những ngày tôi bắt tay vào việc tổng kết một số điểm chính về những bức tượng tôi đã sưu tầm hơn 10 năm qua những dịp đi công tác trong và nước ngoài.

1. Vòng 108 hạt xá lợi – Ngày tôi tham gia lễ Truyền Thọ, Quy Y Tam Quy, 8/2007 – KLCC Malaysia

– Pháp sư Tịnh Không truyền thọ giáo cho tôi và 3.000 người, với 50.000 người qua mạng với những lời đẹp ý hay:

o Cảm ứng thiên.

o Thọ Ngũ giới

o Thập thiện nghiệp đạo

– Tôi đã đi học ngược lại với những gì mà những người tu hành đã làm đó là:

o Học tiểu học: bậc tiểu thừa – học A hàm: 12 năm

o Học trung học: bậc trung thừa – phương đẳng 18 năm

o Học đại học: bậc đại thừa – bát nhã 22 năm

o Học sau đại học: bậc bồ đề – Pháp hoa – 25 năm

o Niết bàn: có thể vài phút – giờ – vài năm (tuỳ nghiệp báo) ?

– Tôi bị ảnh hưởng và cũng là theo đuổi nền văn hoá đa nguyên, đó là xã hội giáo dục khoa học của Phật giáo, không chỉ tin vào trí thiện viên mãn, có nhiều sự cống hiến vĩ đại trong giáo dục loài người. Chính vì lý do theo đuổi này mà đã hơn năm nay đi nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực Khoa học tự nhiên:

o Thực hành khí công luyện tập Trường Năng lượng sinh học.

o Tập nhìn thấu thị, mở dần từng luân xa  (luân xa 6: góc tam giác với 2 mắt, 7: đỉnh bách hội, 3: trên rốn điều khiển thể Vía, 4: luân xa Tim điều khiển tốc độ bơm máu, 2: luân xa thận, 5: cổ điều khiển phế quản, 1: luân xa xương cùng điều khiển máu và xương hoạt động).

o Nhìn được ánh sáng Vàng (Hoàng đản) phát ra từ các vùng chấn thương của người thân. Tôi đã đọc cuốn “Bàn Tay Ánh Sáng” và luyện tập đến khi có thể nhìn được các thể “Vi tế” và “Hoàng đản” phát thành dòng sáng có màu “Óng ả” bằng thấu thị và đã dừng lại ở đây.

Tập hơn 2 tháng thì bắt đầu liên tục bị mất khả năng kiểm soát, sau khi đọc các kinh phật thì phát hiện bị nhiễm tạp niệm: ăn cá, uống rượu/bia, thuốc lá thì những chất đó làm mất ổn định và không điều khiển tâm trí tập trung được.

Tôi bắt đầu tập trung vào Yoga và Thiền định để tìm cách chữa  – một dạng tu hành của hành giả, điều khiển 3 thể di chuyển theo ý nghĩ tâm tưởng, vào ngày 1 tháng 8 tôi nhận được 2 kết quả kinh khủng sau:

o Nhìn và tiếp xúc được với vài người “Xưa” – thân thiết của mình, lúc đầu họ cũng sợ cái tôi đang cầm trên tay là ánh sáng Hoàng đản. Lúc đầu tôi cũng hoảng sợ và đọc niệm chú liên tục, họ dần nghe tôi đọc niệm chú.

o Những đêm choàng tỉnh dậy do không biết đóng mở luân xa, tự học và tự kiểm soát.

Tất cả đứng trên cao hoặc trong góc và hỏi tôi nhiều chuyện, tôi chỉ nói trong suy nghĩ của mình, chú tôi, cậu tôi, Bác đằng ngoại và cả Bà nội tôi. Tôi hẹn họ một ngày tới khi tôi chuẩn bị lễ tắm tượng phật.

Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/1-QuiY_TamBao-ThoNguGioi

Đây là con đường tôi đã đi “Road map” xin bạn đọc lưu ý đừng đi theo nếu không đủ tự tin, và xin đừng ngã mạn quá khi có kiến thức cuộc sống mà đánh giá coi thường niệm phật, đọc kinh là một trong những phương pháp đơn giản hiệu nghiệm bao người đã chứng quả.

ConDuongPhatGiaoCuaToi

2. Bức tượng về Thần Shiva – New Delhi 4/2005

P1090156Người phụ nữ luống tuổi đã nói với tôi bằng tiếng Hin-đu pha chút tiếng anh, đây là vị thần may mắn cho những người lưu giữ tượng, vị thần có sức mạnh huỷ diệt sẽ làm cải tạo cuộc sống dân tộc Ấn và những người có niềm tin vào sức mạnh của người.

Tôi đã cảm nhận lại được cái gọi là Đạo Ấn Độ: tìm thấy cái “Chân Ngã” hay phát triển tinh thần “Thân Ái”.

Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/2-Kinh_NhanQua-ThienAc

 

 

 

3. Bức tượng về Apsara Vũ nữ Chăm –  Pô-sha-nư, Bình thuận 6/2009

P1090152Người phụ nữ  trung niên đã giới thiệu tôi về nữ thần và cái nhìn của Cô về thế giới tâm linh:

Con người có 3 thể “thế giới tồn tại trong mỗi con người” tồn tại trong chính “Thể thức hiện tại” của mỗi người:

1. Thể xác (thế giới vật chất – nó tồn tại và phát triển được nhờ Đạo, thuyết ).

2. Thể vía (thế giới tâm linh – nó phát triển được nhờ Thiền định).

3. Thể trí (thế giới tinh thần – nó phát triển được nhờ có ý niệm – Phật giáo gọi là niệm phật – Tịnh độ).

Xin hãy niệm phật theo kinh:   http://phatgiao.help24x7.net/3-Kinh_VuLanBaoHieu

 

3. Bức tượng Phật Di Lặc – Thiền viện Trúc Lâm Đà lạt, 7/2008

Một vị hoà thượng trước khi đưa cho tôi bức tượng đã nói cho tôi một số điều, về sau tôi có tra cứu lại và ngạc nhiên vì nó chính xác, như vậy vị này theo phái Phật giáo “mật tông” ?

P1090159Tôi hợp cung số 7: 7 phần tinh 1 cung phần tử, 7 vị tinh cung là 7 con đường vận hạn và cũng là 7 đưc tính, nếu là theo đạo thiên chúa, tôi sẽ là tông đồ của Thánh Gio-an. Còn lại có 3 thể tôi có xu hướng kiểm soát chúng. Như vậy,Tôi là người có thiên hướng Âm nhạc và khoa học tự nhiên, có quan điểm sống “Sống thật với chính mình và không bao giờ chấp nhận sống trong sợ hãi”.

– Vị hoà thượng đã nói cho tôi biết thêm 7 cung và tôi thuộc cung nào:

o Cung 1: Sức mạnh ý chí, quan điểm mạnh mẽ, cương quyết.

o Cung 2: Thích lý luận, để ý kỹ lưỡng các v/đ, lựa chọn phương pháp hữu hiệu.

o Cung 3: Nghiên cứu kỹ lưỡng các thời khắc thuận lới nhất để thực hiện.

o Cung 4: Chỉ tin cái độc tôn, triết lý Khoa học.

o Cung 5: Nhậy cảm, thích hoạt động xã hội.

o Cung 6: Tin vào lễ giáo, theo đuổi niềm tin tôn giáo.

o Cung 7. Đức tính cẩn thận, bác ái, nghi lễ nghiêm trang đảnh lễ.

Xin hãy niệm phật theo bài kinh:  http://phatgiao.help24x7.net/5-Kinh_Dia_Tang

 

4. Bức tượng Phật bà – Quán thế Âm Bồ Tát – Chùa Niễu, Láng Trung, Hà nội 2/2011

Sư Bác Yến nói cho tôi những điều tôi chưa bao giờ biết về nghiệp thức và lương duyên của tôi đối với đạo Phật:

P1090162Ngày tôi nhận bức tượng là ngày: “Thiên văn – chiêm tinh” điều này là:

– Nghiệp báo ở kiếp trước, tôi có Thiên ý đó là Mãnh lực của Thể trí trong tôi.

– Bên cạnh đó, tôi có tập luyện Yoga và Khí công từ nhỏ do đó có thể dễ dàng tập Thiền định và mở luân xa tiếp nhận Vũ trụ năng lượng và lĩnh hội chúng.

– Tiềm thức của tôi có lực và tâm thức hướng đến vấn đề tâm linh và Phật giáo chính vì vậy, không ai mách bảo tôi, tôi cũng có thể tự mình Quy y, sám 6 căn, thọ ngũ giới … như là đệ tử của Phật với tinh thần học hỏi và tu hành với ý trí tự do, nó thể hiện rõ tiềm thức kiếp trước Tôi có luân hồi Tu hành, có mầm thiện, hành vi bác ái, có nhận thức thay đổi rất rõ ràng trong sự nghiệp về sau của tôi.

– Đường tử vi về học vấn trên bàn tay của tôi xuất hiện thêm đường thứ 3:

o Đường 1: Con đường Công nghệ thông tin.

o Đường 2: Con đường Công nghệ Vi sinh.

o Đường 3: giờ mới xuất hiện con đường Phật giáo và giáo dục.

– Đức tin “Nhân – Quả” của tôi thực sự đã có tuần hoàn vị trí theo các vì tinh tú, hoán đổi bình thường và thực sự đã ảnh hưởng đến nghiệp sau này của tôi.

– Tôi đã thực sự có “Phát tâm bồ đề” hay chưa ? Sư bác nói: tôi hợp với Thiên Ý vậy là tôi sẽ cải số Mệnh bằng nhiều hành vi hữu ích cho đời (xã hội, gia đình). Chính nhờ đó, tôi đã có những quãng đời sau này luôn “Tin tưởng chính mình” nghĩa là không lạc quan cũng không bi quan, luôn tìm ra sự “An vui tự tại”, thêm ý trí tự do nên Tôi luôn có niềm tin “Cải số mệnh , đẩy lùi mầm ác, đánh bật cái xấu, kể cả động lực của cái xấu, đẩy lùi sự tác động ngược của vị trí luân hồi Tinh tú”, làm ẩn mầm ác”…

– Tôi tin luật: “Nhân nào quả đó” ? đó chính là nghiệp lực tạo ra giống “Nhân” tốt/xấu nhờ có vận động theo vũ trụ, tôi cũng như mọi người vẫn tuần hoàn vũ trụ, tác động của Tinh tú hình thành lên “nghiệp quả” tốt /xấu. 

– Tôi đã biết Cung của mình (trong 7 cung trên), biết chân lý vẫn là duy nhất đó là: niềm tin Phật giáo,

Cung của tôi thuộc: Tin tưởng thanh cao, sự biến chuyển rõ nhất từ 1975 và thường là 25 năm cuối của một thế kỷ, từ năm 2000 trở lại đây, dần con người chúng ta không có ý thức được nguyên nhân, thế giới duy vật dần sụp đổ do tác độc kinh tế xã hội và thế giới tâm linh càng ngày càng nghiên cứu rõ ràng và xâu sắc hơn.

Xin hãy niệm phật theo bài kinh:  http://phatgiao.help24x7.net/6-Kinh_CauSieu

 

5. Bức tượng Hồ Chí Minh, Viện bảo tàng HCM , 8/2007, Hà nội.

Một ông già bán đồ lưu niệm nói với tôi:

P1090155Hiện nay đang là thể kỷ Cách mạng tâm hồn, sự tiến hoá về tâm linh rất nhanh chóng,

Tôi cũng có ghi nhận sau: “Những tác động xấu từ thế giới vật chất ngày càng tăng như: tin vào sự hưởng thụ vật chất tầm thường, tìm niềm vui và không tin đạo, dẫn tới ngày càng đau khổ vì sự phụ thuộc vật chất, xuất hiện nhiều vấn đề huyền bí Phương đông -> ánh sáng rực rỡ làm hé lộ Khoa học nhưng vẫn bị tác động bởi nối sống thực dụng Phương tây nó làm biến mất nhiều điều đặc biệt trong Huyền bí Phương Đông -> cuối cùng thì với quá nhiều đau khổ, con người lại đi tìm tinh thần trong “Đức tin”. Thay vì tìm hiểu 4 thế giới tồn tại trong chính con người mình”.

– Tự mình xét lấy mình, hãy dẹp bỏ cái áo đang khoác trên mình và ngày càng dày lên, cái áo “Ngã mạn”  cái tôi ích kỷ: công danh, ngã mạn, ham muốn,  hãy sống và thành thật với chính mình.

– 1 con người phát triển cả 7 cung = 7 tính cách sẽ trở lên hoàn thiện, dĩ nhiên chúng ta đều là bất toàn, chỉ có Chúa mới là người thập toàn.

– Ví như khi con người bị bệnh, cố chữa và khỏi bệnh , khi khỏi bệnh lại quên đi nguyên nhân bệnh hoạn, sau này bị bệnh lại thì không nhớ.

Vậy ra, những thứ quên quên nhớ nhớ đó là do không có tâm, không phát ra từ tâm nên sẽ có kết cục luẩn quẩn như vậy.

– Mọi thứ phải chinh phục bằng lòng thương cao cả, con đường giải thoát , nỗ lực bản thân để vượt ra khỏi tư tưởng đau khổ.

– Những suy nghĩ ngược lại chỉ là: 

Trốn thoát khỏi thực tại của chính con người mình khi gặp khó khăn, ước vọng nông cạn, cố gắng ảo tưởng, uống rượu để xua đuổi thực tại, ước vọng thấp hèn, sự tranh chấp nội tại, quan điểm chứa quá nhiều thành kiến, mất đi khả năng sáng tạo, nhậy cảm, rung động trước cái đẹp, chỉ còn là dục vọng thấp hèn, không có sự chiêm ngưỡng cái đẹp kiểu Chúc phúc vì người và cảnh vật đẹp mà chỉ là sưu tập chúng, muốn sở hữu chúng, trói buộc chúng.

 

6. Bức tượng Phật Di lặc, nhà sách Minh Khai, 9/2008, HCM

P1090160– Tôi tự nghĩ rằng: ta đang cần đạt tới tâm trạng & thâm tâm an lạc, đạt tới cái chân ngã, hạnh phúc chính là phải vượt lên trên lỗi sợ hãi, thoát ra khỏi sự đau khổ.

Ví như vào nhà hàng muốn ăn món ngon nhưng bạn đang là tầng lớp nghèo thì phải nhìn kỹ thực đơn chọn món có giá tiền thấp, nếu không có Thực đơn đề giá thì tự động ra khỏi nhà hàng (“câu chuyện nghèo năm 1980-1998 tránh sự cố”),

– Sau khi vươn lên được tầng lớp Trung phú thì tôi vào nhà hàng ung dung hơn, xem Thực đơn chọn món nếu không xem Thực đơn thì cũng không thể tuỳ tiện gọi món được, vẫn rất có thể bị vượt tiền có trong ví (lúc đó thì không thể có tâm trạng an lạc được).

  Xin hãy niệm phật theo bài kinh: http://phatgiao.help24x7.net/8-Kinh_VoLuongTho

 

 

7. Bức tượng Phật tổ Như lai đang toạ thiền: Nhà sách NVC, 7/2012, Hà Nội.

P1090163– Tôi tự nguyện cầu và phát nguyện đời đời theo chân người để làm đúng, giúp đỡ , giáo dục con người có niềm tin , đức tin đạo đức, nhận thức được Phật pháp & kiến thức yêu thương, tôn kính và bác ái.

– Để được gì ở đời này, đời sau? đó là Ý nghĩa cuộc sống đẹp, giúp con cháu mình có giáo dục Phật giáo.

– Tôi trợt nghĩ: vậy những đứa trẻ Ốm yếu là do không được lo đủ lòng yêu thương của Cha mẹ, chứ không chỉ là thiếu dinh dưỡng vật chất mọi người thường nghĩ.

 

Xin hãy niệm phật theo bài kinh: http://phatgiao.help24x7.net/7-Kinh_ADiDa

 

 

4. Bức tượng Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Vịnh Nghiêm, Bắc Ninh, 6/2005.

DuocSuLuuLyQuangVuongPhat– Đây là cách mà tôi hiểu, rồi tôi và những người khác đều phải chuẩn bị làm không sớm thì muộn đó là “Di chúc trước khi đi xa”.

– Tôi viết sẵn sơ lược di chúc cho chính tôi ngay từ những tháng ngày này “tuổi nửa đời người trước khi về với cõi Phật”.

1. Cầu nguyện và niệm phật để cho người mất thâm tâm an lành.

2. Hoả táng để không còn luyến tiếc cái thân xác ở cõi Ta bà này.

3. Phát nguyện trọn đời Thiên ý theo Phật.

4. Sống muôn đời chọn vẹn giữ gìn hạnh phúc cá nhân và bao người xung quanh mình, sống chân thực mọi lúc, mọi nơi để có thể kết nối giáo dục tư tưởng giữ gìn đạo đức muôn đời.

5. Nếu mắc bệnh hiểm nghèo thì phải rèn luyện chính mình, theo đuổi quy luật sống theo tự nhiên, phương pháp chữa bệnh hoàn toàn vứt bỏ “bệnh Tâm”, tiền tài, nhà cửa, sự vô thường ở đời, lo tu dưỡng, loại bỏ dục vọng, tham lam, sống lệch lạc mất đi cân bằng với trạng thái tự nhiên “con người phải hiểu biết chính mình, trở về với chính con người thật, làm chủ cảm giác, ăn ít, uống nước suối loại bỏ độc tố trong người, tim đập chậm lại làm thận nghỉ ngơi”.

6. Tìm hiểu và tu hành sâu sắc Dược sư Lưu Ly Quang Vương Phật dậy trong Kinh: đó là ăn lạc, ăn vừng giúp dạ dày loại bỏ độc tố, tập yoga làm cho Vô cầu, vô niệm mọi thứ trở về tự nhiên.

Xin hãy niệm phật theo kinh: http://phatgiao.help24x7.net/4-Kinh_DuocSu

 

10. Tượng bà Quán thế Âm Bồ tát đứng tay cầm bình nước Cam lồ, 8/2012.

a. Ngày 24/10 tôi gặp bà nội tôi trong một buổi niệm phật, câu chuyện như sau:

P1090164Tôi điều khiển thể vía đến nơi mộ dòng họ Lê nhà tôi ở Quảng Yên, Quảng Xương, Làng Bình Yên.

Bà tôi bảo: “bữa trước con cầu siêu cho 2 chú và bố con rồi, giờ con cần cầu siêu cho Bà để bà siêu thoát nhé !”

Tôi chỉ kịp có dạ vâng, nước mắt trực trào ra khoé mắt. Bỗng như có một dòng điện chập vào người, mắt tôi chỉ còn thấy 1 màn đen và 2 chấm xanh di chuyển rồi chập vào nhau, vậy là thể xác tôi đã bị 1 người nào đó nhập vào hoặc đứng gần đó chặn thể vía của tôi.

Tôi (thể xác) vung tay vung chân như muốn xua đuổi vật gì đó, còn thể vía thì đang cố quay về với thực tại để nhập vào thể xác, tôi chỉ cảm thấy rốn mình đau nhói (nó là dấu hiệu không thể vào được).

b. Một dọng cười khà khà, tôi đoán tầm 60 tuổi văng vẳng trong vùng tối của thể vía, tôi bất giác hoảng sợ thực sự. Tôi nghĩ rằng thể xác kia đang có ai đó (chắc chắn giỏi hơn mình nhiều mới có thể nhập vào mình và đang nói với mình bằng suy nghĩ).

c. Tôi cố trấn tĩnh bằng cách nhẩm niệm phật tên 84 vị Bồ tát và niệm Nam Mô A Di Đà Phật vì nhớ rằng tất cả linh hồn đều biết nghe kinh phật, cho dù ít nhiều. Vậy là tâm chí tôi đổ dồn vào đọc niệm phật. Tiếng cười đó vẫn cất lên, tôi đoán người này cũng theo đạo Phật…

d. Ngày nào, khoảng 12h đêm tôi cũng để bên tai nghe bằng Nokia các bản Kinh niệm phật, lúc này tôi cố hết sức điều khiển tay trái (tay trái lúc đó có cảm giác bồng bềnh, như bị tiêm thuốc tê, và mọi thứ cứ từ từ di chuyển có lẽ phải mất chừng 15 phút tôi mới điều khiển tay trái và bấm nút bật Play list bản: kinh Sám 6 căn cho Quy y tam bảo, thọ ngũ giới, vừa đủ tôi nghe thì tiếng cười có vẻ bé đi chút ít, tôi đoán người này cũng Quy y tam bảo rồi.

e. Tiếng người đó trợt vọng lại bên tai tôi, tôi hiểu ra, người này cũng đang luyện tập thể vía và vô tình tìm thấy tôi, nhưng chắc chắn đẳng cấp và thời gian luyện thiền của người này hơn hẳn tôi, ông ấy có tâm linh hoạt và thể trí hơn tôi bởi đường sáng từ thể vía trở về một chân trời hướng trỏ tây bắc sáng trắng đậm, bởi tôi bao giờ cũng nằm giường khác với người bình thường “Chân Bắc đầu Nam” tôi thì “Đầu Đông ghé bước đi tây”.

f. Một điều tâm niệm mãnh liệt vụt qua trí óc, lúc đó tôi chỉ kịp hình dung mình như đang là Tôn hành giả, một mình đang nói chuyện tâm thức với người này, còn 1 mình vụt theo đường chỉ sáng vía của người đó tới 1 ngôi làng, rồi hiện ra 1 cổng nhà ở đâu đó vùng Vân Nam hay Côn minh với kiểu nhà hình chữ U 3 tầng, cổng vào duy nhất, trên cổng đề “Pháp Tích Môn Không “. Vậy là đụng phải 1 vị Pháp sư Thiền đây.

g. Bỗng người kia cất tiếng suy nghĩ vẻ buồn buồn, không còn cười nữa.

Ông ta nói: “Tôi biết anh đang nghiên cứu vấn đề y học trong Phật giáo, tôi thấy anh nghe và niệm Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật trong 1 lần bị đau bụng do bị các Linh hồn đến viêng thăm”, bàn tay phải của anh để vào phía bụng bị đau khoảng 4 tiếng sau thì khỏi hẳn, anh có biết anh bị bệnh 2 hôm liền và rất nguy hiểm hay không?

Tôi ngạc nhiên đôi chút và hiểu rằng người này hoặc người thân của ông ta đang bị bệnh gì đó liên quan tới những vấn đề chứng nan y như: Gan, dạ dày, thận mà tôi là người có quan tâm nhiều tới những bệnh đó, thậm trí tôi cũng bị một số bệnh thể nhẹ trong đó. Tôi lại có quan điểm muốn biết và chữa trị thì mình phải có tính thực hành hoặc bị chính những bệnh đó thì về sau mới thấu hiểu và quyết tâm chữa bệnh đó được. Ông ấy nghe thấy lời giải thích của tôi “

Ông ta nói: đó là cái Tâm Ý , thiên ý và Khoa học thực tiễn trong tôi luôn đi cùng ý nghĩ của tôi.

h. Mọi việc trở nên dễ dàng hơn, tôi vụt hiểu ra, và bấm chuyển play list Kinh Dược Sư cho bài kinh được phát ra, tôi nghe được và thế là Ông ấy nghe được, ngay lúc đó hình thể vía của Ông ấy mờ dần, tôi hiểu là bài niệm này có “Tha lực Phật” rất mạnh mẽ để Ông ấy bớt tạp niệm cũng là tôi đề phòng mình không thể kiểm soát được tình hình.

Ông ấy nói 1 lời cuối tôi không nghe rõ nhưng cảm nhận được ý tứ như sau:

Ông ấy hiểu tôi nói gì, Tôi khuyên hãy niệm phật Kinh Dược Sư, giảm thời gian thiền định tịnh tiến, dành thời gian lo cho sức khoẻ bệnh tật chữa bằng phương pháp tinh thần Phật giáo sẽ có cơ hội mạnh khoẻ.

 

Lời kết:

  • Một ngày cuối tháng 10, càng ngày tôi càng giác ngộ ra được rằng “Cuộc đời cần giải thoát” mới giúp tôi tư duy rộng mở được, mọi việc đều không bị ràng buộc mới là sự hạnh phúc chân chính, vì tất cả đều tôn trọng giá trị thật của mọi sự vật.
  • Tôi cũng cảm nhận được sự may mắn trước những thế giới mà tôi đã, đang và sẽ đối mặt vì tôi đã niệm phật và quyết đi vào thế giới Tịnh độ, thanh tịnh.
  • Đáng nhẽ tôi sẽ kể câu chuyện ở mục 10. câu chuyện về lí do hoảng sợ cuối cùng cho đúng với tiêu đề thay vì giới thiệu các bức tượng sưu tầm 10 năm qua và dài dòng với lối trích dẫn, nhưng bạn đọc à tôi đã đưa vào đây lối giải thích về sợ hãi của chúng ta là do có ảo tưởng, chưa bao giờ thấy Cảnh giới mà mình sẽ đến, nên thường là sợ hãi, suy nghĩ tạp niệm. Nay tôi nhờ có Quán tưởng, nhất tâm niệm phật hàng ngày, niệm phật để có Tha lực phật, nhớ có xác định cảnh giới, nhờ có ghi nhận nhiều kết quả tu tập Tôi mới giám vượt qua các Cảnh giới, loại bỏ nhiều tạp niệm đã qua.
  • Tôi luôn có khái niệm “Cận tử nghiệp” nên rất hiểu người có trí tuệ nói câu: “Bạn hãy sống từng ngày như là ngày cuối cùng của cuộc đời” do đó mọi thứ  trong tôi luôn An Lạc, Thanh tịnh, Đề huề Giáo lý của phật tạo đủ phẩm hạnh, chứa chan yêu thương, Thần thức luôn chiếu sáng nhờ niệm Phật để về với cõi Phật.

Con đường cuộc đời của tôi đúng là đã thay đổi !

Xin hãy nghe cuốn sách mà tôi đã chọn làm kim chỉ nam giúp tôi đi đúng con đường tiếp theo:  http://phatgiao.help24x7.net/0-Vuotluanhoi_vaotinhdo 

Phat_nhulai

Tôi thệ nguyện đời này:

– Sẽ làm mọi phương tiện, phương pháp để giúp mọi người phát Bồ đề tâm và thành Phật.

– Sẽ truyền giáo lý, giúp mọi người mở tâm trí huệ, tu hành nhận thức và giác ngộ Phật tính trong chính con người họ.

– Giúp nhiều người đắc đạo, có cõi tâm thanh tịnh, Thuận duyên để tâm Tịnh độ.

– Giúp thâm tâm An lạc, giàu có cơ hội tạo nghiệp hạnh, thực hành cứu độ chúng sinh, tạo phúc đức cho con cháu sau này.

– Cơ hội Niệm phật để lắng nghe lời Phật dậy, có Tha lực Phật để nhẹ nhàng trước khi nhập Niết bàn.

Phat_A-di-da_NhapNietban

Tham khảo các Kinh sách Audio mà tôi đã sưu tầm và học hỏi thực hành hàng ngày:

http://phatgiao.help24x7.net/0-Vuotluanhoi_vaotinhdo 
http://phatgiao.help24x7.net/1-QuiY_TamBao-ThoNguGioi
http://phatgiao.help24x7.net/2-Kinh_NhanQua-ThienAc
http://phatgiao.help24x7.net/3-Kinh_VuLanBaoHieu
http://phatgiao.help24x7.net/4-Kinh_DuocSu
http://phatgiao.help24x7.net/5-Kinh_Dia_Tang
http://phatgiao.help24x7.net/6-Kinh_CauSieu
http://phatgiao.help24x7.net/7-Kinh_ADiDa
http://phatgiao.help24x7.net/8-Kinh_VoLuongTho

Ai cũng thuộc thế giới ham vui sợ khổ não, lão khổ, tôi thì đã từ bỏ nó bằng tâm cảm nhờ Phật giáo dậy, hướng tới sự thanh tịnh của tâm, tôi biết chặng đường tới còn nhiều khó khăn, nhưng luôn có kế hoạch, tìm tòi và tiếp thu giáo dục của Phật.

Bộ kinh tiếp theo tôi phải tìm và niệm phật: Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Pháp Hoa và Kinh Phổ Môn hồi 25, Kinh Bát Nhã Ba-la-mật-đa.

Nam Mô A-Di-Đà Phật !

Hồi ký tháng 8: Hành thiền và thiền định giúp tôi tịnh tiến lên một tầm trí tuệ mới


Sau 1 tháng tìm hiểu và ghép nối nhiều mảng thông tin, đối chiếu nhiều kinh sách của Đạo ky tô, Cơ đốc giáo và đặc biệt Phật giáo.

Tôi dần chthươngứng ngộ ra nhiều điều giống nhau về những sự bàn luận và đưa ra cảnh giới cho con người thực tại.

Những câu hỏi mà bao người từng hỏi: Chúng ta sống trên đời để làm gì ? sao chúng ta phải sống trong  cuộc đời này như cảnh giới hiện tại ? sao không phải là một cái gì khác ? v.v…

Tôi đã cảm nhận ra thêm nhiều điều mình đã từng biết nhưng còn mập mờ về số kiếp trước của mình, những thứ người đời vô đạo coi là không tin, không có hoặc là tôi bị khùng điên. Tôi biết là có thật và việc của nửa đời còn lại tôi phải tìm, phải chứng minh, và nó sẽ giúp ích lợi lạc cho chúng sinh thoát khỏi đường mê muội, tin vào đạo pháp.

Cũng như khoa học nghiên cứu tâm lý đã chứng minh thế ký 21, loài người dần đã biết tới thế giới tâm linh, linh hồn, các thế giới gốc xuất sứ của loài người, chư thiên, át-tư-la, quỷ sứ, địa ngục… câu chuyện đã có từ hơn 2500 trước, nhưng sao con người vẫn khó tin, hay mỉa mai, châm biếm.

Thiện tai thiện tai.

Tôi lại thấy thương cho những người có nhận định, suy nghĩ cố chấp đó vì họ đâu hiểu rằng, chính kiếp trước họ từ cái gốc “Thiền Quang” đem “linh hồn” nhập vào 1 bào thai có cơ hội trở thành con người, từ từ sinh thành, trường thành,  trung niên, già bệnh và tử.

Sự thật linh hồn: http://www.youtube.com/watch?v=1Vtez7LZ92Y&feature=related 

Trong quãng đường đầu thai đó, họ đã ăn “Cháo lú” để rồi trước khi thành người đã quên đi hết cái kiếp sống trước của họ làm gì ? ở đâu ? cha mẹ, vợ chồng, con cái là ai …?

Trần sao thì âm vậy”:  http://www.youtube.com/watch?v=gMyGI5ZVylw&feature=related

Hiểu biết và tìm tòi nhiều hoá ra tôi mới là ngộ ra được đường đời, đường học trường lớp vẫn chưa đủ đôi lúc còn bị học sai, dậy sai, vậy phải là đạo đời, thiền định và tu tập tin tưởng vào Phật pháp.

Phát tâm từ thiện”:  Nó sẽ giúp cho tâm tôi và bao con người sáng trong và kiên định vì tâm sáng và tin vào Phật pháp nhiệm mầu.

Đây thực sự là cuộc đời đổi mới của tôi, sau lứa tuổi thanh niên yêu khoa học, thích đi xa tìm tòi những lĩnh vực khoa học. nhưng hoá ra, nó chưa đủ thoả mãn những khát vọng vươn tới trí tuệ, giải đáp bao điều khó hiểu trong tôi.

Hạnh nguyện và Hồi hướng”:  Hành động của chúng ta trong cuộc đời đối với người đang sống và đã mất vô cùng quan trọng, hãy biết tích luỹ và hiểu biết về thế giới tâm linh, biết kính trọng, luôn có đức tin để vượt qua bản ngã Vô minh của chính mình.

“Hoà nhập vũ trụ”: Tập trung tu tập, khổ luyện, nghiên cứu  thấu đáo để hiểu tâm linh, đúc rút ra nhiều kinh nghiệm cho đời sống, khoa học và đặc biệt và Giáo dục Phật giáo, nâng cao cảnh giới, vượt qua những quán tưởng thông thường, lĩnh hội trí huệ của Phật đầy nhiệm mầu.

“Thoát tục, an lành và hoàn thành nhiều tâm nguyện ở đời này và đời vị lai” : Thoát khỏi tâm tưởng tầm thường, thoát khỏi cái tục “Tham Sân Si” , buông bỏ luyến ái và từ bi hỷ sả.

Thiền độ và niệm kinh chính là một phương pháp tu tập giúp tôi vượt qua những quán tưởng, hiểu thấu triệt về Pháp tâm, mở luân xa và tâm yêu thương muôn loài.

Tôi xin chép lại 66 câu Phật dạy khiến cho biết bao người cung kính làm theo:

1. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.

2. Nếu ta không muốn rước phiền não vào mình , thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho ta. Vì chính tâm ta không buông xuống nổi.

3. Ta hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình.

4. Ta phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương ta, ta phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực.

5. Khi ta vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi bạn đau khổ, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.

6. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.

7. Ta có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.

8. Đừng lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định ta sẽ ân hận.

9. Khi nào ta thật sự buông bỏ thì lúc đó ta sẽ hết phiền não.

10. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.

11. Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác.
12. Ta đừng có thái độ bất mãn người ta hoài, Ta phải quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính ta.
13. Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản.
14. Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
15. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin anh “ đa khẩu hạ lưu tình”.

16.Vốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa anh là ai? Giả sử anh bị chó điên cắn anh một phát, chẳng lẽ anh cũng phải chạy đến cắn lại một phát?
17. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người anh không hề yêu thích.
18. Mong anh đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận.
19. Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao anh lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao anh phải chứa đầy những não phiền như vậy?
20. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì anh hiểu nó quá ít, anh không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi anh hiểu sâu sắc, anh sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của anh.
21. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc, tôi không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân.
22.Tốn thêm một chút tâm lực để chú ý người khác chi bằng bớt một chút tâm lực phản tỉnh chính mình, anh hiểu chứ?
23. Hận thù người khác là một mất mát lớn nhất đối với mình.
24. Mỗi người ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó, thậm chí trân quý mạng sống của mình hơn. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với họ mà nói chính là một sự trừng phạt.
25. Tình chấp là nguyên nhân của khổ não, buông tình chấp anh mới được tự tại.
26. Đừng khẳng định về cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đỡ phải hối hận hơn.
27. Khi anh thành thật với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối anh.
28. Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện.
29. Người âm thầm quan tâm chúc phúc người khác, đó là một sự bố thí vô hình.
30. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu anh không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì mắc phải nhầm lẫn là lẽ thường tình.
31. Muốn hiểu một người, chỉ cần xem mục đích đến và xuất phát điểm của họ có giống nhau không, thì có thể biết được họ có thật lòng không.
32. Chân lý của nhân sinh chỉ là giấu trong cái bình thường đơn điệu.
33. Người không tắm rửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và tôn quý đến từ sự chân tài thực học. Có đức tự nhiên thơm.
34. Thời gian sẽ trôi qua, để thời gian xóa sạch phiền não của anh đi.
35. Anh cứ xem những chuyện đơn thuần thành nghiêm trọng, như thế anh sẽ rất đau khổ.
36. Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa.
37. Nói một lời dối gian thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì khổ như vậy?

38. Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.
39. Quảng kết chúng duyên, chính là không làm tổn thương bất cứ người nào.
40. Im lặng là một câu trả lời hay nhất của sự phỉ báng.
41. Cung kính đối với người là sự trang nghiêm cho chính mình.
42. Có lòng thương yêu vô tư thì sẽ có tất cả.
43. Đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên. Cho nên anh cần phải “ tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên”.
44. Từ bi là vũ khí tốt nhất của chính anh.
45. Chỉ cần đối diện với hiện thực, anh mới vượt qua hiện thực.
46. Lương tâm là tòa án công bằng nhất của mỗi người, anh dối người khác được nhưng không bao giờ dối nỗi lương tâm mình.
47. Người không biết yêu mình thì không thể yêu được người khác.
48. Có lúc chúng ta muốn thầm hỏi mình, chúng ta đang đeo đuổi cái gì? Chúng ta sống vì cái gì?
49. Đừng vì một chút tranh chấp mà xa lìa tình bạn chí thân của anh, cũng đừng vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác.
50. Cảm ơn thượng đế với những gì tôi đã có, cảm ơn thượng đế những gì tôi không có.
51. Nếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.
52. Nói năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây tổn thương, đừng khoe tài cáng của mình, đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa địch thành bạn.
53. Thành thật đối diện với mâu thuẩn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.
54. Nhân quả không nợ chúng ta thứ gì, cho nên xin đừng oán trách nó.
55. Đa số người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối người, và bị người dối.
56. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối anh nhất thời, nhưng nó lại gạt anh suốt đời.
57. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình.
58. Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ này, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.
59. Nếu anh có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là một phúc phần rồi. Biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương của ngày mai, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành tàn phế, biết bao nhiêu người hôm nay đã đánh mất tự do, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành nước mất nhà tan.
60. Anh có nhân sinh quan của anh, tôi có nhân sinh quan của tôi, tôi không dính dáng gì tới anh. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được anh. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.
61. Anh hi vọng nắm được sự vĩnh hằng thì anh cần phải khống chế hiện tại.
62. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh.
63. Người khác có thể làm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì chúng ta nhất định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh.
64. Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông cho người khác. Anh muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.
65. Thế giới vốn không thuộc về anh, vì thế anh không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc về ta.
66. Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.

Vai trò của Tướng Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV


Hoàng Anh Tài

Tam quan đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí

(xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An). Ảnh: Thảo Nguyên

Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (1379-1465) sinh quán tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Trong cuộc đời 69 năm của Cương quốc công thì đã có 60 năm Ngài gắn bó với sự nghiệp triều Lê sơ, từ khi còn là một cậu thiếu niên đến lúc trở thành một công thần, rường cột của triều đình.

Nói về Nguyễn Xí, vua Lê Thánh Tông từng có nhận xét: “Nguyễn Xí: Khí chất cứng cỏi to tát, tính vốn trầm hùng, giúp Cao Hoàng khi mở nước trăm trận gian nan. Giúp Tiên khảo lúc thủ thành một lòng phò tá. Trong ngoài hết chức phận tướng văn, tướng võ, trước sau giữ trọn tiết làm tôi, làm con. Giữ mình có đạo hồn nhiên như viên ngọc không lộ sáng. Nghiêm sắc mặt ở triều, lẫm liệt như thanh kiếm mới tuốt. Các quân đều tưởng mộ phong thái, bốn biển đều trông thấy uy danh. Tiên đế mất trong khi đi tuần phương Nam, người ân cần nhận chiếu ký thác. Ta lên ngôi như mặt trời mới mọc, người bày tỏ hết mực mưu mô giúp rập. Tôn miếu xã tắc được yên vững, trung châu man di đều thuần phục…”(1)

Cùng với những công lao to lớn trên bình diện quốc gia đã được lịch sử dân tộc ghi nhận, Nguyễn Xí còn có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành nên nhiều làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ và trên địa bàn tỉnh Nghệ An ở thế kỷ thứ XV. Phạm vi bài báo này xin đề cập tới: Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành làng xã ở Nghệ An.

Ngay sau ngày đất nước đại định, triều Lê sơ đã thực thi việc bình xét công trạng đi liền với ban cấp lộc điền cho hoàng thân, quốc thích và các khai quốc công thần – những người đã có nhiều công lao giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, giải phóng đất nước. Việc làm này của Lê Lợi và vương triều Lê sơ còn nhằm gắn chặt trách nhiệm của quan lại đối với triều đình phong kiến trung ương tập quyền, đang là xu thế tiến bộ bấy giờ.

Cũng như nhiều vị khai quốc công thần thời Lê sơ, Nguyễn Xí đã được triều đình ban thưởng hàng nghìn mẫu ruộng lộc điền, mà phần lớn là thế nghiệp điền – loại ruộng đất được quyền sử dụng vĩnh viễn.

Tuy gia tộc Nguyễn Đình không còn lưu giữ được các sắc chỉ của triều Lê ban cấp ruộng đất cho Nguyễn Xí, nhưng nội dung Di huấn của Nguyễn Xí hiện còn lưu tại nhà thờ, gia phả dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp và một số thư tịch cũ đã cho ta biết cụ thể số ruộng lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 5.135 mẫu ở rải rác từ Hải Dương đến Nghệ An, Hà Tĩnh, bao gồm 6 trấn, 25 huyện, 93 xã(2). Trong đó, tại trấn Nghệ An (bao gồm địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 1009,5 mẫu, được phân bổ trên địa bàn của các phủ: Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và 5 huyện: Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương và Thiên Lộc.

Cùng với việc xác nhận số đất đai được ban cấp, Di huấn của Nguyễn Xí cũng nhắc nhở trách nhiệm của con cháu trong việc ghi nhớ công lao của tiền nhân: “Vua ra sắc lệnh ban cho Ta được hưởng ruộng đất lộc điền và Ta mới tương tậu thêm một số ruộng đất ở các xứ, phủ, huyện xã đều đặt làm sản nghiệp vĩnh viễn. Nay chúng mày được hưởng sự giàu sang, nhà đẹp, ruộng đất, nên nhớ lại khi Ta khó nhọc phát bụi, chặt gai. Thấy cảnh trí, ca nhi, vũ nữ, nên nghĩ đến lúc Ta chịu khổ gối gươm, nằm đất(3)

Ngoài hàng ngàn mẫu “lộc điền” được ban cấp, số đất ruộng do Nguyễn Xí tương tậu (mua) và tổ chức khai khẩn thêm còn có trên 765 mẫu, tập trung chủ yếu vùng xung quanh làng Thượng Xá quê hương Ngài.

Do bận việc quân cơ, triều chính, Nguyễn Xí không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình mà giao chủ yếu cho con cháu quản lý và thu hoa lợi. Thông thường mức địa tô mà người cày ruộng lộc điền phải nộp cho Nguyễn Xí trong khoảng 1/3 sản lượng, sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cần thiết. Mức thu này bằng, hoặc thấp hơn qui định của nhà nước; những năm mất mùa thì được miễn giảm tùy theo tình hình thực tế của mùa vụ.

Tuy nhiên, theo thời gian và sự biến động của lịch sử, số ruộng đất của Nguyễn Xí cũng bị thất thoát dần. Trong đó, một phần bị tư nhân hóa, một phần bị cường hào các địa phương chiếm đoạt; thậm chí do một số con cháu quá đói, buộc phải bán “ruộng họ”. Do đó, trong thực tế mức hoa lợi mà Nguyễn Xí cũng như con cháu thu được chỉ ở mức nhất định. Nhưng, việc khai thác, sử dụng ruộng đất của Nguyễn Xí đã góp phần đáng kể vào công cuộc mở mang kinh tế và quá trình hình thành nên nhiều làng xã ở nước ta trong thế kỷ thứ XV, mà chỉ tính riêng trên địa bàn Nghệ An thì đã có hàng chục làng xã thuộc 4 phủ, 5 huyện. Đây là một trong những đóng góp quan trọng nữa của Cương quốc công Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình rất cần được ghi nhận.

Theo Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở xã Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết: Nguyễn Xí đã giao cho Nguyễn Trọng Đạt (người con thứ 10) cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chàm, gồm các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp tiến hành khai khẩn đất đai tại vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc. Kết quả công cuộc khai khẩn ruộng đất đã hình thành nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng (nay thuộc địa bàn xã Nghi Hương và xã Nghi Thu, (thị xã Cửa Lò). Số hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử tử tế như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi những làng xã mới khai khẩn. Quá trình lao động và chung sống lâu đời, những nhóm người Chăm đó đã hoàn toàn hòa hợp với nông dân ngưòi Việt(5).Ngoài ra, Nguyễn Xí còn sử dụng bọn hàng binh nhà Minh, như Nguyễn Sĩ, Nguyễn Tiếp cùng dân địa phương khai hoang lập ra làng Phú Ích (nay thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc). Di huấn của Nguyễn Xí cũng ghi lại điều đó.

Đề cập đến vấn đề này, học giả người Pháp Hippolyte Le Breton trong cuốn An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh) được Tập san Đô thành hiếu cổ xuất bản lần đầu vào năm 1936 đã viết những dòng, như sau:

“Nguyễn Xí được cấp lãnh địa cả miền duyên hải nằm giữa Cửa Lò và Cửa Hội (Hội Thống) ngày nay. Trong số các đầm phá này có Bàu Ó, cái bàu mà theo các sách Dư địa chí thì gọi là hồ nước biển. Dọc theo bờ Bàu Ó, Nguyễn Xí lập nên làng Bàu Ó mà đất đai thì do một đám tù binh người Tàu mà Nguyễn Xí bắt được trong các cuộc chiến tranh ở An-Tĩnh (1418-1428) khai khẩn. Trên những đầm phá khác, Nguyễn Xí lập ra rất nhiều làng. Đất đai mới nổi lên đều do những người Chăm khai khẩn. Những người này do Nguyễn Xí bắt được trong cuộc đánh nhau với nước Chăm Pa năm Thái Hòa thứ 3, đời Nhân Tôn, tức năm Ất Sửu (1445)”.(5)

Tương truyền Làng Long Trảo (Móng Rồng), xưa thuộc làng Khánh Duệ, (nay thuộc xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc), là nơi được Nguyễn Xí chọn làm địa điểm tổ chức lễ mừng công sau ngày đất nước đại định. Lễ hội được tổ chức vào ngày mồng 01 tháng Hai âm lịch. Hàng năm đến ngày này, quan khách và con cháu khắp mọi miền đất nước kéo về đây dự lễ. Để có hàng hóa phục vụ lễ hội, Nguyễn Xí đã cho cưới chợ Sơn và giao làng thu thuế chợ nộp cho họ Nguyễn Đình mỗi năm 6 quan để góp vào việc tổ chức lễ hội mừng công. Chợ Sơn ra đời từ đó, mà người có công cưới chợ là Cương quốc công Nguyễn Xí.

Về sau, vào ngày 16 tháng 6 âm lịch hàng năm, tại chợ Sơn, dòng họ Nguyễn còn tổ chức tiểu lễ (lễ nhỏ) để tri ân những người có công với nhà Lê, với Nguyễn Xí, nhưng chưa được ban thưởng mà đã chết. Tại lễ này, Nguyễn Xí hoặc con cháu thay mặt Ngài tạ lỗi với những oan hồn đã bỏ xác trong các cuộc binh đao…Việc làm này, nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đó là sự biểu hiện của tình cảm “uống nước, nhớ nguồn“ – tấm lòng nhân văn cao cả của Cương quốc công Nguyễn Xí và gia tộc Nguyễn Đình.

Nguyễn Xí có 15 người con trai, 8 người con gái. Tất cả 15 người con trai đã noi gương thân phụ, đều hết lòng trung quân, ái quốc; trong 15 người thì có 7 người giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình và 8 người điều khiển chỉ huy 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu của nước Đại Việt. Nhiều người trong số họ đã được phong tước Hầu, hoặc Quận công; có người được phong làm Quốc công. Còn 8 người con gái đều lấy chồng thuộc các gia đình quí tộc. Quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất của con cháu Nguyễn Xí cũng góp phần mở mang kinh tế và hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn nước ta.

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết: Thái úy Nguyễn Sư Hồi – con trai cả của Cương quốc công Nguyễn Xí là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành làng Vạn Lộc – tiền thân của phường Nghi Tân, (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài ngót 5 cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc kinh dinh của Nguyễn Sư Hồi ở thế kỷ thứ XV.

Tương truyền: Chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng Vạn Lộc. Đến thế kỷ thứ XIX đã trở thành một trong số 10 chợ lớn của huyện Chân Lộc(6).

Đền thờ Nguyễn Sư Hồi trên địa bàn phường Nghi Tân vẫn trường tồn đến tận ngày nay cùng đôi câu đối ca ngợi công đức của Người “một thuở mang gươm đi mở cõi”:

“Dẹp giặc, yên dân, nghĩa khí ngàn năm ghi nhớ,

Khai cơ, lập nghiệp, công ơn muôn thuở lưu truyền.”

Trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, dọc sông Mai Giang đến núi Tùng Lĩnh có một giải đất với diện tích trên 5 mẫu, dân địa phương gọi là cánh đồng Dần. Truyền rằng do Ngọc Linh Vệ quản lệnh Nguyễn Đình Dần (con thứ 13 của Cương quốc công Nguyễn Xí) khai phá từ thế kỷ thứ XV(7).

Có thể dẫn ra nhiều ví dụ nữa cho thấy lộc điền và các loại đất ruộng của Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình đã tạo những tiền đề vật chất cho việc hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn Nghệ An, góp phần quan trọng vào việc mở mang kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, đưa Nghệ An từ vùng đất trại, từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của quốc gia Đại Việt.

Tài liệu tham khảo:

(1) Lê Quí Đôn Toàn tập, tập III (Đại Việt Thông sử) Nxb KHXH, H.1978, tr.181.

(2) Đỗ Danh Gia, Luận án tốt nghiệp khoa Sử, K11, Hà Nội, 1976.

(3) Di huấn của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí.

(4) Lịch sử Nghệ – Tĩnh, Tập I, Nxb Nghệ Tĩnh, 1984, tr.181.

(5) Hippolyte Le Breton, An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh), Nxb Nghệ An, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005; tr.99.

(6) Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh – quá trình hình thành và phát triển, tr.24.

(7) Hoàng Anh Tài, Quỳnh Xuân xưa và nay

Nguồn: Tập san KHXH &NV Nghệ An

Sưu tầm: Cách nhìn của Phật giáo về Chân dung con người ?


Trích bài viết: tin về Huệ Quang

Ông chủ Facebook “hành Bồ-tát hạnh”  

Chàng trai chủ nhân của mạng xã hội Facebook 26 tuổi này đã làm cả thế giới chú ý tới không chỉ vì trí tuệ và tài năng trẻ phục vụ số đông của anh, mà anh còn là hiện tượng của sự dấn thân vào những công việc khó làm –hiến tài sản làm từ thiện– ở độ tuổi và sự nghiệp đang phất. Phật giáo xem sự dấn thân như thế là bồ-tát hạnh, là công hạnh vì lý tưởng lợi tha của người Phật tử Đại thừa. Nhìn một Phật giáo phi hình thức, người Phật tử có thể thấy được vai trò đích thực của tư tưởng Phật giáo không nằm ở tôn giáo, mà nằm ở hành động. Tôi xin thông qua nhân vật Zuckerberg để làm sáng tỏ tư tưởng này của Phật giáo.

Việc xem tỷ phú Zuckerberg “phát bồ-đề tâm, hành bồ-tát hạnh” nghe ra có vẻ khó chấp nhận đối với người Phật tử, bởi những khái niệm này vừa là thuật ngữ vừa là lý tưởng của Phật giáo Đại thừa lại được gán cho một chàng trai người Mỹ gốc Do Thái. Nhưng kỳ thật, ‘bồ-đề tâm’ cũng như ‘bồ-tát hạnh’ không mang một ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo gì cả. Nó biểu đạt một lối sống của người đi tìm kiếm hạnh phúc thông qua sự nghiệp tạo dựng hạnh phúc cho người khác.

Bồ-đề tâm phát xuất từ chữ ‘bodhicitta’, là một thuật ngữ của Phật giáo Đại thừa. ‘Bồ-đề’ là phiên âm của chữ ‘bodhi’ (tiếng Pali/Sanskrit), nghĩa là ‘giác’, ‘giác ngộ’, ‘tuệ giác’, tức là hiểu biết các pháp một cách rốt ráo, không có chấp thủ. Bodhi là quả vị giác ngộ tối thượng mà đức Phật đã chứng đắc dưới gốc cây Assattha mà sau đó cây này được gọi là cây Bodhi (Bồ-đề). Bồ-đề tâm (bodhicitta) do đó có thể được hiểu là tâm giác ngộ. Đối với chư Phật, nó là thực tại; còn đối với chúng sanh, nó cần phải được phát huy, cho nên được gọi là ‘phát tâm bồ-đề’. Người phát tâm bồ-đề cần hiểu rõ rằng bồ-đề sẵn có trong mỗi chúng sanh và sẽ hiện rõ khi màn vô minh được vén lên. Điều này muốn nói đến tánh giác trong mỗi chúng sanh. Trong văn học Phật giáo Nguyên thủy (Pali), từ tương đương của bồ-đề tâm có lẽ là ‘pabhassara citta’, nghĩa là ‘tâm sáng chói’. Kinh Tăng Chi chép: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” (A.i, 9). Như vậy, phát tâm bồ-đề có thể được hiểu là hướng tâm đến sự thanh tịnh sáng chói vốn có (của tâm), và cũng tức là hướng tâm đến sự giác ngộ bồ-đề (bodhi).

Với ý nghĩa Bồ-đề như vậy thì tỷ phú Zuckerberg phát bồ-đề tâm như thế nào? Trước hết chúng ta cần xác định rằng Phật giáo chỉ quan tâm đến con người và tâm người, mà không có một sự phân biệt nào liên quan đến giai cấp, sắc tộc, tôn giáo, v.v. Và hành động hay nghiệp (karma) được xem là chủ trương của Phật giáo với mục đích là làm thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý (việc làm, lời nói, ý nghĩ). Đây là con đường đưa đến sự đoạn tận tham, sân, si, thành tựu quả vị bồ-đề. Nói cách khác, quả vị bồ-đề có thể chứng đắc nếu hành trì đúng pháp (tức là làm thanh tịnh ba nghiệp, đoạn tận tham, sân, si), mà không tùy thuộc vào một quan điểm hay danh xưng nào. Trung Bộ Kinh, số 126, nói rằng “dù có nguyện vọng hay không, việc hành trì Phạm hạnh một cách chánh đáng thời đạt được quả vị.” Với chủ trương hành động như thế, tỷ phú Zuckerberg cũng có thể không ngoại lệ, và có lẽ đang đi trên đạo lộ ấy.

Như đã nói, chướng ngại của bồ-đề chính là vô minh và các cấu uế từ bên ngoài vào, được hiển thị qua thân, khẩu, ý. Và Zuckerberg dường như đang thăng hoa cuộc sống khi từng bước vén màn vô minh và buông bỏ các cấu uế ngoại lai ngang qua những việc làm của mình. Quả thực, mức độ hạnh phúc hay khổ đau của con người tùy thuộc ít hay nhiều vô minh và cấu uế ngoại lai ấy.[1] Càng ít vô minh (tức trí tuệ càng nhiều) chừng nào thì người ta càng dễ dàng buông bỏ những cấu uế ngoại lai chừng ấy, và ngược lại.

Có thể Zuckerberg không hề biết hay nghĩ đến danh xưng ‘bồ-đề’ hay ‘chánh giác’ gì cả, nhưng những thăng hoa hạnh phúc trên đạo lộ buông bỏ của anh (mà người Phật tử gọi là đạo lộ đưa đến bồ-đề) thì không thể phủ nhận. Việc Zuckerberg dấn thân làm từ thiện là một biểu hiện của sự buông bỏ như thế, và đặc biệt là tìm thấy hạnh phúc thông qua việc xây dựng hạnh phúc cho người khác. Như vậy là anh đã phát bồ-đề tâmhành bồ-tát hạnh (nói theo ngôn ngữ Phật học) trong ý nghĩa đích thực của nó mà không cần một danh xưng nào hết. Tuy nhiên, con đường đạt đến đích bồ-đề theo Phật giáo Đại thừa là một hành trình dài và đòi hỏi một tâm vị tha và kiên định, những yếu tố mà hiện tại ít nhiều anh đang có.

Khái niệm “Bồ-tát hạnh” có nguồn gốc từ văn học Phật giáo Nguyên thủy, được minh họa rõ nét nhất qua tập Bổn Sanh (Jātaka –Chuyện Tiền Thân Đức Phật). “Bồ-tát” trong thời kỳ văn học này là danh xưng được sử dụng chỉ cho đức Phật trong nhiều kiếp trước, “khi Ngài chưa thành Phật, còn là Bồ-tát”. Qua đó, Bồ-tát được thấy đã sống trong nhiều kiếp dưới nhiều hình thức khác nhau, không chỉ làm người mà còn làm chim, làm thú… Điều đáng quan tâm là, dù ở trong sanh loại nào, Ngài đều thể hiện một tính cách thông minh, năng động và sáng tạo trong cách ứng xử để bảo vệ chân lý và lợi ích cho số đông. Có nhiều mẩu chuyện cho thấy Ngài đã hy sinh thân mạng của mình vì sự bình an và hạnh phúc của đồng loại. Tất cả những việc làm này của Ngài được gọi là “bồ-tát hạnh” có đủ trí tuệ và từ bi, và là tấm gương đạo đức gần gũi với con người. Khái niệm “bồ-đề tâm” chưa xuất hiện trong thời kỳ văn học này.

Trong Phật giáo của thời kỳ sau, bồ-tát hạnh được ứng dụng một cách linh hoạt như là tư tưởng quan trọng của Đại thừa. Người Phật tử Đại thừa hành bồ-tát hạnh dường như muốn noi theo những việc làm mà chính đức Phật đã làm khi Ngài còn là Bồ-tát, chứ không phải noi theo những giáo pháp được Ngài thuyết giảng sau khi Ngài thành Phật. Họ nhận thức rằng đức Phật đã từng luân chuyển trong thế giới luân hồi như bao nhiêu chúng sanh khác, nhưng nhờ những công hạnh như thế Ngài mới chứng được quả vị Bồ-đề. Trên cơ sở đó, ai cũng có khả năng thành tựu bồ-đề nếu họ thực hành bồ-tát hạnh như Ngài.[2] Người Phật tử Đại thừa hành bồ-tát hạnh luôn luôn tâm niệm như vậy.

Tuy bồ-đề là lý tưởng, là đích đến của bồ-tát hạnh, nhưng trên thực tế, chỉ có hành động mới thật sự được quan tâm và là nội dung hai đặc tính của bồ-tát hạnh, đó là từ bitrí tuệ. Những đặc tính này chắc chắn không phải không có trong Zuckerberg.

Với quan điểm hành động như thế, việc Zuckerberg hành bồ-tát hạnh là điều có thể nhận thức được. Nếu bồ-tát hạnh được thực thi chỉ vì mục đích thiết thực là cứu khổ, ban vui mà không vì một học thuyết hay giáo lý nào từ kinh điển, thì bồ-tát hạnh là những hình thái từ thiện chân chính được thấy trong thế giới chúng ta, và nó không bị hạn cuộc trong một học thuyết tôn giáo nào. Mặc dù lòng trắc ẩn và tình người là động cơ ban đầu cho hành động của họ, nó có thể dần dần trở thành một lý tưởng nếu được un đúc và tích tập lâu dài. Quả thật, có người đã quên mình hay hy sinh mình để giúp người khác. Lý tưởng như thế có thể chăng đang ở trong một mức độ nào đó của bồ-đề tâm mà một Phật tử hành bồ-tát hạnh đang thực hành? Chúng ta cần đặt qua một bên các quan điểm tín ngưỡng để nhận ra những giá trị đích thực của việc giúp đời cứu người mà Zuckerberg và nhiều người khác đã dấn thân.

Sống trên đời, dù trong hình thức nào, ai cũng mong cầu và tìm kiếm hạnh phúc. Nhưng vì quan niệm về hạnh phúc không giống nhau nên con người có những khuynh hướng tìm cầu hạnh phúc khác nhau: hoặc vật chất, hoặc tinh thần, hoặc cả hai. Tuy nhiên, do hạnh phúc là một trạng thái thuộc tâm hay tâm lý, nên khó có một định nghĩa hạnh phúc thỏa đáng. Phật giáo không trực tiếp định nghĩa hạnh phúc, mà chỉ xác định rằng khi nào không có khổ thì khi đó có hạnh phúc. Đó là lý do Phật giáo nhằm chỉ ra sự thật khổ mà con người đối diện, rồi chỉ ra nguyên nhân của nó để đoạn trừ.

Nguyên nhân của khổ được nói chính là “tham ái”, đưa đến chấp thủ: cái này ‘là của tôi’, ‘là tôi’, ‘là tự ngã của tôi’. Để đoạn trừ tham ái và chấp thủ ấy, phương pháp thường được Phật giáo Đại thừa nhiệt tình khích lệ là hãy sống buông bỏ vì hạnh phúc của người khác, hãy hy sinh lợi ích của riêng mình cho đến chỗ vô ngã (chỉ còn hành động hy sinh mà không thấy có mình trong đó). Phật giáo Nguyên thủy cũng cho rằng làm lợi ích cho mình là làm lợi ích cho người khác, và ngược lại. Kinh Tương Ưng (S.v,168) dạy: “Trong khi hộ trì cho mình, này các Tỷ-kheo, là hộ trì người khác. Trong khi hộ trì người khác, là hộ trì cho mình.” Phật giáo cho rằng không có một cái gì tồn tại độc lập trong cái thế giới duyên sinh này.

Hạnh phúc thực chất là tất cả những gì trong thế giới xung quanh ta. Một nỗi buồn nào đó bỗng nhiên ập đến khiến cho tất cả những niềm vui đang có vụt biến mất.

Giàu có thôi vẫn không đem lại hạnh phúc. Liệu tầng lớp giàu có ở Trung Quốc có an lòng không khi đối diện với thống kê rằng người dân Trung Quốc không kính trọng họ? Theo Lu Xueyi, nhà nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, các nhà triệu phú nước này có “cảm giác bất an” là “do xu hướng của xã hội vừa ghét vừa ghen tị với những người giàu.” Đây thật ra chỉ là đánh giá bề ngoài. Vấn đề căn để là ở chỗ “Họ có chánh mạng không (cách làm giàu)?” và “Họ có lòng trắc ẩn đối với tầng lớp nghèo khổ không?” Nói cách khác, trong mắt người dân, cách làm giàu và cách sử dụng đồng tiền của họ là không đáng được kính trọng. Thật là không ổn khi tìm thấy hạnh phúc của mình trên khổ đau của người khác. Nếu họ có hạnh phúc thì ắt hẳn đó là những thứ hạnh phúc vị kỷ, đê tiện và tạm bợ; còn sự bất an thì lại quá rõ ràng khi họ luôn mang trong mình tâm trạng rằng thế giới xung quanh đang rình rập. Tự đặt mình biệt lập với con người và thế giới xung quanh, người ta càng cảm thấy hoảng hốt và bi thảm khi kết thúc cuộc đời bằng nhận thức rằng tất cả (những gì ‘của tôi’, ‘là tôi’) đều trở thành của ‘thiên hạ’. Sống một cuộc sống bất an thì chết cũng chẳng lành.

Zuckerberg đã làm giàu bằng chính công sức và trí tuệ của anh (chánh mạng), đồng thời sẵn sàng mở lòng san sẻ những gì anh có cho người khác; cả hai mặt, anh đều đáng được tôn kính.

Anh hẳn đã hơn người trong việc tìm cầu hạnh phúc. Hạnh phúc của anh không dừng lại ở sự giàu sang và hưởng thụ; hạnh phúc của anh không dừng lại ở tuổi trẻ tài cao; hạnh phúc của anh không dừng lại ở đứa con cưng Facebook; hạnh phúc của anh không dừng lại ở danh tiếng trọng vọng; và có lẽ hạnh phúc của anh cũng không dừng lại ở công tác từ thiện. Nhưng anh có tất cả. Và tất cả đã tạo ra cho anh một hạnh phúc bao la, không biên giới.

Có lẽ đối với anh thế giới này là một thực thể duyên sinh nên anh đã và đang tìm cách kết nối thành một mối tương quan sinh tồn, điển hình được thấy qua mạng xã hội Facebook mà anh làm chủ, cũng như qua công tác từ thiện mà anh đã dấn thân. Nếu nhìn được như vậy, anh đúng là đang thực hành bồ-tát hạnh, và lấy con người và thế giới này làm môi trường tốt để nuôi dưỡng cho mình một hạnh phúc cao cả.[3)

Không phải vô cớ mà chàng trai 26 tuổi Zuckerberg được tạp chí Time (Mỹ) ưu tiên dành cho danh hiệu “Nhân vật của năm 2010” dù tên tuổi của anh được truy cập trên xa lộ thông tin online thua xa Julian Assange, chủ trang Wikileaks, người đã làm xáo trộn ngoại giao quốc tế. Điều này cho thấy cái thiện được tôn vinh. Đáng nói là danh hiệu đó của anh được hầu hết cư dân mạng tán đồng và hết lòng ngưỡng mộ. Hạnh phúc chân thật đang chào đón những ai sống với tâm từ bi và trí tuệ như ông chủ Facebook này.

Hồi ký tháng 6: Định tâm–Triết Vấn–Hồi hướng–Thệ nguyện


Cách đây mấy tháng tôi có dịp nói chuyện và tranh cãi với mấy anh bạn thân, sau khi nói về các Đạo trên đời mới nói với tôi thế này.

“Đạo Lão có trước cả Đạo Phật”, một anh lại nói “Đạo Thiên Chúa hoặc Tiên Lành có trước Đạo Phật”, còn một anh không theo đạo lại nói “Hình như Đạo Ba-la-môn, sa-môn hoặc Hồi giáo có trước”.

Một anh bạn đã từng cùng làm việc với tôi ở Ấn Độ thì lại mỉm cười và nói rằng: “Nếu tôi không nhầm thì đạo Ấn có trước rồi đến đạo Phật/ đạo của người Hindu có sau…”

Tranh cãi một hồi, tôi mới giải thích lý lẽ của mình như sau:

1. Đạo Lão là do Lão Tử xây dựng, sáng lập lên Đạo giáo Ông viết cuốn “Đạo Đức Kinh” và thời gian là thế kỷ thứ 4 hoặc thế kỷ thứ 6 TCN.

2. Các đạo khác ra đời đều ở các mốc thời gian sau đạo Phật như: Đạo Ấn Độ giáo, Đạo Sikh, Jah, Đạo thiên chúa: 0, Đạo Do Thái, Đạo Cơ đốc giáo, Đạo Hồi: thế kỷ thứ 7 SCN. Và tất cả các đạo trên đều nói về khái niệm một Đấng tối cao có tên khác nhau phụ thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi con người về VỊ THẦN này.

3. Đạo Phật là giáo lý của Phật A-di-đà, là tôn giáo lớn trên thế giới, được sáng lập vào thế kỷ thứ 5 TCN, người Việt gọi là Ông Bụt là phát âm của từ “Budha” nghĩa là Phật, người giác ngộ chân ngôn, người hiểu nguyên lí của vạn vật. Phật giáo không bắt nguồn từ một vị tối cao nào cả mà bắt nguồn từ những con người có Phật tánh, cái TA thông suốt, chân chính, sáng suốt,  Ðạo Phật gồm tất cả tự lợi và lợi tha, tự giác, giác tha và có công hạnh độ mình, độ người được hoàn toàn thành tựu, rốt ráo viên mãn.

Sau lời tôi nói, Anh bạn theo đạo Khổng tử vẫn cho rằng đạo Lão tử vẫn có trước vì theo tư liệu Ông ấy sinh ra có lẽ trước Phật tổ Như Lai. (trích dẫn: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A3o_T%E1%BB%AD).

Tôi lập luận thế này:

– Thực tế trong các Truyện ký lịch sử Trung Quốc, cái mong muốn của Trung Quốc là cái gì họ cũng phải có trước, lịch sử phải hoành tráng nhất, hùng mạnh nhất nhưng thực tế không phải vậy.

– Trong sử ký Tư Mã Thiên, Ông Lão Tử được xuất hiện ở thời “Bách gia Chư tử” và đời đầu “Chiến quốc” do đó chỉ là thế kỷ thứ 4 TCN, nếu là ở thời Nhà Chu thế kỷ thứ 6 TCN thì sao có thể cùng thời với Khổng tử để đàm đạo triết học Trung quốc được, thời mà Nhà Chu bắt đầu tan rã và chuyển sang Xuân Thu Chiến Quốc.

– Các vị Chư Phật, Bồ Tát đều có truyền thuyết lịch sử rất lâu đời, và còn có trước cả thuyết kinh của Đức Phật A-di-đa, ví như: Phật Nghìn tay nghìn mắt, Quán thế Âm Bồ Tát tự tại, Bồ Tát Di Lạc, Địa Tạng Vương Bồ Tát…

Phat_Nghintay_NghinMat

Anh Bạn vẫn không đồng ý, vì cho là tôi đang dẫn nhập ví dụ trong nội dung Kinh sách thì khó so sánh đúng sai vì nó là Thuyết pháp để dẫn nhập người đọc, người nghe thôi.

Tôi phải nói thế này: Kinh phật khác xa so với các Kinh khác ở chỗ: nó là Chân Ngôn, lời tuyên nguyện mà mỗi người phải quy y cửa phật là: Không nói dối, nói ác khẩu, khinh miệt Phật, Pháp, Tăng. Do đó, những cuốn Kinh của Phật viết là Chân Ngôn, cao siêu, nhưng có Chân lý tuyệt đối, Là tướng Chân thật của Công đức, một lòng trang nghiêm vô cùng, người theo Đạo Phật cũng đều mong muốn thành Chính Giác, chính quả. Không được phép nghi ngờ điều Phật dậy chỉ được mạn đàm để cho tỏ tường mà thôi.

—————————————————————-

Tiện có Kinh Vô Lượng Thọ trong đầu tôi viết ra cho các bạn xem luôn:

– Danh sách có 54 tư vị phật kế nhau xuất thế:

Vào thủa quá khứ vô lượng bất khả tư nghì vô số kiếp lâu xa về trước

1.  Nhiên Đăng Như Lai.

2. Quang Viễn Như Lai.

3. Nguyệt Quang Như Lai.

4. Chiên Đàn Hương Như Lai.

5. Thiện Sơn Vương Như Lai.

6. Tu-di Thiên Quang Như Lai.

7. Tu-Di Đẳng Diệu Như Lai.

8. Nguyệt Sắc Như Lai.

9. Chánh Niệm Như Lai.

10. Ly Cấu Như Lai

11. Vô  Trước Như Lai.

12. Long Thiên Như Lai.

13. Dạ Quang Như Lai.

14. An Minh Đảnh Như Lai.

15. Bất Động Địa Như Lai.

16. Lưu Ly Diệu Hoa Như Lai.

17. Lưu Ly Kim Sắc Như Lai.

18. Kim Tạng Như Lai.

19. Diễm Quang Như Lai.

20. Diễm Căn Như Lai.

21. Địa Chủng Như Lai.

22. Nguyệt Tượng Như Lai.

23. Nhật Âm Như Lai.

24. Giải Thoát Hoa Như Lai.

25. Trang Nghiêm Quang Minh Như Lai.

26. Hải Giác Thần Thông Như Lai.

27. Thủy Quang Như Lai.

28. Đại Hương Như Lai.

29. Ly Trần Cấu Như Lai.

30. Xả Yếm Ý Như Lai.

31. Bảo Diễm Như Lai.

31. Diệu Đảnh Như Lai.

32. Dũng Lập Như Lai.

33. Công Đức Trì Tuệ Như Lai.

34. Tế Nhật Nguyệt Quang Như Lai.

35. Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang Như Lai.

36. Vô Thượng Lưu Ly Quang Như Lai.

37. Tối Thượng Thủ Như Lai.

38. Bồ Đề Hoa Như Lai.

39. Nguyệt Minh Như Lai.

40. Nhật Quang Như Lai.

41. Hoa Sắc Vương Như Lai.

42. Thủy Nguyệt Quang Như Lai.

43. Trừ Si Minh Như Lai.

44. Độ Cái Hạnh Như Lai.

45. Tịnh Tín Như Lai.

46. Thiện Tú Như Lai.

47. Uy Thần Như Lai.

48. Pháp Tuệ Như Lai.

49. Loan Âm Như Lai.

50. Sư Tử Âm Như Lai.

51. Long Âm Như Lai.

52. Xử Thế Như Lai.

53. Thế Tự Tại Vương Như Lai.

54. Vô Lượng Thọ – Vô Lượng Quang Phật – Pháp Tạng Phật – Vô Biên Quang Phật – Vô Ngại Quang Phật – Vô Đối Quang Phật – Diễm Vương Quang Phật – Thanh Tịnh Quang Phật – Hoan Hỷ Quang Phật – Trí Tuệ Quang Phật – Bất Đoạn Quang Phật – Nan Tư Quang Phật – Vô Xưng Quang Phật – Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật – Phật Tổ Như Lai.

Adidaphat

Vậy thì có quá nhiều thời gian để nói rằng trước Phật Vô Lượng Thọ tức A-di-đà Phật còn rất nhiều vị Phật khác (gọi là thời kỳ Cổ Phật).

– 48 Đại Nguyện của phật A-di-đa

– Danh sách Bồ – Tát độ về Tây Phương Cực Lạc:

1. Đức Phật Viễn Chiếu có 180 ức Bồ Tát.

2. Đức Phật Bảo Tạng có 90 ức Bồ Tát.

3. Đức Phật Vô Lượng Âm có 220 ức Bồ Tát.

4. Đức Phật Cam Lộ Vị có 250 ức Bồ Tát.

5. Đức Phật Long Thắng có 14 ức Bồ Tát.

6. Đức Phật Thắng Lực có 14.000 ức Bồ Tát.

7. Đức Phật Sư Tử có 500 ức Bồ Tát.

8. Đức Phật Ly Cấu Quang có 80 ức Bồ Tát.

9. Đức Phật Đức Thủ có 60 ức Bồ Tát.

10. Đức Phật Diệu Đức Sơn có 60 ức Bồ Tát.

11. Đức Phật Nhân Vương có 10 ức Bồ Tát.

12. Đức Phật Vô Thượng Hoa có không thể tính kể số chư Bồ Tát, tất cả đều trụ ở vị bất thối chuyển có trí tuệ dũng mạnh, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, và ở trong bảy ngày liền có thể nhiếp thủ các Pháp kiên cố của bậc Đại sĩ tu trong trăm ngàn thiên ức kiếp.

13. Đức Phật Vô Úy có 790 ức đại Bồ Tát và nhiều vô kể tiểu Bồ Tát, Tỳ kheo.

Phat_a-di-da_Toa_thien

ĐỊNH TÂM:

Lúc này, tôi đang định hình mọi câu kệ, sám hối, hồi hướng, sở nguyện…

TA nay vì ham muốn hiểu biết về Phật pháp đã thu lượm lại để viết lại cho mọi người cùng tán thán sự hiểu biết thông tuệ và trí tuệ nhãn Vô lượng của Đức Phật.

TA nay sợ không còn lưu lại Kinh Vô Lượng Thọ bởi Đức Phật dậy “Ta vì lòng từ bi thương xót nên đặc biệt lưu lại Kinh này trên thế gian thêm 100 năm nữa”.

TA nay mong mọi thứ đều sẽ tùy ý như sở nguyện và đều được độ thoát.

TA càng nghe, càng đọc nhiều lần về Kinh Vô Lượng Thọ càng như mở thêm được “Luân Xa” trên đỉnh Não bộ, càng có khả năng điềm tĩnh chăm chú nghe được mọi người nói gì ?, suy nghĩ gì ?, quyết trí gì ?, diệt tập gì ?

TA đang có Trí và Nhãn như quyện vào nhau, nhìn mà không nhìn, nhắm mắt là Quán Tưởng, nhưng vẫn còn có Vọng tưởng nhiều chỗ còn chưa biết là Quán chuẩn hay là tạp Quán.

TA e vì còn Vọng tưởng nên  “Như lai xuất hiện ở đời, khó gặp khó thấy, Kinh Đạo của chư Phật, rất khó được nghe, Các Pháp Ba-la-mật thù thắng của chư Bồ Tát cũng khó mà nghe được, gặp Thiện Tri thức và có thể tu hành theo Pháp đã nghe, lại càng khó hơn.”

Vậy, sao TA không lùi bước nhỉ ?

TA đã nghe được Kinh Vô Lượng Thọ, một chút về Quán, về Diệt tội và Lợi ích khi nghe Kinh này, về Thế giới Phương Tây Cực Lạc, TA đêm nằm vuốt tay áp 2 bên Thái dương thấy được tư duy nghĩa ý, đả thông ý tứ với tra cứu Mạng Internet, Google Search và đã quyết Tin ưa Thọ Trì, đúng là khó trong cái khó, đúng là không có gì khó hơn việc này.

TA ngẫm Pháp của Như Lai là thực hành như vậy, tuyên nói như vậy, và giảng dạy như vậy gọi là “Tin, Yêu, Giáo Hóa, Duyên ắt gặp Thiện Tri Thức, Quyết Trí trở thành người có Đạo Pháp tu hành”.

 

TRIẾT VẤN:

Tôi đã hỏi Sư trụ trì chùa Bảo Ân – Trung Kính, Hà Nội rằng:

“Số Kinh của Đức Phật và các chư Bồ Tát là bao nhiêu sách ? và nếu nhiều như vậy, Trời Người làm sao đọc hết, nghe hết, đã không làm được thế sao hiểu và thực hành tu tập cho hết thẩy lời Đức Phật dậy được thù thắng ?”

Sư Bác trả lời:

Con hỏi như vậy có khác gì trong đời Người có bao nhiêu vị anh hùng, bao vị khoa học, Nhà văn, nhà thơ, Triết gia, Vĩ nhân đã để đời bằng bao nhiêu tác phẩm bất diệt. Bởi con đã từ bi hỉ xả mà tập trung Trí lực vào lời Phật dậy, đọc nhiều hiểu nhiều, ham muốn hiểu về Kinh phật nên nghĩ là vậy. Hãy để tự nhiên, tùy tâm để nghiệp dẫn theo. Con có khởi duyên thì được tiếp dẫn bởi vị Phật, chư Bồ Tát đó sẽ khởi sinh Tin Chân Ngôn nơi con. Con sẽ đọc Kinh, pháp của Vị đó nhiều hơn.

Tôi hỏi sư Bác:

“Tại sao trưa con nằm nghe kinh, đêm nằm đọc kinh, thầm đọc tụng theo kinh. Sau 2 năm con đã đọc và nghe tụng qua rất nhiều Bộ Tạng Kinh nhiều như không nhớ được là vì sao con không nhớ được ? nhưng có bộ Kinh con nhớ như in trong đầu ? và vì sao trong 7 ngày trước 5/5 âm lịch con lại có thể tự thấu tự hiểu được Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Đại Thừa, tiểu thừa vô cùng khó hiểu, huyền bí và hơn cả Mật Chú trong Kinh Phổ Môn, Kinh Pháp Hoa ?”

Sư Bác trả lời:

“Con nói đọc, nghe nhiều là bao nhiêu sách Kinh ? không nhớ rõ phải không. Đó là vì con chưa đắc quả vị bất thối chuyển, và vì con có nhiều công đức ở đời này đời trước, kiếp trước… Hiện tướng của con, ta nhìn ở tai của con, khuôn mặt con, giọng nói, tâm ý của con đã hiển 32 tướng tốt. Hiện thân của bậc A-La-Ham. Nhưng ta chưa nghe thấy hoằng thệ nguyện của con, chưa hiểu sở nguyện của con, cũng chưa biết ý Thân nghiệp của con nên không trả lời được vì sao 7 ngày trước 5/5 âm lịch con có thể làm được điều xưa nay hiếm có”.

Tôi trần tình với Sư Bác:

“Con nay mới có tâm nguyện, ngần này tuổi đời đã là đi nửa đời người: gần 20 năm học hành về ngành nghiên cứu Sinh học và Vi Sinh Vật học, cũng đã hiểu nhiều về cõi tự nhiên, nhưng nhiều thứ không lý giải được ngoại trừ Phật giáo. Cũng gần 20 năm nghiên cứu về Công nghệ thông tin, điện tử và viễn thông cũng đã hiểu ra ít nhiều về những phương tiện hiện đại để đạt mục đích trong cuộc đời này. Vậy nay con sắp bước sang tuổi nửa đời người nên đã quyết nghiên cứu, đọc tụng, tìm hiểu về Phật Pháp và giáo lý của Đức Phật, mong bá đạo tín ngưỡng được mở mang, mong Phật Giáo được đem vào Giáo dục cho con người Việt được nhiều lợi lạc hơn trước”.

Sư Bác trả lời:

“Lành thay, lành thay. Vậy là ta đã gặp con, một người vừa có Tâm, vừa có Trí nguyện, vừa có Trí tuệ để Giác ngộ ra nhiều điều lợi lạc từ Phật Pháp nhiệm màu, mong muốn của con cũng là người có Đức Tin giữ gìn sự trong sáng của cuộc đời.

Sở dĩ con đọc trì tụng Kinh có 7 ngày trước 5/5 âm lịch mà đã hiểu được nhiều về Kinh pháp nói gì ? nghĩa là con đã mở được “Luân Xa” trên đỉnh Não của con.

Con là người có nhiều kiến thức, biểu kiến khoa học, tư chất lại có Trí lực hơn người nên theo đuổi được 2 lĩnh vực khoa học khó và hiện đại, ít người theo kịp. Nhưng vì Trí lực con hơn người nên ham muốn kiến thức rộng lớn, phải làm nhiều, nhanh, mạnh, thậm trí là dũng mạnh nên con thường không suy xét cái ít, cái chậm, cái yếu, thậm trí là èo ợt và dễ sinh coi thường, chóng quên, buồn nản rồi bỏ qua. Ta nhìn thấu cái sự ngược đời đó ở Con, nên ta nói cho con hiểu vì sao con quên mặc dù Kinh con quý, con đọc ngày đọc đêm, nghe ngày nghe đêm nhưng vẫn quên.

Con đọc lúc nhớ lúc quên là do chưa khởi được tâm Thệ Nguyện, nên chưa biết dừng lại để làm cho Tâm Nguyện Hồi hướng bất thối chuyển, nên cái nhớ còn chưa được sâu thẳm, chưa sâu thẳm nên con còn quên.”

 

LĨNH HỘI:

Tương ứng lời Phật dậy Sư Bác đọc cho tôi bài kệ để giúp tôi luận:

TỊNH ĐỘ – QUÁN TƯỞNG – LÒNG BẤT THỐI CHUYỂN

Quán tưởng thật tướng thế giới Tự tại và thế giới Phật pháp

Vượt hơn 6 cõi trong Tam giới

Cứu cánh bao la như hư không.

Quảng đại rộng lớn vô biên tế

Sanh từ chính Đạo đại từ bi

Và từ thiện căn xuất thế gian

Thanh tịnh trong sáng viên mãn túc

Như là gương kính vầng nhật nguyệt

Thể tánh làm bằng các trân bảo

Cụ túc trang nghiêm vi diệu kỳ

Rực rỡ vô cấu ánh quang minh

Sáng trong chiếu diệu soi thế gian

Bảo tánh ví như cỏ công đức

Nhu nhuyễn mềm mại trái phải quay

Ai chạm vào thời được an vui.

Tiếng Chuông âm pháp tuyên thuyết của Phật

Vang vang tịnh độ lòng con nhẹ nhõm.

Yêu mến vui thích Phật Pháp vị

Thân tâm phiền não vĩnh dứt trừ

Thường luôn thọ vui chẳng gián đoạn

Do bởi căn lành nơi Đại Thừa

Bình đẳng không có tên khinh miệt

Hết thảy sở nguyện đều mãn túc

Vì thế con nay nguyện vãng sanh

A-di-đà Phật cõi Tịnh Độ

Trang nghiêm vô lượng đại bảo vương

Trời người thánh chúng trụ bất thối

Thanh tịnh từ biển trí tuệ sanh

Thù thắng vi diệu không ai bằng

Trời người đầy đủ tướng trượng phu

Vô cấu Pháp luân thường luôn chuyển

Hóa Phật Bồ Tát tựa mặt trời

Hiển thị Phật Pháp như Phật đà.

Phat_A-di-da_NhapNietban

Con nay viết bài Hồi ký (bài kệ) này Nguyện sẽ kiến thấy Đức Phật A-Di-đà và cùng hết thảy các chúng sinh, những người con yêu thương để con biết nơi an vui, nơi họ đến sau khi Nhập Diệt.

Con mong họ đều đồng Vãng sinh An Lạc Quốc.

Như vậy, con đã dùng bài kệ trên để tổng trì, Trí Phát Nguyện của mình dựa trong Kinh Vô Lượng Thọ.

Hồi ký tháng 1: Đọc kinh phật


Vốn lo ngại vì trong đời mình không tự học được hết những điều cao, sâu, thâm thúy và quý giá của khoa học, lẽ phải cuộc đời. Tôi phải vội vàng đi sưu tầm từ những kỷ vật của những chuyến đi xa, nước ngoài, nước trong…

Vậy mà, sau hơn 12 năm nhìn lại, tôi thấy phần lớn là Tượng các vị phật: Quán thế Âm Bồ tát tự tại, Phật A-di-đà, ảnh Phật Tổ như lai, Bồ tát Thánh hiền, Sách về phật, những bộ Kinh thư, CD, DVD… còn những thứ khác thường bị hỏng, bụi bặm và chỉ còn vài thứ làm kỷ niệm và tôi ít để ý đến chúng.

Tôi đã có nhiều dịp đàm đạo với các vị Tỳ kheo ở các chùa Hà nội, Hồ Chí Minh và đã cho thấy nhiều điều “Nhân – quả”, những điều kì diệu chỉ được lí giải bởi duyên kiếp từ xa xưa của gia đình tôi, Ông bà tôi, Cha mẹ tôi, Anh em tôi. Đó là đức tin, lòng thành hướng Phật.

Lại nói về sự Chấp – trước của tôi, Tôi đã gặng hỏi các vị Sư: “

“Tại sao người ta phải Đọc kinh ? sao không đàm đạo chúng hoặc Dựng theo cảnh phim trường để có thể thấu hiểu Kinh ? “

Các Tỳ kheo có nói: Với thiền tông, mật tông việc Đọc kinh là để lặp đi lặp lại khả năng nhớ, nếu cả đời đọc kinh có lẽ vẫn chưa hết, nhưng tại vì Đọc là để thực hành theo lời Phật dậy.

Ý nghĩa thực hành:

– Đọc giúp chúng sinh không còn thời gian để Thân không làm điều ác, đánh chó, giết kiến…

– Đọc giúp chúng sinh không còn thời gian để Miệng không nói điều ác, dối lừa, chửi gà, mắng chó.

– Đọc giúp chúng sinh không còn thời gian để Tay, chân, miệng không làm điều tà dâm, nghiện ngập rượu chè,thuốc, sát sinh…

– Đọc giúp chúng sinh có thời gian ngộ ra bao điều, nghiền ngẫm cái sai, cái đúng và tìm ra Chân-ngôn.

– Đọc đi đọc lại là giúp chúng sinh bao kẻ có người thông minh đọc 1 hiểu mười, có kẻ đọc mãi rồi thì cũng hiểu, cũng ngộ ra. Vậy đọc là thứ không thể lười nhác, đọc là một sự tu tập để giúp loài người tìm đến Chân-thiện-mĩ.

Tôi tự sưu tầm sách kinh, đọc kinh và nghe giảng kinh:

TRƯỜNG-BỘ KINH

Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng

MỤC LỤC

Vài lời xin thưa trước.
Tam tạng kinh
điển
Về Trường Bộ Kinh

Stt

Trường Bộ

Ý chính

  I. Phẩm Giới-Uẩn  
01 Kinh Phạm Võng (Brahmajàla Sutta) Lưới Phạm-võng bao trùm 62 kiến-chấp
02 Kinh Sa-môn quả (Sàmanna-Phala Sutta) Các lợi-ích thiết-thực của Quả-vi Sa-môn
03 Kinh A-ma-trú (Ambbattha Sutta) Chớ hãnh-diện về dòng-họ và giai-cấp
04 Kinh Chủng Ðức (Sonadanda Sutta) Thế nào mới xứng danh là Bà-la-môn
05 Kinh Cứu-la-đàn-đầu (Kutadanta Sutta) Cách tế-lễ được nhiều phước-đức.
06 Kinh Ma-ha-li (Mahàli Sutta) Thắc-mắc về Thiên-âm và về mạng-căn.
07 Kinh Xa-li-da (Jàliya Sutta)  
08 Kinh Ca-diếp Sư tử hống (Kassapa-Sihanàda Sutta) Thiếu-sót của việc tu Phạm-chí khổ-hạnh quá ép-xác
09 Kinh Bố-sá-ba-lâu (Potthapàda Sutta) Cách diệt-tận các tư-tưởng.
10 Kinh Tu-ba (Subha Sutta) Ba Thánh-uẩn: Giới, Định, Huệ.
11 Kinh Kiên-cố (Kevaddha Sutta) Ba loại Thần-thông, thắc-mắc về tứ-đại.
12 Kinh Lô-già (Lohicca Sutta) Phá tà-kiến ‘đừng nói pháp cho kẻ khác’.
13 Kinh Tam Minh (Tevijja Sutta) Con đường thẳng-tắp đi đến cõi Trời Phạm.
  II. Đại phẩm  
14 Kinh Ðại Bổn (Mahà-Padàna Sutta) Huyền-sử về đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassi)
15 Kinh Ðại Duyên (Mahà-Nidàna Sutta) Pháp Duyên-Khởi
16 Kinh Ðại Bát-niết-bàn (Mahà-Parinibbàna Sutta) Các ngày cuối-cùng của Phật Thích-ca
17 Kinh Ðại Thiện Kiến Vương (Mahà-Sudassana Sutta) Tiền-thân đức Phật là vua Đại-Thiện-Kiến.
18 Kinh Xa-ni-sa (Janavasabha Sutta) Nhờ tu theo Pháp Phật được tái-sanh cõi Trời
19 Kinh Ðại Ðiên-tôn (Mahà-Govinda Sutta) So-sánh lối tu lên Trời và pháp-tu giải-thoát
20 Kinh Ðại Hội (Mahà-Samaya Sutta) Tên chư Thiên đến hội để chiêm-ngưỡng Phật
21 Kinh Ðế-thích Sơ Vấn (Sakka-Tanha Sutta) Vua Trời hỏi Phật 6 câu về sân giải-thoát.
22 Kinh Ðại Niệm Xứ (Mahà-Satipatthàna Sutta) Bốn phép quán-niệm: thân, thọ, tâm, pháp.
23 Kinh Tệ Túc (Pàyàsi Sutta) Phá tà-kiến ”chẳng có Luân-hồi, quả-báo”.
  III. Phẩm Ba-lê-tử  
24 Kinh Ba-lê (Pàtika Sutta) Thần-thông Khởi-nguyên của thế-giới
25 Kinh Ưu-đàm-bà-la Sư Tử Hống (Udumbarika-Sihanàdà Sutta) Tà-giáo chẳng biết nghe lời giảng-dạy như sư-tử rống của đức Phật.
26 Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống (Cakkavatti Sihanàda Sutta) Vua Chuyển-Luân là bực tu-hành Thánh-vương, vì trị nước theo Chánh-Pháp.
27 Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Agganana Sutta) Thế-giới: từ sơ-khai đến lúc thành bốn giai-cấp.
28 Kinh Tự Hoan Hỷ (Sampasàdaniya – Suttanta) Lời ngưỡng-mộ Thế-Tôn, bực giác-ngộ vĩ-đại nhứt
29 Kinh Thanh Tịnh (Pàsàdika Sutta) Khác phái loã-thể, Chánh Pháp đưa tới thanh-tịnh.
30 Kinh Tướng (Lakkhana Sutta) 32 tướng đại-trượng-phu do công-đức tu đời trước
31 Kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (Singàlovàda Sutta) Lễ sáu phương và các bổn-phận ở nhà, xã-hội
32 Kinh A-sá-nang-chi (Atànàtiya Suttanta) Bản Hộ-Kinh giúp hộ-vệ các Tỳ-kheo.
33 Kinh Phúng Tụng (Sangiti Sutta) Xếp Phật-pháp ra 10 loại từ 1 pháp tới 10 pháp
34 Kinh Thập Thượng (Dasuttara Sutta) 100 pháp xếp ra 10 loại với tiêu-chuẩn Thập Thượng.

Vài lời xin thưa trước

1) Kinh Phật vừa cao-siêu vừa phong-phú, có lẽ để cả đời cũng chưa đọc hết, hiểu thấu, và thực-hành theo cho thật đầy-đủ. Muốn có được một cách nhìn tổng-quát, chính-xác rõ-ràng, cần phải có một bản tóm-lược vừa gọn, vừa trung-thực. Những trang sau đây là một cố-gắng nhỏ trong việc đi tìm một lối đi nhẹ-nhàng mà chắc-chắn theo con đường giác-ngộ và giải-thoát mà đấng Từ-phụ đã khai-quang.

2) Kinh Phật ghi lời vàng của Thế-Tôn, chẳng nên vì bất cứ lý-do gì sửa-đổi lời văn, thêm-bớt ý-tưởng khác vào, cho ngắn-gọn hơn; làm như thế là tỏ ra sự bất-kính đối với bậc Đại-Giác. Vì thế, đừng bao giờ tạm vừa-ý với các trang sau đây mà chẳng tìm dịp thuận-tiện đọc kỹ lại các bản Kinh trong Đại-Tạng.

3) Nếu các trang sau đây được xem như những bản nháp tạm dùng trong việc tìm hiểu và học tập Kinh Phật, thì đó thật là một hân-hạnh rất lớn-lao cho người viết.

TRƯỜNG-BỘ KINH

001. TAM TẠNG KINH-ĐIỂN.

Giáo-Pháp của đức Phật được kết-tập lại thành Tam Tạng Kinh-Điển (Tipitaka) (tam tạng = ba cái giỏ đựng Kinh-sách), gồm có: (1) Luật-tạng, (2) Kinh-tạng, (3) Luận-tạng.

Luật-tạng ghi lại các giới-cấm của đức Phật dạy các Tỳ-kheo phải tuân theo. Kinh-tạng gồm rất nhiều bản Kinh do Phật thuyết-giảng về đường lối tu-hành. Luận-tạng bàn rộng thêm các vấn-đề được nói đến trong Kinh-tạng.

002. TRƯỜNG-BỘ KINH.

Đại-Tạng Việt-Nam, hệ Pali, riêng phần Kinh-kệ, gồm có năm Bộ-kinh lớn:

1. Trường-Bộ Kinh (Digha Nikaya),

2. Trung-Bộ Kinh (Majjhima Nikaya),

3. Tương-Ưng-Bộ Kinh (Samyutta Nikaya)

4. Tăng-Chi-Bộ Kinh (Anguttara Nikaya),

5. Tiểu-Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya).

Trường-Bộ Kinh là bộ Kinh thứ nhứt trong Hệ Pali, Phật-Giáo Nguyên-Thủy, được Viện Nghiên-Cứu Phật-Học Việt-Nam ấn hành năm 1991, do Hoà-thượng Thích Minh-Châu soạn bản Việt-văn.

Trường-Bộ Kinh phân ra làm 3 Phẩm (Vagga), gồm có 34 bản Kinh; vì nội-dung mỗi bản Kinh khá dài so với các bản Kinh Phật khác, nên được kết-tập lại dưới nhan-đề Trường-Bộ Kinh.

1. Phẩm Giới-Uẩn (Silakkhandha Vagga Pali): 13 bản Kinh giảng về các cấp giới-luật: tiểu-giới dành cho mọi người; trung-giới đại-giới dành cho bực tu-hành cao.

2. Đại-Phẩm (Mahà Vagga Pali): 10 bản Kinh quan-trọng nhứt về lịch-sử (như Kinh Bát-Đại Niết-bàn, Kinh Đại Bổn) và về giáo-lý (như Kinh Đại Duyên, Kinh Tứ niệm xứ).

3. Phẩm Ba-lê-tử (Pathika Vagga Pali) (Patikaputta, Ba-lê-tử là tên một tu-sĩ ngoại-đạo): 11 bản Kinh bàn về các vấn-đề khác nhau như vấn-đề vũ-trụ thành-hoại, vấn-đề bổn-phận công-dân trong xã-hội, vấn-đề tu khổ-hạnh của ngoại-đạo.

Sau đây, xin tóm-tắt nội-dung các bản Kinh, thuộc Trường-Bộ Kinh, theo thứ-tự được ghi trong ba Phẩm kể trên.

-ooOoo-

I. PHẨM GIỚI-UẨN

1. KINH PHẠM-VÕNG

003. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT THUYẾT KINH PHẠM-VÕNG?

Vào một thời kia, đức Phật và các Tỳ-kheo đang đi trên đường từ thành Vương-Xá đến làng Nalanda, có hai du-sĩ ngoại-đạo theo sau, thầy là Suppiya và trò là Brahmadatta, đang cãi nhau: thầy thì hủy-báng Phật, Pháp, Tăng; còn trò thì hết lòng tán-thán ngôi Tam Bảo.

Nhơn thấy các Tỳ-kheo bàn-luận về việc nầy, đức Phật khuyên các Tỳ-kheo khi nghe ai hủy-báng Phật, Pháp, Tăng, chớ nên tức-tối, phiền-muộn, mà có hại cho tâm mình. Còn khi nghe lời tán-thán ngôi Tam Bảo, cũng chớ có quá hoan-hỉ, thích-thú, vì sẽ gây trở ngại cho đường tu. Thái-độ đứng-đắn là phải nói lên sự-thật cho họ biết: trong lời hủy-báng, vạch ra chỗ nào là chẳng chính-xác; trong lời tán-thán, chỉ rõ điểm nào đã thật-sự xảy ra.

Đức Phật lại bảo, phàm-phu khi tán-thán Phật, thường nói đến các ”vấn-đề không quan-trọng, nhỏ-nhặt, chỉ thuộc về giới-luật”. Còn các bực biết tán-thán Như-Lai một cách chân-chánh thì mới nói đến ”các pháp khác, sâu-kín, khó chứng, tịch-tĩnh, mỹ-diệu, vượt ngoài tầm lý-luận suông, chỉ những người trí mới nhận hiểu, chỉ có bực Như-Lai mới tự chứng-tri, giác-ngộ và truyền-thuyết”.

Do đó, Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã lôi kéo con người vào vòng sanh-tử khổ-đau của Luân-hồi.

004. NỘI-DUNG KINH PHẠM-VÕNG.

A. Ý chánh: PHẠM-VÕNG nghiã là: Phạm là cõi trời Phạm (Brahma); Võng là lưới; phạm-võng là màn lưới ở cõi Trời Phạm bao trùm cả vũ-trụ. Tựa như một mẻ lưới lớn quăng xuống hồ bắt trọn hết các loài cá tôm, Kinh Phạm-Võng nầy bao trùm được hết tất cả 62 kiến-chấp; chỉ có các bực ”Như-Lai đã giác-ngộ chẳng còn chấp-thủ, (mới) được hoàn-toàn giải-thoát” (khỏi các tà-kiến đó).

B. Phân đoạn: Nội dung bản Kinh rất dài, có thể chia ra ba phần: (1) các giới-luật; (2) các kiến-chấp; (3) nguyên-nhân vướng vào các kiến-chấp đó và cách vượt thoát.

1. Các giới-luật là các điều răn-cấm, gồm có ba cấp: Tiểu-giới dành cho kẻ tu-hành thấp; Trung-giới Đại-giới dành cho bực tu-hành cao.

2.- Các kiến-chấp là các tà-kiến khiến nghiệp-lực lôi-kéo kẻ dính mắc phải trôi-lăn mãi trong cõi Luân-hồi. Có tất cả 62 kiến-chấp: 18 kiến-chấp liên-quan về quá-khứ và 44 kiến-chấp liên-quan về tương-lai.

3.- Nguyên-nhân vướng vào các kiến-chấp là sự chấp-thủ vào các kinh-nghiệm do sự xúc-cảm của các căn gây nên các cảm-thọ, rồi từ thọ đến ái, từ ái đến thủ (tức là sự chấp-thủ). Nếu biết như-thật các cảm-thọ: sự tập-khởi, sự diệt-trừ, vị ngọt, sự nguy-hiểm và sự xuất-ly khỏi chúng, sẽ vượt ra ngoài các kiến-chấp đó.

005. BA CẤP GIỚI-LUẬT.

Tiểu giới: chẳng sát-sanh, chẳng trộm-cắp, chẳng tà-hạnh, chẳng nói dối, chẳng nói hai lưỡi, chẳng nói độc-ác, chẳng nói điều vô-nghiã, chẳng ăn phi-thời, chẳng xem múa hát, chẳng nằm giường cao, chẳng nhận vàng bạc, chẳng nhận nô-tỳ, chẳng nhận gia-súc, ruộng vườn, chẳng làm môi-giới, chẳng hối-lộ, chẳng lừa đảo.

Trung giới: chẳng làm hại các hột giống, chẳng cất chứa thức ăn và đồ dùng, chẳng dự các trò du-hí, các trò giải-trí, chẳng dùng chăn len, nệm bông,

chẳng dùng đồ trang-sức, chẳng bàn phiếm về thời-sự, chẳng biện-luận, tranh-chấp, chẳng đưa tin-tức hoặc nói lời siểm-nịnh để cầu lợi.

Đại giới: tránh xa các tà-hạnh như xem tướng, đoán mộng, dùng bùa-chú, tránh xa các tà-mạng như tiên-đoán thời-sự, chiêm-tinh, thời-tiết, coi ngày giờ tốt xấu, dùng các ảo-thuật, chữa trị bịnh, để nuôi mạng sống, mặc dầu đã nhận của tín-thí.

Kinh nói: ”… đấy là những vấn-đề không quan-trọng, nhỏ-nhặt, chỉ thuộc giới-luật mà kẻ phàm-phu dùng để tán-thán Như-Lai.”

006. SÁU MƯƠI HAI KIẾN-CHẤP.

Sáu mươi hai loại kiến-chấp bị bao-trùm cả trong màn lưới Phạm-Võng, gồm có:

– 18 kiến-chấp về quá-khứ,

– 44 kiến-chấp về tương-lai.

Mười tám kiến-chấp về quá-khứ có:

– 4 luận-chấp về Thường-trú-luận;

– 4 luận-chấp về Thường, Vô-thường-luận;

– 4 luận-chấp về Hữu-biên, Vô-biên-luận

– 4 luận-chấp về Ngụy-biện-luận;

– 2 luận-chấp về Vô-nhân-luận.

Bốn mươi bốn kiến-chấp về tương-lai có:

– 16 luận-chấp về Hữu-tưởng-luận;

– 8 luận-chấp về Vô-tưởng-luận;

– 8 luận-chấp về Phi-hữu tưởng phi-vô tưởng;

– 7 luận-chấp về Đoạn-diệt-luận;

– 5 luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận.

007. MƯỜI TÁM KIẾN-CHẤP VỀ QUÁ-KHỨ.

Các kiến-chấp liên-quan đến quá-khứ: gồm có 18 luận-chấp về quá-khứ do chủ-trương của các Sa-môn, Bà-la-môn, nhờ nhập định mà nhớ lại được đời, kiếp trước (một kiếp có nhiều đời):

* 4 luận-chấp về Thường-trú-luận: cho rằng thế-giới bản-ngã chúng-sanh đều thường-còn mãi mãi:

– trường-hợp 1: vì nhớ được nhiều đời trước;

– trường-hợp 2: vì nhớ được nhiều kiếp trước;

– trường-hợp 3: vì nhớ được nhiều thành-kiếp, và hoại-kiếp trước (thành, hoại-kiếp có nhiều kiếp);

– trường-hợp 4: vì dựa theo óc suy-luận.

* 4 luận-chấp về Thường-trú-luận Vô-thường-luận: cho rằng thế-giới và bản-ngã vừa thường-trú với một hạng chúng-sanh, vừa vô-thường với các hạng chúng-sanh khác:

– trường-hợp 1: từ cõi Quang-âm thiên có vị hữu-tình sanh sang cung Phạm-thiên trước nhứt, tự cho mình là chúa-tể, coi các chúng-sanh khác, sanh sau, là con cháu của mình. Vị Đại-Phạm-Thiên đó có mạng sống lâu dài, sắc-tướng đẹp-đẽ, uy-quyền rộng lớn, nên được xem là thường-hằng; còn các chúng-sanh khác thì vô-thường, phải chịu sự biến-dịch.

– trường-hợp 2: từ cõi Trời Phạm, có hạng chư Thiên vì mê-say dục-lạc, nên bị ô-nhiễm, thác-sanh xuống cõi nhơn-gian. Nhờ biết tu-hành, nhập-định, nhớ lại đời trước, nên chủ trương rằng, chư Thiên nào không say-mê dục-lạc, không bị thác-sanh thì thường-hằng; còn kẻ bị ô-nhiễm thì vô-thường.

– trường-hợp 3: cũng từ cõi Trời Phạm, có hạng chư Thiên tâm-trí bị ô-nhiễm vì đố-kỵ, nên thác-sanh xuống cõi nhơn-gian. Nhờ biết tu-hành, nhập-định, nhớ lại đời trước, nên chủ trương rằng, chư Thiên nào tâm-trí chẳng bị đố-kỵ ô-nhiễm, chẳng thác-sanh, nên thường-hằng; còn ai bị ô-nhiễm tâm-trí thì vô-thường.

– trường-hợp 4: các nhà suy-luận nhờ sự thẩm-sát, cho rằng cái gì thuộc về sắc-thân thì chẳng kiên-cố, nên vô-thường; còn những gì thuộc về tâm-thức , về bản-ngã thì thường-hằng.

* 4 luận-chấp về Thế-giới hữu-biên, hay vô-biên: (hữu-biên = có giới-hạn; vô-biên = chẳng có giới-hạn)

– trường-hợp 1: cho rằng khi nhập-định thì thấy thế-giới nầy có con đường chạy vòng quanh, cho nên đó là hữu-biên;

trường-hợp 2: cho rằng khi nhập-định lại thấy thế-giới nầy chẳng có giới-hạn, cho nên vô-biên;

trường-hợp 3: cho rằng khi nhập-định thì thấy thế-giới nầy vô-biên theo chiều ngang, và có giới-hạn ở bên trên và bên dưới, vì vậy cho nên vừa hữu-biên, vừa vô-biên.

– trường-hợp 4: dùng lý-luận, có vị cho rằng thế-giới nầy chẳng phải hữu-biên, chẳng phải vô-biên,

chẳng phải vừa hữu-biên, vừa vô-biên. Thế-giới nầy, thật ra, chẳng phải hữu-biên, cũng chẳng phải vô-biên.

* 4 luận-chấp về Ngụy-biện (”trườn uốn như con lươn”): do chẳng biết như-thật, nên dùng lời ngụy-biện lẫn tránh câu trả lời dứt-khoát, như:”Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế.” Bốn trường-hợp ngụy-biện là:

– trường-hợp 1: vì sợ sai-lầm;

– trường-hợp 2: vì sợ bị chấp-thủ;

– trường-hợp 3: vì sợ bị thử-thách;

– trường-hợp 4: vì ngu-si

* 2 luận-chấp về Vô-nhân-luận: cho rằng thế-giới nầy và bản-ngã chẳng phải do nhân-duyên mà sanh ra (vô-nhân = chẳng vì nhân-duyên gì, tự-nhiên sanh ra):

– trường-hợp 1: có vị lấy lý-do là vì trước kia tôi chẳng có; nay tôi lại đang có; từ trạng-thái không có, nay tôi trở thành một loài hữu-tình, nên vô-nhân.

trường-hợp 2: các nhà biện-luận do sự biện-bác, tuyên-bố, Bản ngã và Thế-giới do vô-nhân sanh.

008. BỐN MƯƠI BỐN KIẾN-CHẤP VỀ TƯƠNG-LAI.

Các kiến-chấp liên quan đến tương-lai gồm có 44 luận-chấp sai-lầm về tương-lai, được phân ra:

– 16 luận-chấp Hữu-tưởng-luận;

– 8 luận-chấp về Vô-tưởng-luận;

– 8 luận-chấp về Phi-hữu-tưởng, phi-vô-tưởng luận

– 7 luận-chấp về Đoạn-diệt-luận;

5 luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận;

Các kiến-chấp nầy là chủ-trương sai-lạc về tương-lai do các Sa-môn, Bà-la-môn dựa vào các cảm-thọ được kinh-nghiệm qua sáu căn khi tiếp-xúc với sáu trần, rồi vì tham-ái mà sanh ra chấp-thủ.

009. MƯỜI SÁU LUẬN-CHẤP VỀ HỮU-TƯỞNG.

16 luận-chấp về Hữu-tưởng-luận chủ-trương, sau khi chết, bản-ngã con người còn có tưởng:

– bản-ngã có sắc, chẳng bịnh, sau khi chết còn có tưởng;

– bản-ngã chẳng có sắc, …;

– bản-ngã có sắc, cũng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã cũng chẳng có sắc, cũng chẳng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã là hữu-biên, …;

– bản-ngã là vô-biên, …;

– bản-ngã là hữu-biên và vô-biên, …;

– bản-ngã cũng chẳng hữu-biên, cũng chẳng vô-biên, …;

– bản-ngã là nhứt-tưởng, …;

– bản-ngã là dị-tưởng, …;

– bản-ngã là thiểu-tưởng, …;

– bản-ngã là vô-lượng-tưởng, …;

– bản-ngã là thuần-lạc, …;

– bản-ngã là thuần-khổ, …;

– bản-ngã là khổ-lạc, …;

– bản-ngã chẳng khổ, chẳng lạc, chẳng bịnh, sau khi chết có tưởng.

010. TÁM LUẬN-CHẤP VỀ VÔ-TƯỞNG.

8 luận-chấp về Vô-tưởng-luận chủ-trương bản-ngã chẳng có tưởng sau khi chết:

– bản-ngã có sắc, chẳng bịnh, sau khi chết chẳng có tưởng;

– bản-ngã chẳng có sắc, …;

– bản-ngã có sắc, cũng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã chẳng có sắc, cũng chẳng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã là hữu-biên, ….;

– bản-ngã là vô-biên, …;

– bản-ngã là hữu-biên và vô-biên, ….;

– bản-ngã là phi-hữu-biên và phi-vô-biên, chẳng bịnh, sau khi chết chẳng có tưởng.

011. TÁM LUẬN-CHẤP VỀ PHI-HỮU, PHI-VÔ TƯỞNG.

8 luận-chấp về Phi-hữu-tưởng, phi-vô-tưởng luận chủ-trương sau khi chết, bản-ngã chẳng phải có tưởng, cũng chẳng phải chẳng có tưởng:

– bản-ngã có sắc, chẳng bịnh, sau khi chết thì phi-hữu tưởng, phi-vô tưởng;

– bản-ngã chẳng có sắc, …;

– bản-ngã có sắc và cũng chẳng có sắc, …;

– bản-ngã phi-hữu sắc và cũng phi-vô sắc, …;

– bản-ngã là hữu-biên, …;

– bản-ngã là vô-biên, …;

– bản-ngã là hữu-biên và vô-biên, …;

– bản là phi-hữu biên và phi-vô biên, chẳng bịnh, sau khi chết thì phi-hữu tưởng, phi-vô tưởng.

012. BẢY LUẬN-CHẤP VỀ ĐOẠN-DIỆT.

7 luận-chấp về Đoạn-diệt-luận do các Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương rằng, bản-ngã của loài hữu-tình bị tiêu-hủy hoàn-toàn, chẳng còn gì, sau khi chết.

– vì bản-ngã có sắc, do bốn đại hợp thành, nên sau khi chết, thân hoại, chẳng còn gì nữa;

– vì còn có một bản-ngã khác, có sắc, có thiên-tánh, thuộc Dục-giới, nhưng sau khi chết, thân hoại, bản-ngã nầy cũng bị tiêu-diệt hết.

– vì còn có bản ngã khác nữa, có sắc, có thiên-tánh, thuộc Sắc-giới, nhưng sau khi chết, …;

– vì còn có bản-ngã khác nữa, chẳng có sắc, thuộc Không vô-biên-xứ, nhưng sau khi chết, …;

– vì còn có bản-ngã khác nữa, … , thuộc Thức vô-biên-xứ, nhưng sau khi chết, …;

– vì còn có bản-ngã khác nữa, … . thuộc Vô-sở-hữu-xứ, nhưng sau khi chết, …;

– vì còn có bản-ngã khác nữa, …, thuộc Phi-tưởng, phi phi-tưởng-xứ, nhưng sau khi chết, thân hoại, bản-ngã cũng bị tiêu-diệt hết.

013. NĂM LUẬN-CHẤP VỀ HIỆN-TẠI NIẾT-BÀN.

5 luận-chấp về Hiện-tại Niết-bàn-luận do các Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương rằng, trong hiện-tại bản-ngã của chúng-sanh có thể đạt tới cõi Niết-bàn tối-thượng:

– khi bản-ngã tận hưởng năm món dục-lạc (thú vui vật-chất) do các giác-quan mang đến;

– khi bản-ngã ấy biết lià xa các dục-lạc, đạt đến cõi Sơ-thiền;

– khi bản-ngã ấy … đạt đến cõi Nhị-thiền;

– khi bản-ngã ấy … đạt đến cõi Tam-thiền;

– khi bản-ngã ấy … đạt đến cõi Tứ-thiền.

014. CÁC PHÁP SÂU-KÍN GIÚP VƯỢT THOÁT KHỎI SÁU MƯƠI HAI KIẾN-CHẤP.

62 luận-chấp ( 18 kiến-chấp về quá-khứ và 44 kiến-chấp về tương-lai, vừa được liệt-kệ trên đây) do các Sa-môn, Bà-la-môn dựa theo kinh-nghiệm từ nơi các cảm-thọ gây nên bởi sự tiếp-xúc giữa sáu căn và sáu trần, đưa đến sự tham-ái, rồi từ tham-ái sanh ra chấp-thủ, khiến cho bị nghiệp-lực lôi-kéo vào các nẻo tái-sanh của Luân-hồi. Họ”bị bao trùm bởi màn lưới Phạm-Võng của sáu mươi hai luận-chấp nầy, dầu có nhảy vọt lên, cũng bị hạn-cuộc bao phủ ở đấy”.

Như-Lai nhờ chẳng chấp-trước vào các kiến-chấp đó, nội-tâm tịch-tĩnh, biết rõ như-thật sự tập-khởi, sự diệt-trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy-hiểm và sự xuất-ly của chúng, nên được hoàn-toàn giải-thoát. Đó là những ”pháp sâu-kín, khó thấy, khó chứng, tịch-tĩnh, mỹ-diệu, vượt ngoài tầm của lý-luận suông, tế-nhị, chỉ những người có trí mới có thể phận-biệt. Những pháp ấy, Như-Lai đã tự chứng tri, giác-ngộ và truyền-thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai như-thật chân-chánh tán-thán Như-Lai mới nói đến”.

015. HỌC-TẬP KINH PHẠM-VÕNG NHƯ THẾ NÀO?

1. HỌC KINH PHẬT chẳng phải là đọc sơ qua để biết Kinh nói về việc gì như đọc tiểu-thuyết, mà phải đọc-tụng thật nhiều lần, tìm hiểu rõ nghiã cạn, nghiã sâu nghiã ẩn của bản Kinh. Đọc và hiểu Kinh còn chưa đủ, cần phải biết cách áp-dụng vào đời sống hằng ngày để thực-tập. Kinh Phật chẳng những dạy ta các kiến-thức, Kinh còn dạy ta lối sống giải-thoát nữa, do đó học Kinh mà chẳng thực-hành thì thiếu-sót rất lớn, còn chưa biết hưởng lợi-lạc do Kinh mang đến.

2. Kinh Phạm-Võng nêu hai điểm quan-trọng:

a.- Các giới-luật trong Phật-học: tuy chia ra tiểu, trung đại-giới, nhưng người học Kinh Phật phải nhớ đó là các điều răn-cấm để tránh phạm các tội-ác, nên ráng giữ cho trọn, được giới nào cũng đều tốt cả.

b.- Các kiến-chấp, tuy gồm 62 luận-chấp sai-lầm, nhưng đều qui vào quá-khứ tương-lai. Chẳng cần học thuộc để nhớ hết cả, chỉ cần biết chúng đều do sự chấp-thủ mà ra; hễ chẳng bám-níu vào và đeo-đuổi theo các cảm-thọ nơi giác-quan, thì có hi-vọng tránh được hết.

3. Tuy Kinh Phạm-Võng chẳng nói đầy-đủ về nghiệp-lực đã dẫn-dắt chúng-sanh vào các nẻo Luân-hồi, người học Kinh Phật nên biết thêm rằng, gây ra nghiệp-lực là do lời nói (khẩu-nghiệp), hành-động (thân-nghiệp) và ý-nghĩ (ý-nghiệp). Sáu mươi hai kiến-chấp nói trong Kinh Phạm-Võng là những tà-kiến tạo thành ý-nghiệp — quan-trọng nhứt trong ba loại nghiệp — có lẽ vì thế mà trong Kinh-Tạng, Kinh Phạm-Võng đã được chọn làm bản Kinh đầu-tiên của Trường-Bộ Kinh.

(TN – Mtl, 2006-02-11).

-ooOoo-

2. KINH SA-MÔN QUẢ

016. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT THUYẾT KINH SA-MÔN QUẢ?

Vào một đêm rằm sáng trăng, vua A-xà-thế (Ajàtasattu) nước Ma-kiệt-đà (Magadha) đến chiêm-bái đức Phật, bấy giờ đang ngụ tại vườn xoài của ông Kỳ-bà (Jivaka) gần thành Vương-Xá. Sau khi thuật lại những lời của sáu vị sư-trưởng ngoại-đạo đã chẳng làm thoả-mãn câu hỏi của mình về lợi-ích của việc tu-hành, nhà Vua thỉnh đức Phật chỉ rõ các kết-quả thiết-thực trước mắt mà người tu-sĩ Phật-giáo có thể gặt hái được.

Nhơn đó, đức Phật đã giảng Kinh Sa-môn quả trình-bày đường-lối tu-hành của các Sa-môn cùng những thành-quả thâu-lượm được ngay trong hiện-đời.

017. NỘI-DUNG KINH SA-MÔN QUẢ.

A. Ý chánh: Sa-môn Quả nghiã là: Sa-môn, phiên-âm chữ Pali Sàmana, tu-sĩ Phật-giáo sống bằng cách khất-thực; Quả, thành-quả, kết-quả tốt thu-lượm được sau khi tu-tập đúng đường lối.

Trong Kinh Sa-môn quả, đức Phật sau khi nghe vua A-xà-thế thuật lại sự chẳng vừa-ý trước các lời phô-trương về đường-lối tu-tập chẳng có kết-quả rõ-ràng nào của sáu vị sư-trưởng ngoại-đạo, Ngài liền trình-bày đầy-đủ chi-tiết về các giai-đoạn tu-luyện của một vị Sa-môn, cùng các lợi-ích thiết-thực, hiện có trước mắt, ở mỗi giai-đoạn tu-chứng.

B. Phân-đoạn: Kinh Sa-Môn Quả rất dài, có thể chia ra làm ba phần:

1.- Sáu lý-thuyết của các giáo-phái ngoại-đạo chẳng làm thoả-mãn được vua A-xà-thế: (1) thuyết chẳng có nghiệp-báo, (2) thuyết luân-hồi tịnh-hoá; (3) thuyết đoạn-diệt; (4) thuyết bảy thân bất-hoại; (5) thuyết loã-thể với bốn cấm-giới; (6) thuyết ngụy-biện.

2.- Các lợi-ích của quả Sa-môn được đức Phật kể ra theo thứ-tự từ thấp đến cao: (1) được sự kính-nễ, (2) giữ được giới-đức đầy-đủ, (3) chế-ngự được các căn, (4) luôn luôn chánh-niệm tỉnh-giác, (4) sống biết đủ; (5) dẹp bỏ năm triền-cái, (6) lần-lượt chứng các cấp Thiền-định (7) đắc các thần-thông, (8) đạt được lậu-tận-trí; (9) thân-tâm và trí-tuệ hoàn-toàn giải-thoát.

3.- Nghe xong, vua A-xà-thế tán-thán công-đức của bản Kinh nầy, xin quy-y với Phật, Pháp, Tăng và xin sám-hối tội đã giết vua-cha. Đức Phật cũng vui lòng chứng-minh sự thú-tội ấy là đúng với Chánh-pháp.

018. LỢI-ÍCH TRƯỚC MẮT CỦA HẠNH SA-MÔN: ĐƯỢC MỌI NGƯỜI KÍNH-NỄ.

Đức Phật đưa ra thí-dụ, như có người nô-bộc của Vua, với lòng mến Đạo, xuất-gia đi tu làm Sa-môn, người ấy ”sống chế-ngự thân, lời nói, ý-nghĩ, bằng lòng với nhu-cầu tối-thiểu về ăn mặc, hoan-hỉ sống an-tịnh”. Đức Phật hỏi, nhà Vua có còn kêu vị Sa-môn đó trở lại làm nô-bộc như trước nữa chăng? Vua liền đáp: ”Không ! Chẳng những thế, ”con còn kính-lễ, bảo-vệ che-chở người ấy đúng theo luật-pháp.”

Đức Phật nói: ”Đó phải chăng là kết-quả thiết-thực hiện-tại của hạnh Sa-môn?”

019. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC VỀ GIỚI-ĐỨC CỦA HẠNH SA-MÔN.

Được Vua hỏi tiếp về các kết-quả thiết-thực khác, vi-diệu hơn nữa, của hạnh Sa-môn, đức Phật lần-lượt kể ra, theo thứ-tự từ thấp đến cao.

Trước hết, Ngài giảng thật tỉ-mỉ về Giới-Bổn Pàtimokkha (phiên-âm theo tiếng Hán-Việt là Ba-la-đề-mộc-xoa), gồm có: (1) tiểu-giới, (2) trung-giới và (3) đại-giới. (Các giới nầy đã được giảng rõ trong Kinh Phạm-Võng ở trước). Sa-môn giữ đúng theo ba cấp giới-luật đó, thì giới-hạnh được đầy-đủ và thanh-tịnh, nên ”hưởng lạc-thọ, nội-tâm chẳng vẩn-đục.”

(Giới được giữ-gìn đầy-đủ gọi là Cụ-túc-giới, giới-luật mà các Tỳ-kheo [có 250 giới], Tỳ-kheo-ni [có 348 giới] phải thọ-trì suốt đời).

020. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: CHẾ-NGỰ CÁC CĂN.

Thế nào là chế-ngự (hay hộ-trì) các căn? Đức Phật dạy: ”Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung và tướng riêng. Những nguyên-nhân nào … khiến tham-ái, ưu-bi, các bất-thiện-pháp khởi lên, Tỳ-kheo tự chế-ngự nguyên-nhân ấy, thực-hành sự hộ-trì nhãn-căn.”

Khi tai nghe tiếng, ...; mũi ngửi hương, …; lưỡi nếm vị, …; thân cảm xúc, …; ý nhận-thức pháp, …; vị ấy cũng chẳng nắm giữ tướng chung và tướng riêng …

”Nhờ sự hộ-trì cao qúi các căn, vị ấy hưởng lạc-thọ, nội-tâm chẳng vẩn-đục.”

021. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: CHÁNH-NIỆM TỈNH-GIÁC VÀ SỐNG BIẾT ĐỦ.

Thế nào là chánh-niệm tỉnh-giác? Đức Phật dạy: ”Tỳ-kheo khi đi tới , đi lui, đều tỉnh-giác; … khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh-giác; … khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im-lặng, đều tỉnh-giác …”

Thế nào là sống biết đủ? Đức Phật dạy: ”Tỳ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất-thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng mang theo …”

Vị ấy với giới-uẩn cao qúi, với sự hộ-trì các căn, với chánh-niệm tỉnh-giác, với hạnh biết đủ … nên hưởng được lạc-thọ, nội-tâm chẳng vẩn-đục.

022. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: XẢ-LY NĂM TRIỀN-CÁI.

Thế nào là năm triền-cái? Năm triền-cái là năm sự ngăn-che trí-huệ, gồm có: (1) tham, (2) sân, (3) thụy-miên (=mê ngủ), hôn-trầm (=dã-dượi), (4) trạo-cử, (=vụt-chạc), hối-tiếc, (5) nghi.

Về cách dẹp bỏ năm triền-cái, đức Phật dạy: vị Tỳ-kheo sau khi khất-thực và ăn xong, chọn nơi vắng-vẻ, ngồi kiết-già, lưng thẳng, và an-trú chánh-niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham-ái ở đời, sống với tâm ly-tham; từ bỏ sân-hận, sống với tâm vô-sân, từ-mẫn; từ bỏ hôn-trầm và thụy-miên, sống với tâm hướng về ánh-sáng, chánh-niệm, tỉnh-giác; từ bỏ trạo-cử và hối-tiếc, gột rửa tâm hết trạo-cử và hối-tiếc; từ bỏ nghi-ngờ, lưỡng-lự, phân-vân, gột rửa tâm hết nghi-ngờ đối với các thiện-pháp.

Vị ấy lại quán-tưởng năm triền-cái kể trên như là món nợ, như là bịnh-hoạn, như là tù-ngục, như là thân-phận nô-lệ, như là bãi sa-mạc nguy-hiểm; nên nay cố gắng diệt-trừ chúng, xả-ly chúng và nhờ đó mà sanh tâm hân-hoan.

023. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: CHỨNG-ĐẮC BỐN CẤP THIỀN-ĐỊNH.

Bốn cấp thiền-định là: Sơ-thiền, Nhị-thiền, Tam-thiền và Tứ-thiền. Đức Phật dạy: Khi quán tự-thân đã xả-ly năm triền-cái, tâm vị Tỳ-kheo sanh hoan-hỷ, thân được khinh-an; vì lạc-thọ sanh, tâm trở nên định-tĩnh, lần-lượt đạt đến các cấp Thiền-định.

– Tỳ-kheo ly dục, ly ác-pháp, chứng và trú SƠ-THIỀN, ”một trạng-thái hỷ-lạc DO LY DỤC SANH, với tầm, với tứ.”

Tỳ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú NHỊ-THIỀN, ”một trạng-thái hỷ-lạc DO ĐỊNH SANH, nội tĩnh nhứt- tâm”.

Tỳ-kheo ly hỷ, trú xả, chánh-niệm tỉnh-giác, thân-tâm cảm đuợc ”xả-niệm lạc-trú”, chứng và trú TAM-THIỀN, ”một trạng-thái LẠC-THỌ KHÔNG CÓ HỶ.”

Tỳ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm-thọ trước, chứng và trú TỨ-THIỀN, ”một trạng-thái chẳng khổ, chẳng lạc, XẢ NIỆM THANH-TỊNH.”

Đó là ”quả thiết-thực hiện-tại của hạnh Sa-môn, còn vi-diệu, thù-thắng hơn những quả trước”.

024. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: HƯỚNG TÂM ĐẾN CHÁNH-TRÍ.

Đức Phật dạy: ”Với tâm định-tĩnh, thuần-tịnh, dễ sử-dụng, vững-chắc, bình-thản, Tỳ-kheo hướng-dẫn tâm đến CHÁNH-TRÍ, CHÁNH-KIẾN. Vị ấy biết: thân nầy là sắc-pháp, do bốn đại (mà) thành, biến-hoại vô-thường, trong thân ấy THỨC ta lại nương-tựa vào và bị trói buộc.”

Đó là ”quả thiết-thực, hiện-tại của hạnh Sa-môn, còn vi-diệu và thù-thắng hơn các quả trước.”

025. LỢI-ÍCH THIẾT-THỰC CỦA HẠNH SA-MÔN: CHỨNG CÁC THẦN-THÔNG VÀ ĐƯỢC GIẢI-THOÁT.

Với tâm định-tĩnh, thuần-tịnh, dễ sử-dụng, vững chắc, Tỳ-kheo hướng-dẫn tâm đến các thần-thông:

hoá-thân hiện hình qua vách, núi; lặn sâu dưới đất liền, đi trên mặt nước, bay trên hư-không …

thiên-nhĩ-thông có thể nghe được tiếng chư Thiên và Người, xa và gần …

tha-tâm-thông biết được tâm-trạng của kẻ khác ..

túc-mạng-minh biết được nhiều đời kiếp trước …

thiên-nhãn-thông thấy sự sống-chết của chúng-sanh và hành-nghiệp của chúng …

lậu-tận-trí biết được như-thật thế nào là Khổ, Tập, Diệt, Đạo? thế nào là thoát khỏi các dục-lậu, hữu-lậu và vô-minh-lậu? …

Nhờ nhận-thức được như vậy, vị ấy biết: ”Ta đã giải-thoát. Sanh đã tận, phạm-hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện-tại, Ta chẳng còn đời sống nào khác nữa.”

Không có một quả thiết-thực hiện-tại nào vi-diệu và thù-thắng hơn quả-vị giải-thoát nầy của hạnh Sa-môn.

026. HỌC KINH SA-MÔN QUẢ NHƯ THẾ NÀO?

1.- Chữ Sa-môn có ba nghiã chánh: (1) cần-giả nghiã là người siêng làm việc lành; (2) tức-giả, nghiã là người ngưng làm tất cả việc ác; (3) bần-giả, nghiã là người cam chịu nghèo-khó để tu-tập đến ngày được hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát.

2.- Trọng-điểm của Kinh Sa-môn quả là: đức Phật giảng tỉ-mỉ về (a) các giới-luật mà vị Sa-môn phải tuân theo suốt đời; (b) đường-lối tu-hành theo Chánh-pháp mà vị Sa-môn tập-luyện để lần-lượt thâu-lượm được các lợi-ích thiết-thực ngay trong hiện-đời.

3.- Lời Phật giảng trong Kinh nầy tóm lại chỉ có ba điều: Giới, Định, Huệ. Nhờ giữ giới đầy-đủ, thân-tâm an-lạc nên sớm đắc định-lực. Nhờ có định-lực, vị Sa-môn lần-lượt chứng các thần-thông, đồng thời Trí-huệ chiếu sáng lên, cắt đứt các phiền-não, dẹp xong các lậu-hoặc mà được hoàn-toàn giải-thoát.

4.Có hai điểm phụ nhưng cũng nên lưu-ý khi đọc Kinh Sa-môn quả:

a.- Vua A-xà-thế ”sợ-hãi, kinh-hoàng, tóc dựng lên” khi đi đến gần vườn xoài, nơi đức Phật và các vị Tỳ-kheo ngụ: một sự im-lặng tuyệt-đối ”giữa một đại-chúng gần một ngàn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng-hắng, không có một tiếng ho, không có một tiếng ồn”. Một cảnh-tượng tu-hành thật trang-nghiêm và vi-diệu !

b.- Trước mặt đức Phật, Vua A-xà-thế thú-tội đã giết vua-cha để giành ngôi. Theo Kinh-sách, đây là tội ngũ-nghịch, phải sa vào điạ-ngục, sau khi chết. Nhưng đức Phật đã từ-bi mà ”chứng-minh sự thú-tội đúng với Chánh-pháp”. Sau khi vua A-xà-thế vừa ra về, đức Phật bảo các Tỳ-kheo: ”Tâm vua ấy rất ăn-năn… nếu vua ấy chẳng hại mạng cha, thì tại ngay chỗ ngồi này, vua ấy đã chứng được pháp-nhãn thanh-tịnh, không cấu-uế.”

(TN, Mtl, 2006-02-14).

-ooOoo-

3. KINH AMBATTHA.

027. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG KINH AMBATTHA?

Vào một thời kia, đức Phật và các Tỳ-kheo du-hành sang nước Câu-tát-la (Kosala) và ngụ tại khu rừng làng Icchànankala. Nghe tiếng đồn tốt-đẹp về Tôn-giả Gotama là bực A-la-hán, Chánh-đẳng-giác, có vị Bà-la-môn giàu-sang, thông-thái, tên là Pokkharasàdi sai người đệ-tử giỏi, thanh-niên Ambattha, đến yết-kiến đức Phật để xem coi Ngài có đủ ba mươi hai tướng của bực đại-nhân chăng. Ambattha quá ngạo-mạn về giai-cấp Bà-la-môn và dòng-dõi danh-tiếng của mình, đã tỏ ra xấc-xược với đức Phật. Trong một cuộc tranh-luận rất hào-hứng, đức Phật đã chứng-minh nguồn-gốc hạ-tiện của dòng-họ của Ambattha mặc dầu thuộc giai-cấp Bà-la-môn; và ”những vị nào giới-hạnh và trí-tuệ đầy-đủ mới chiếm điạ-vị tối-thắng giữa Trời và Người.”

Sau khi dùng thần-thông khiến cho Ambattha thấy rõ nơi Ngài có đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại-nhân, đức Phật giảng cho Ambattha hiểu thế-nào là các cấp giới-luật, thế nào là vô-thượng trí-huệ. Khi trở về gặp lại sư-phụ, Ambattha bị thầy quở trách nặng-nề. Bà-la-môn Pokkharasàdi liền đến chiêm-bái đức Phật, tạ lỗi và được nghe đức Phật giảng Chánh-Pháp, rồi sau đó xin quy-y ngôi Tam-Bảo.

028. NỘI-DUNG KINH AMBATTHA.

A.- Ý chánh: Kinh Ambattha dạy ta chớ nên quá hãnh-diện về dòng họ, giai-cấp của mình.

B.- Phân-đoạn: Kinh Ambattha khá dài mà phần quan-trọng nói về các giới-luật và đường-lối tu-hành thì lại được người kết-tập Kinh qui-chiếu về Kinh Sa-Môn Quả. Kinh Ambattha có thể phân làm ba phần:

1.- Cuộc tranh-luận giữa đức Phật và Ambattha về dòng-họ Thích-ca và dòng-họ Kanhàyanà của Ambattha

2.- Đức Phật giảng về việc thành-tựu giới-đức và trí-huệ cho Ambattha nghe.

3.- Bà-la-môn Pokkharasàdi đến nghe Phật thuyết-giảng về Chánh-Pháp và xin quy-y ngôi Tam-Bảo.

029. CUỘC TRANH-LUẬN VỀ NGUỒN-GỐC CỦA HAI DÒNG-HỌ THÍCH-CA VÀ KANHÀYANÀ.

Để bác-bỏ việc Ambattha miệt-thị dòng-họ Thích-ca và việc anh ta quá tự-cao về dòng-họ Kanhàyanà của mình, đức Phật nêu rõ:

(1) ông Tổ dòng Thích-ca là vua Okkàka, vì muốn truyền ngôi cho người con yêu, nên đuổi các vị hoàng-tử khác ra khỏi nước. Họ đến sống tại một khu rừng lớn, bên hồ nước tại sườn núi Hy-mã-lạp-sơn, thành-lập một quốc-gia hùng-mạnh. Vua Okkàka khi nghe biết việc đó, mới khen các vị hoàng-tử đó là những Sakya (= cứng như lõi cây sồi).

(2) Vua Okkàka có một nữ-tì tên Disà sanh ra một người con da đen, gọi là Kanha; đó là vị tổ-phụ của dòng họ Kanhàyanà sau nầy. Như thế, Ambattha là con cháu của người nữ-tì hầu-hạ dòng Thích-ca.

Bị đức Phật gạn hỏi ba lần, có phải đúng như vậy chăng, Ambattha đành thú-nhận đã có nghe các vị trưởng-lão tôn-túc nói ”nguồn-gốc của dòng họ Kanhàyanà đúng như lời Tôn-giả Gotama đã nói.”

030. HỌC KINH AMBATTHA NÊN LƯU-Ý NHỮNG GÌ?

1.- Kinh Ambattha đặc-biệt nhấn mạnh đến sự dẹp bỏ tánh kiêu-mạn về dòng-dõi và giai-cấp. Bực đáng tôn-trọng chính là những vị đã thành-tựu giới-đức vô-thượng trí-huệ.

2.- Đừng tưởng hễ ”học thuộc lòng những chú-thuật của các ẩn-sĩ ngày xưa… mà có thể được xem là một ẩn-sĩ hay đã chứng điạ-vị của ẩn-sĩ…”. Còn phải thực-hành đúng nếp sống theo giới-luật và thành-tựu được Trí-huệ vô-thượng nữa !

Như vậy, ngày nay khi học Kinh Phật, cố công học cách đọc-tụng lên trầm xuống bổng nghe cho êm tai, hấp-dẫn, và việc nỗ-lực tìm hiểu ý-nghiã lời đức Phật dạy để áp-dụng vào đời sống hằng ngày; hai điều ấy, điều nào quan-trọng và cấp-thiết hơn?

(TN, Mtl 2006-02-15)

-ooOoo-

4. KINH SONADANDA

031. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG KINH SONADANDA?

Vào một thời kia, đức Phật du-hành tại xứ Ương-già (Anga), cùng với các Tỳ-kheo đến ngụ bên bờ hồ Gia-già liên-trì (Gaggara). Lúc bấy giờ, có một vị Bà-la-môn tên là Sonadanda, giàu-sang, danh-vọng, nghe tiếng đồn tốt-đẹp về Sa-môn Gotama, mới cùng với các đệ-tử và Bà-la-môn khác đến yết-kiến đức Phật.

Đoán biết tâm-trạng lo-ngại của Sonadanda sợ bị hỏi về các điều ông ta chẳng am-tường, đức Phật mới hỏi ông về các đức-tánh cần có của một vị Bà-la-môn xứng-đáng với danh-hiệu đó. Sonadanda kể ra năm đức-tánh: (1) huyết-thống bảy đời thanh-tịnh, (2) thông-thuộc các chú-thuật (3) thấu-suốt văn-nghiã của ba tập Kinh Vệ-đà, (4) đầy-đủ giới-hạnh, (5) học rộng sáng-suốt, và là người đệ nhứt trong các người cầm muỗng tại buổi lễ tế-thần. Được đức Phật gạn hỏi kỹ thêm, trong năm đức-tánh đó, có thể bỏ qua đức-tánh nào, và còn lại đức tánh nào quan-trọng nhứt mới xứng-đáng danh-nghiã Bà-la-môn, Sonadanda đáp: giới-hạnh cao-dày và trí-huệ sâu-rộng.

Thể theo lời yêu-cầu của Sonadanda, đức Phật giảng rõ thêm thế nào là giới-hạnh đầy-đủ trí-huệ tối-thắng.

032. NỘI-DUNG KINH SONADANDA .

A. Ý chánh: Kinh Sonadanda nhấn mạnh việc xứng-đáng danh-nghiã Bà-la-môn, chẳng phải chỉ ở sự thông-thuộc ba tập Kinh Vệ-đà, mà còn phải có giới-hạnh đầy-đủ và trí-huệ sáng-suốt.

B. Phân-đoạn: Kinh nầy chia ra ba phần:

1. Các Bà-la-môn bàn-cãi: nên yết-kiến Phật không.

2. Sonadanda kể năm đức-tánh căn-bản xứng-danh làm Bà-la-môn; nhưng khi được Phật gạn hỏi lại, ông chỉ giữ lại hai đức-tánh: giới-đức trí-huệ.

3. Đức Phật giảng rõ thế nào là giới-đức đầy-đủ (xem tiểu, trung, đại-giới, Kinh Phạm-Võng), và trí-huệ tối-thắng (xem các cấp Thiền, Kinh Sa-Môn Quả).

033. SỰ LIÊN-HỆ VỀ TẦM QUAN-TRỌNG GIỮA GIỚI-ĐỨC VÀ TRÍ-HUỆ.

Đây, đoạn Kinh quan-trọng về Giới Huệ:

... Trí-huệ được giới-hạnh làm cho thanh-tịnh, giới-hạnh được trí-huệ làm cho thanh-tịnh. Chỗ nào có giới-hạnh, chỗ ấy có trí-huệ; chỗ nào có trí-huệ, chỗ ấy có giới-hạnh; người có giới-hạnh nhứt định có trí-huệ; người có trí-huệ nhứt định có giới-hạnh. Giới-hạnh và trí-huệ được xem là tối-thắng ở trên đời…. Cũng như lấy bàn tay rửa bàn tay, lấy bàn chơn để rửa bàn chơn, … trí-tuệ được giới-hạnh làm cho thanh-tịnh; giới-hạnh được trí-huệ làm cho thanh-tịnh…

(TN. Mtl, 2006-02-16)

-ooOoo-

5 . KINH KÙTADANTA

034. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG KINH KÙTADANTA?

Vào một thời kia, đức Phật du-hành tại nước Ma-kiệt-đà (Magadha), đến ngụ tại vườn Ambalatthika ở làng Khànumata. Tại đây có một vị Bà-la-môn tên là Kùtadanta muốn thiết-lập một tế-đàn với nhiều thú-vật sẽ bị giết, để cúng-tế cầu phước. Kùtadanta nghe nói đức Phật biết rõ ”ba tế-pháp và mười sáu tế-vật”, nên muốn đến thưa hỏi.

Nhơn đó, đức Phật giảng Kinh nầy, chỉ rõ các nguyên-tắc hướng-dẫn sự cúng-tế, chẳng cần giết chóc thú-vật, mà cũng có thể đem lại nhiều phước-báo. Rồi đức Phật giảng thêm về sự bố-thí thường-xuyên, tứ-sự cúng-dường, sự dâng-cúng một tu-viện cho Tăng-già, sự quy-y ngôi Tam-Bảo, sự thọ-trì các giới-luật, sự tu-tập các cấp thiền-định… ”là những tế-đàn ít phiền-tạp, ít nhiễu-hại mà mang lại nhiều kết-quả lợi-ích hơn.

035. NỘI-DUNG KINH KÙTADANTA.

A. Ý chánh: Kinh Kùtadanta chỉ dạy cách cúng-tế, chẳng cần giết thú-vật để tế, mà lại đưa đến nhiều phước-báo.

B. Phân đoạn: Kinh rất dài thuật cách tế-lễ thời xưa, có thể chia ra làm bốn phần:

1.- Kùtadanda bàn-luận với các Bà-la-môn về đại-danh và đức-độ của đức Phật, trước khi đến yết-kiến;

2.- Đức Phật giảng 3 tế-pháp và 16 tế-vật .

3.- Các tế-đàn ít phiền-tạp mà nhiều quả-báo hơn.

4.- Kùtadanda xin quy-y Tam-Bảo và được đức Phật giảng cho nghe Chánh-pháp.

036. THẾ NÀO LÀ 3 TẾ-PHÁP VÀ 16 TẾ-VẬT?

Trong Kinh nầy, đức Phật thuật lại lễ tế-đàn của Vua Mahàvijita, ở kiếp quá-khứ, theo đúng 3 tế-pháp và 16 tế-vật.

Vị Bà-la-môn chủ-tế khuyên nhà Vua trước khi thiết-lễ, nên mở kho cung-cấp vật-liệu, tiền-của, cho các tầng-lớp dân chúng để họ làm ăn yên-ổn, khiến cho nước hết tai-ương và trở nên hùng-cường. Sau đó, thông-báo việc tế-lễ đến bốn đại-chúng (đại-thần, Sát-đế-lợi, hoàng-tộc, gia-chủ) để họ biết mà tán-thành.

Vị chủ-lễ giảng: Trước khi, trong khi và sau khi lễ tế-đàn, nhà Vua chớ để tâm hối-tiếc của-cải bị tiêu-hao. Đó là ba tế-pháp được làm tại buổi lễ tế.

Trong khi làm lễ tế, vị chủ-lễ bằng mười sáu cách đã khuyến-giáo, khích-lệ, khiến tâm nhà Vua được hoan-hỷ: từ việc làm cho dân-chúng được an-vui và quốc-gia hùng-mạnh, sự tán-thành của bốn tầng-lớp xã-hội, cho đến mười đức-tánh cao-qúi của nhà Vua và bốn đức-độ cao-dày của vị chủ-lễ. Đó là các điểm được xem như mười sáu món tế-vật đem ra hiến-cúng.

037. THẾ NÀO LÀ CÁC TẾ-ĐÀN KHÁC, ÍT PHIỀN-TẠP MÀ ĐEM LẠI NHIỀU PHƯỚC-BÁO?

Dụng-ý của Kinh Kùtadanta là, nhơn việc giết thú-vật để cúng-tế, giảng rõ các pháp-tu trong đạo Phật được xem như những phẩm-vật qúi-báu đem dâng-hiến, để được nhiều phước-báo, vừa ít phiền-tạp, tránh được sát-sanh, mà đem lại nhìều lợi-ích thiết-thực cho đường tu.

Theo thứ-tự từ thấp đến cao, kể ra trong Kinh:

– hạnh bố-thí: thường-xuyên hiến-tặng của-cải, công-sức, lời an-ủi đến kẻ nghèo-khó cần sự giúp-đỡ;

– tứ-sự cúng-dường: hiến-cúng cho các tu-sĩ: (1) thực-phẩm; (2) quần-áo; (3) thuốc-men; (4) chỗ ở;

– dâng-hiến tịnh-xá, tu-viện cho Tăng-Ni-đoàn;

– quy-y ngôi Tam-Bảo;

– thành-tựu giới-hạnh thanh-tịnh;

– chứng và an-trú trong các cấp thiền-định.

038. ĐIỂM CẦN CHÚ-Ý KHI HỌC KINH KÙTADANTA.

Kinh Kùtadanta nhằm phá bỏ cổ-tục cúng-kiến để cầu phước. Sự giết hại sanh-vật để cúng-tế thần-linh cầu xin ban phước là một hình-thức hối-lộ thần-thánh, gây thêm tội sát-sanh. Nếu biết thực-hành đúng theo Chánh-Pháp, thành-tâm giữ GIỚI-đức đầy-đủ, siêng tu thiền-ĐỊNH, phát-triển trí-HUỆ, thì việc được giác-ngộ và giải-thoát và chứng-đắc Niết-bàn an-tịnh mới thật là các ”phẩm-vật” qúi-báu đem dâng-hiến ngôi Tam-Bảo.

(TN. Mtl, 2006-02-17).

-ooOoo-

6. KINH MAHÀLI
7. KINH JÀLIYA

039. TRONG TRƯỜNH-HỢP NÀO PHẬT GIẢNG KINH MAHÀLI?

Vào một thời kia, đức Phật và các Tỳ-kheo ngụ tại nước Tỳ-xá-ly (Vesali), nơi giảng-đường Trùng-Các, rừng Đại-Lâm. Trong số những người đến yết-kiến đức Phật lúc bấy giờ, có Mahàli, người xứ Licchavi, trình-bày sự thắc-mắc của người bạn tu-tập thiền-định, thấy được các thiên-sắc, nhưng chẳng nghe được các thiên-âm. Mahàli hỏi đức Phật, các thiên-âm có thật không?

Đức Phật bảo, các thiên-âm có thật và nhơn đó, Ngài giảng về sự đắc thiên-nhãn khi tu thiền nhứt-hướng, còn người tu thiền nhị-hướng mới đắc được cả hai thiên-nhãn-thông và thiên-nhĩ thông. Sau đó, Ngài còn giảng thêm về Bát-Chánh-Đạo, con đường tám ngành, đưa đến sự chứng-ngộ các pháp còn cao-thượng và thù-thắng hơn.

040. NỘI-DUNG KINH MAHÀLI ( VÀ KINH JÀLIYA).

Kinh Mahàli tương-đối ngắn hơn các bản Kinh khác trong Trường-Bộ Kinh, nhưng nội-dung lại chứa đến hai bản Kinh: kinh Mahàli và kinh Jàliya (Trường-Bộ Kinh chỉ ghi tên của Kinh Jaliya, mà chẳng ghi nội-dung đầy-đủ). Có thể chia ra làm ba phần:

1.- Các vị Bà-la-môn và Mahàli ngồi đợi đức Phật ra tiếp-kiến.

2.- Đức Phật giải-đáp thắc-mắc của Mahàli về các thiên-âm. Ngoài việc chứng-đắc các thần-thông: thiên-nhãn và thiên-nhĩ, đức Phật còn giảng thêm về ba quả-vị đầu-tiên của hàng Thanh-văn nữa, bằng cách diệt-trừ năm hạ-phần kết-sử.

3.- Nhắc đến Bát-Chánh-Đạo, đức Phật thuật lại bài pháp đã giảng cho du-sĩ ngoại-đạo Jàlika về vấn-đề mạng-căn và thân-thể là một hay khác. (đây là nội-dung của Kinh Jàlika).

041. CÁC THẦN-THÔNG THIÊN-NHÃN, THIÊN-NHĨ.

Giải-đáp thắc-mắc của Mahàli về thiên-âm, đức Phật xác-nhận các thiên-âm có thật, chỉ những người tu-tập thiền-định nhị-hướng mới vừa thấy các thiên-sắc (=hình-sắc ở cõi Trời) và các thiên-âm (= âm-thanh ở cõi Trời). Tu định nhứt-hướng là khi nhập-định, hành-giả chỉ hướng-dẫn tâm, hoặc đến các thiên-sắc, hoặc đến các thiên-âm; còn người tu định nhị-hướng mới đắc cả hai thần-thông: thiên-nhãn và thiên-nhĩ.

042. BỐN QUẢ-VỊ Ở CẤP THANH-VĂN.

Thanh-văn, tiếng Pali là Sàvaka, là các đệ-tử Phật, sống gần đức Phật, tu-tập theo pháp Tứ-diệu-đế, dẹp bỏ hết các phiền-não và lần-lượt chứng-đắc bốn quả-vị:

– Quả-vị thứ nhứt là Tu-đà-huờn (Pali: Sotàpanna), còn gọi là Dự-lưu (được dự vào giòng Thánh) hay là Thất-lai (chỉ còn phải tái-sanh lại bảy lần ở cõi người);

Quả-vị thứ hai là Tư-đà-hàm (Pali: Sakadàgàmi), còn gọi là Nhứt-lai (chỉ còn phải tái-sanh lại cõi người một lần nữa thôi);

Quả-vị thứ ba là A-na-hàm (Pali: Anagàmi), còn gọi là Bất-lai (chẳng phải sanh lại cõi người, chỉ tái-sanh ở cõi Trời, tiếp-tục tu để đạt quả-vị cuối-cùng).

Quả-vị cao nhứt là A-la-hán (Pali: Arahant), có ba nghiã: (1) sát tặc (diệt xong các phiền-não, được xem như ”giặc”), (2) ứng-cúng (xứng-đáng nhận sự cúng-dường của người và Trời), (3) vô-sanh (chẳng còn phải tái-sanh nữa, thoát khỏi Luân-hồi, chứng Niết-bàn).

043. NĂM HẠ-PHẦN KẾT-SỬ LÀ GÌ?

Kết-sử (Pali: Sanyojana): kết là ràng-buộc, sử là sai-khiến; đó là các phiền-não ràng-buộc và sai-khiến phải hành-động theo nẻo dữ. Có mười kết-sử, chia ra:

– năm hạ-phần kết-sử, còn gọi là năm độn-sử: (1) tham, (2) sân, (3) thân-kiến, (4) giới-cấm-thủ, (5) nghi.

– năm thượng-phần kết-sử, còn gọi là năm lợi-sử: (6) sắc-ái, (7) vô-sắc-ái, (8) trạo, (9) mạn, (10) vô-minh.

Năm hạ-phần kết-sử thường gặp nơi các người có căn-cơ thấp-kém, nên gọi là độn-sử. Ba kết-sử tham-lam, sân-hận (giận hờn) và nghi-ngờ thì dễ hiểu. Thân-kiến là một tà-kiến cố-chấp lấy thân và tâm nầy, cho đó chính là bản-ngã, là Ta. Giới-cấm-thủ là sự nắm giữ các điều răn-cấm theo mê-tín dị-đoan. Dẹp xong năm độn-sử thì chứng đến quả-vị thứ ba A-na-hàm.

Bực A-la-hán đã tiêu-trừ hết cả mười kết-sử.

044. THÂN-THỂ VÀ MẠNG-CĂN LÀ MỘT HAY KHÁC?

Phàm-phu (người thường) hay thắc-mắc về việc sau khi chết, thân-thể nầy còn sống lại nữa không, đó là vấn-đề: thân-thể và mạng-căn (= sự sống). Trong Kinh Jàliya (tức phần III của Kinh Mahàli), sau khi tu chứng bốn cấp thiền-định và hướng tâm đến Trí-huệ tối-thượng, hành-giả sẵn-sàng đề-cập đến vấn-đề nầy. Nhưng đối với Phật, Ngài chẳng quan-tâm đến và ”chẳng nói mạng-căn và thân-thể là một hay là khác.”

Theo Kinh-sách Phật-học, thân-tâm con người sau khi chết, năm uẩn đều tan-rả, nhưng còn có nghiệp-lực (ảnh-hưởng của hành-động gây nghiệp lúc còn sống), sẽ lôi-kéo sự tái-sanh trong vòng Luân-hồi.

045. HỌC KINH MAHÀLI, NÊN LƯU-Ý ĐIỂM NÀO?

So với các bản Kinh khác trong Trường-Bộ Kinh, Kinh Mahàli ngắn hơn, có vẻ ít quan-trọng. Nhưng nếu suy-gẫm kỹ, có thể nêu lên hai điểm đáng lưu-tâm:

1.- Tại sao, sau khi giải-đáp thắc-mắc của Mahàli về thiên-nhĩ-thông, đức Phật còn giảng thêm về các pháp cao thượng hơn, thù-thắng hơn? Đó là vì Ngài muốn chỉ rõ điều quan-trọng hơn: ngoài thần-thông ra, còn có Giới, Định, Huệ mới đưa đến giải-thoát cho thân-phận con người ra khỏi cảnh khổ của Luân-hồi.

2.- Tại sao đức Phật chẳng nói thân-thể và mạng-căn là một hay khác? Vì sống hay chết ít quan-trọng hơn là biết cách thoát cảnh khổ của tái-sanh Luân-hồi.

(TN. Mtl, 2006-02-17).

-ooOoo-

8. KINH KASSAPA

046. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG KINH KASSAPA?

Vào một thời kia, đức Phật ngụ tại vườn nai Kannakatthala, xứ Uy-nhã-quốc (Ujunnà). Có tu-sĩ loã-thể Kassapa (Ca-diếp) đến gặp đức Phật và hỏi, có phải đúng như lời ông nghe nói, Sa-môn Gotama đã mạt-sát tất cả mọi khổ-hạnh và chỉ-trích đường-lối tu-hành khổ-hạnh chăng? Đức Phật đáp, đó là sự xuyên-tạc, vì với thiên-nhãn, Ngài đã nhìn thấy trong số tu-sĩ khổ-hạnh, có người tái-sanh vào đường lành, có kẻ phải sa vào nẻo ác, thì sao Ngài lại chỉ-trích tất cả lối tu khổ-hạnh.

Kassapa liền trình-bày các lối tu khổ-hạnh, thu-thúc thân-xác trong việc ăn, mặc, đi, đứng, ngồi, nằm, v.v… sẽ đưa đến quả-vị Sa-môn, Bà-la-môn. Đức Phật chỉ rõ chỗ thiếu-sót trong việc tu ép-xác, vì ngoài việc tiết-chế cách sống, còn có các sự giữ giới đầy-đủ, tu-tập thiền-định, phát-triển trí-huệ tối-thượng, mới đưa tới quả-vị Sa-môn chơn-chánh.

047. NỘI-DUNG KINH KASSAPA.

A. Ý chánh: Kinh Kassapa chỉ rõ sự thiếu-sót trong việc tu-hành ép-xác và nêu lên đường-lối tập-luyện theo Giới-Định-Huệ trong Chánh-Pháp, mới đạt được quả-vị chơn-chánh của Sa-môn.

B. Phân đoạn: Kinh Kassapa có thể chia làm ba phần:

1.- Phần I: Lối tu khổ-hạnh:

– Đức Phật đính-chánh việc cho rằng Ngài đã mạt-sát tất cả các lối tu khổ-hạnh;

– Tu-sĩ loã-thể Kassapa trình-bày các lối tu-hạnh sẽ đưa đến quả-vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn-chánh;

– Đức Phật nêu các thiếu-sót của lối tu khổ-hạnh.

2.- Phần 2: Hạnh Sa-môn chơn chánh:

– Đức Phật bác-bỏ, khi Kassapa nói hạnh Sa-môn khó hành, khó biết;

– Đức Phật lần-lượt giảng: giới cụ-túc, hộ-trì các căn, tu-tập bốn cấp thiền-định, hướng tâm đến trí-huệ vô-thượng. (giống hai Kinh Phạm-Võng, Sa-Môn Quả).

3.- Phần 3: Tu-sĩ ngoại-đạo Kassapa xin quy-y ngôi Tam-Bảo và tu chẳng bao lâu đắc được quả A-la-hán.

048. KASSAPA TRÌNH-BÀY CÁC LỐI TU KHỔ-HẠNH.

Kassapa kể các lối tu khổ-hạnh ”được công-nhận là đưa đến Sa-môn và Bà-la-môn quả”:

– sống loã-thể (thân-thể trần-trụi, chỉ có khố che bộ-phận sinh-dục), đứng khi đại-tiện, liếm tay cho sạch,

– chẳng nhận đồ ăn của đàn-bà có thai (sợ đứa con trong bụng bị thiệt-thòi), chỉ ăn một bữa trong một ngày, hay hai, ba, bảy ngày; ăn gạo lức, trái cây rụng …

– mặc vải gai thô, áo vỏ cây … ,

– theo hạnh thường đứng chẳng ngồi, nằm trên đất cát, một đêm tắm ba lần (để gột sạch tội-lỗi) …

Các lối tu khổ-hạnh nầy bị đức Phật bác-bỏ vì thiếu-sót, ”chẳng chứng được giới cụ-túc, tâm cụ-túc và huệ cụ-túc, vì thế còn cách rất xa Sa-môn-vị.”

049. HỌC KINH KASSAPA NÊN CHÚ-Ý ĐIỂM NÀO?

1. Trong Kinh Chuyển Pháp-luân, bản Kinh đầu-tiên đức Phật giảng tại vườn Lộc-uyển cho năm anh em ông Kiều-trần-như nghe, đức Phật có đề-cập đến hai cực-đoan (= điều quá mức): ”Một là đắm-say trong các dục hạ-liệt, đê-tiện…không liên-hệ đến mục-đích Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không liên-hệ đến mục-đích …” Lối tu khổ-hạnh chính là cực-đoan thứ hai, cần tránh. Con đường ở giữa hai cực-đoan đó, chính là Bát-Chánh-Đạo, có tám ngành, từ chánh-kiến đến chánh-định. Vì thế, người học Kinh nầy nên biết tránh các lốì tự hành-xác, chẳng có ích-lợi thiết-thực nào đến đường tu cả.

2. Cũng như khi học các Kinh Phạm-Võng, Sa-Môn Quả, học Kinh Kassapa nầy nên đặc-biệt lưu-tâm đến các đoạn văn đức Phật trình-bày tỉ-mỉ về giới, về định và về huệ. Đó là đường-lối tu-hành căn-bản trong Chánh-Pháp của Phật-giáo.

(TN. Mtl, 2006-02-18).

-ooOoo-

9. KINH POTTHAPÀDA

050. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG KINH POTTHAPÀDA?

Vào một thời kia, đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên (Jetavana), vườn ông Cấp-cô-độc (Anàthapindika), nước Xá-vệ (Sàvatthi). Sáng sớm hôm đó, khi đi khất-thực, thấy còn sớm, Ngài ghé qua vườn hoa của hoàng-hậu Mallika, và gặp du-sĩ Potthapàda đang bàn phiếm với các tu-sĩ ngoại-đạo khác. Potthapàda thỉnh đức Phật giải-đáp về vấn-đề tận-diệt của các tư-tưởng.

Nhơn đó, đức Phật giảng rõ tư-tưởng sanh-khởi và diệt-tận đều có nhân-duyên; đó là ”do sự học-tập mà một loại tưởng sanh, cũng do học-tập mà một loại tưởng diệt.” Ngài chỉ dạy, qua sự học-tập về Giới-Định-Huệ, hành-giả khi đắc các cấp thiền-định, làm khởi sanh và rồi diệt tận được các tưởng về dục, hỉ, lạc, xả-niệm thanh-tịnh, v.v… cho đến mức diệt-tận-định thì mọi tư-tưởng được chấm dứt hẳn.

Sau đó, Potthapàda hỏi các vấn-đề về tự-ngã, sinh-mạng thân-thể là một hay khác, thế-giới thường-hằng hay vô-thường, vô-biên hay hữu-biên, Như-Lai có tồn-tại sau khi chết hay không, v.v… đức Phật bảo Ngài không trả lời dứt-khoát các vấn-đề đó vì chúng chẳng liên-quan đến mục-đích chánh là sự giải-thoát, và chỉ trả lời về ”các pháp căn-bản của phạm-hạnh, … đưa đến giác-ngộ, Niết-bàn”. Rồi Ngài ra về.

Vài hôm sau, Potthapàda cùng với Citta Hatthi-sàriputta lại đến yết-kiến đức Phật và hỏi thêm tại sao có vấn-đề chẳng được Phật trả lời dứt-khoát, như vấn-đề T_-NGÃ chẳng hạn, ”sau khi chết, tự-ngã hoàn-toàn hạnh-phúc, vô bệnh?” Đức Phật đáp, tự-ngã có ba hình-thức: (1) thô-phù, (2) do ý sở-thành, và (3) do tưởng sở-thành, đều chỉ là ”danh-tự thế-gian”, nên Ngài dùng chúng nhưng chẳng chấp-trước chúng. Và những pháp mà Ngài tuyên-thuyết, trình-bày một cách dứt-khoát chính là để diệt-trừ các hình-thức ngã-chấp đó, hầu đưa đến sự giải-thoát.

Sau khi nghe đức Phật giảng Kinh nầy, Potthapàda và Citta xin được xuất-gia, và chẳng bao lâu, tu-chứng được quả-vị A-la-hán.

051. NỘI-DUNG KINH POTTHAPÀDA.

A.- Ý chánh: Trong phần đầu của Kinh Potthapàda, đức Phật dạy: mọi tư-tưởng khởi lên và tiêu-diệt đi đều có nhân-duyên, đó là do sự học-tập. Tu-tập các cấp thiền-định cho đến mức diệt-tận-định, hành-giả chấm-dứt hẳn được các tưởng. Trong phần sau của Kinh, đức Phật dạy cách phá-trừ ngã-chấp.

B.- Phân đoạn: Kinh Potthapàda có thể phân ra làm hai phần:

1.- Phần đầu: Đức Phật giảng sự khởi-sanh của các tư-tưởng và sự diệt-tận của chúng.

– các tu-sĩ ngoại-đạo bàn phiếm;

– tu-sĩ Potthapàda thỉnh Phật giảng về tưởng;

– do sự học-tập mà tưởng sanh ra rồi diệt đi;

– sự tu-tập thiền-định đến mức diệt-tận-định mới chấm dứt hẳn mọi tư-tưởng.

– Potthapàda hỏi về các vấn-đề tự-ngã, thế-giới, sanh-mạng và thân-thể, Như-lai có tồn-tại không, v.v…

– Đức Phật bảo, Ngài chẳng trả lời dứt-khoát các câu hỏi đó, vì chúng chẳng liên-quan đến mục-đích chánh của việc tu-hành là sự giải-thoát.

2.- Phần sau: Các pháp được đức Phật tuyên-thuyết một cách dứt-khoát, đều có liên-hệ đến đích giải-thoát.

– Đó là các pháp về: Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

– Về câu nói của tu-sĩ ngoại-đạo: ”Sau khi chết, TỰ-NGÃ hoàn-toàn hạnh-phúc, vô bịnh”, đức Phật vạch rõ các lý-do chứng-minh ”lời nói đó không chính-xác, hợp-lý”.

– (Khởi lên tưởng về tự-ngã rồi chấp chặt lấy, đó là ngã-chấp). Phật nói, có ba loại ngã-chấp, và Ngài chỉ dạy cách diệt-trừ chúng. Đấy là những pháp mà Phật tuyên-thuyết, trình-bày một cách dứt-khoát.

052. DO NHÂN-DUYÊN NÀO CÓ SỰ SANH-KHỞI VÀ SỰ TẬN-DIỆT CỦA CÁC TƯỞNG?

Đức Phật nói: Các Sa-môn, Bà-la-môn nào bảo, không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt, đã sai-lạc ngay từ ban đầu. Vì sao vậy? Chính vì có nhân, có duyên, các tưởng của con người mới sinh và diệt. Chính do sự học-tập, một loại tưởng sanh, chính do sự học-tập, một loại tưởng diệt…

Sự học-tập ấy là gì? Đó là: giới-hạnh thanh-tịnh,… hộ-trì các căn, … xả-ly năm triền-cái, … và tu-tập các cấp thiền-định (Xem lại Kinh Sa-Môn Quả).

– tại cấp Sơ-thiền, trong trạng-thái hỷ-lạc do ly-dục sanh, lìa được các dục-tưởng xưa kia và làm khởi sanh lên tưởng hỷ-lạc do ly-dục;

– tại cấp Nhị-thiền, trong trạng-thái hỷ-lạc do định sanh, lià được các tưởng do ly dục sanh trước kia, và làm khởi sanh lên tưởng hỷ-lạc do định;

– tại cấp Tam-thiền, tưởng hỷ-lạc diệt và tưởng ”xả-niệm lạc-trú” sanh;

– tại cấp Tứ-thiền, tưởng xả-niệm lạc-trú diệt, tưởng ”xả-niệm thanh-tịnh” sanh;

– tại cấp Không vô-biên-xứ định, tưởng xả-niệm thanh-tịnh diệt, tưởng Không vô-biên xứ sanh;

– tại cấp Thức vô-biên-xứ định, tưởng hư-không diệt, tưởng Thức vô-biên xứ sanh;

– tại cấp Vô-sở-hữu-xứ định, tưởng thức vô-biên diệt, tưởng Vô-sở-hữu xứ sanh;

– tại cấp Phi-tưởng, phi phi-tưởng định, tưởng vô-sở-hữu diệt, tưởng phi-tưởng phi phi-tưởng sanh;

– tại cấp Diệt-thọ-tưởng định, tiếp-tục đi từ tưởng nầy đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh, rồi diệt luôn tưởng đó, chấm dứt hẳn mọi tưởng.

053. CÁC LOẠI NGÃ-CHẤP.

Ngã-chấp là gì? Đó là một tà-kiến, một ảo-tưởng, do con người quá cố-chấp ôm chặt lấy, nên bị ràng-buộc. Cần phải diệt-trừ hẳn tất cả các loại tưởng về ngã-chấp.

Đức Phật dạy: Có ba loại ngã-chấp: (1) thô-phù ngã-chấp, (2) ý sở thành ngã-chấp, (3) vô-sắc ngã-chấp. Thế nào là thô-phù ngã-chấp? Có sắc, do bốn đại hình-thành, do đoàn-thực nuôi-dưỡng là thô-phù ngã chấp. Thế nào là ý sở thành ngã-chấp? Có sắc, đầy-đủ các căn và các chi-tiết, do ý sở thành. Thế nào là vô-sắc ngã-chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành.

Ngài bảo, Ta thuyết pháp để diệt-trừ thô-phù ngã-chấp, … ý sở thành ngã-chấp, … vô-sắc ngã-chấp. Nếu các người thực hành theo pháp nầy thời nhiễm-pháp được diệt-trừ, tịnh-pháp được tăng-trưởng, và ngay hiện-tại, tự mình giác-ngộ, với thắng-trí, chứng đạt và an trú trí-huệ sung-mãn, quảng-đại …

054. NÊN HỌC KINH POTTHAPÀDA NHƯ THẾ NÀO?

Trọng-điểm của Kinh Potthapàda là sự diệt-trừ hẳn mọi tư-tưởng cố-chấp để tâm và trí được giải-thoát. Vì thế, người học Kinh nầy, phải nên đọc lướt qua các đoạn nói dài-dòng về những vấn-đề mà đức Phật không trả lời dứt-khoát, và chú-tâm đến các đoạn nói rõ về sự khởi-sanh và sự diệt-tận của mọi loại tưởng qua sự học-tập về các cấp Thiền-định.

Cần suy-gẫm kỹ về cách diệt-trừ hẳn ba loại ngã-chấp được xem là những pháp mà đức Phật tuyên-thuyết, trình-bày MỘT CÁCH DỨT-KHOÁT, thuộc về đích giải-thoát, đưa đến giác-ngộ và Niết-bàn.

(TN. Mtl, 2006-02-23).

-ooOoo-

10. KINH SUBHA

055. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO KINH SUBHA ĐƯỢC THUYẾT-GIẢNG?

Vào một thời kia, sau khi đức Phật đã nhập Niết-bàn, Đại-đức A-nan (Ànanda) ngụ tại chùa Kỳ-viên (Jetavana), vườn ông Cấp-cô-độc (Anàthapindika), thuộc nước Xá-vệ (Sàvatthi). Bấy giờ có thanh-niên Bà-la-môn tên là Subha (Tu-bà) muốn đến thỉnh hỏi Ngài A-nan, vị thị-giả sống gần bên đức Phật, biết rõ các pháp nào được đức Phật tán-thán và khuyến-khích mọi người tuân theo. Nhơn đó, Ngài A-nan tới nhà Subha để giảng Kinh nầy, nhắc lại đầy-đủ các chi-tiết về các pháp Giới, Định, Huệ, đã được đức Phật giảng rõ trong Kinh Sa-Môn Quả.

056. NỘI-DUNG KINH SUBHA.

Kinh Subha tương-đối ngắn hơn các Kinh khác thuộc Trường-Bộ Kinh. Nội-dung nhắc lại lời Phật giảng về Giới, Định, Huệ trong hai bản Kinh Phạm-Võng Sa-Môn Quả.

A.- Ý chánh: Kinh Subha trình-bày về: thánh-giới-uẩn, thánh-định-uẩn, và thánh-huệ-uẩn, đã được đức Phật tán-thán và khuyến-khích nên tuân theo.

B.Phân đoạn: Kinh Subha chia ra làm hai phần:

1.- Thanh-niên Bà-la-môn Subha thỉnh ngài A-nan đến nhà để cúng-dường và nghe giảng pháp.

2.- Ngài A-nan giảng về ba thánh-uẩn:

a.- Thánh-GIỚI-uẩn gồm có tiểu-giới, trung-giới, đại-giới, (được Phật nói rõ trong Kinh {Phạm-Võng), để được giới-hạnh đầy-đủ.

b.- Thánh-ĐỊNH-uẩn gồm có việc hộ-trì các căn, dẹp năm triền-cái và tu-tập các cấp Thiền-định (được Phật nói rõ trong Kinh Sa-Môn Quả) khiến cho nội-tâm định-tĩnh.

c.- Thánh-HUỆ-uẩn hướng tâm định-tĩnh đến lậu-tận-trí, tuệ-tri như thật thế nào là Khổ, nguyên-nhân của Khổ, sự diệt-tận Khổ và con đường đưa đến diệt-khổ, cùng các lậu-hoặc.

Đó là các pháp được Phật khích-lệ, khuyên mọi người tuân theo. Chẳng còn pháp nào cao-thượng hơn cần phải hành-trì.

057. HỌC KINH SUBHA LÀ DỊP ÔN LẠI BA MÔN-HỌC GIỚI, ĐỊNH, HUỆ.

Khi ôn lại ba môn vô-lậu-học Giới, Định, Huệ, cần phải nắm vững các điều sau đây:

1.- Về Giới: tiểu-giới có năm giới căn-bản và các giới bát-quan, thập-thiện; trung-giới có các tà-hạnh cần tránh (chẳng tích-trữ đồ-vật, chẳng du-hí, chẳng bàn chuyện phiếm…); đại-giới có các tà-mạng chẳng được dùng làm nghề sanh-sống (xem bói, xem tướng, làm môi-giới…)

2.- Về Định: phải hộ-trì các căn, dẹp bỏ năm triền-cái trước, rồi tập bốn cấp Thiền (từ Sơ-thiền đến Tứ-thiền), và năm cấp Định (từ Không vô-biên-xứ đến Diệt-tận-định) thì nội-tâm mới hoàn-toàn định-tĩnh.

3.- Về Huệ: khi tâm hoàn-toàn định-tĩnh, mới hướng tâm đến trí-huệ tối-thượng, để học-tập, hiểu rõ và noi theo Tứ-Diệu-Đế.

Nên ghi nhớ: Tinh-túy của Đạo Phật chính là ba môn học vô-lậu: Giới-ĐỊnh-Huệ.

(TN. MTL, 2006-02-23).

-ooOoo-

11. KINH KEVADDHA

058. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG KINH KEVADDHA?

Vào một thời kia, đức Phật ngụ tại vườn Pavàri-kamba, làng Nalandà. Bấy giờ có cư-sĩ trẻ tuổi tên Kevaddha đến thỉnh-cầu đức Phật cho thi-triển các thần-thông trước mặt đông-đảo dân chúng trong làng nầy, để họ càng kính-tín Thế-tôn thêm lên.

Đức Phật từ-chối việc cho thi-triển thần-thông trước công-chúng, và nhơn đó Ngài giảng Kinh nầy, cho biết có ba loại thần-thông: (1) biến-hoá thần-thông, (2) tha-tâm thông thần-thông và (3) giáo-hoá thần-thông. Chỉ có loại thần-thông sau cùng là được đức Phật giảng-dạy, tức là ba môn học vô-lậu: giới, định, huệ.

Sau đó, đức Phật kể lại chuyện một vị Tỳ-kheo có thắc-mắc: chẳng biết bốn đại (đất, nước, lửa, gió) sau khi biến-hoại thì đi về đâu? Tỳ-kheo ấy nhập-định lên Thiên-giới, lần-lượt hỏi các vị Trời, và sau cùng được Đại-Phạm Thiên-vương mách cho, nên trở lại hỏi Phật. Đức Phật mới giảng cho vị Tỳ-kheo ấy biết, khi Thức diệt thì mọi thứ đều diệt-tận.

059. NỘI-DUNG KINH KEVADDHA.

Kinh Kevaddha khá dài, phần chánh bàn đến các thần-thông, thì hơi ngắn so với phần phụ, hơi dài-dòng có liên-quan đến việc trả lời thắc-mắc về đến bốn đại.

A.- Ý chánh: Trong các loại thần-thông, chỉ có giáo-hoá thần-thông là được đức Phật chỉ dạy mà thôi (đó là Giới-Định-Huệ). Còn việc đi tìm các bậc có thể giải-đáp thắc-mắc về sự tồn-tại hay tiêu-diệt của tứ-đại là ý phụ trong Kinh.

A.- Phân đoạn: Kinh Kevaddha có hai phần:

1.- Ba loại thần-thông:

Biến-hoá thần-thông: biến ra nhiều thân; đi xuyên ngang qua tường, núi; chui xuống đất rồi trồi lên, đi trên mặt nước, bay trên hư-không… bị Phật bác bỏ vì có thể bị hiểu-lầm là do chú-thuật Gandhàri.

tha-tâm-thông thần-thông: biết rõ các tâm-trạng, các suy-tư của kẻ khác… cũng bị Phật bác-bỏ vì có thể hiểu lầm là do chú-thuật Maniko.

giáo-hoá thần-thông: chỉ-dạy sự suy-tư đứng-đắn, sự trừ-bỏ các điều ác, sự tu-tập, chứng-đạt và an-trú các cấp thiền-định, sự giải-thoát… tức là Giới-Định-Huệ (trong Kinh Sa-Môn Quả), mới được đức Phật chấp-thuận, tuyên-thuyết và thi-triển.

2.- Một vị Tỳ-kheo thắc-mắc về sự tồn-tại hay tiêu-diệt của tứ-đại, đi tìm các bậc có thể giải-đáp được:

– từ cõi Tứ-Thiên-vương đến cõi Phạm Thiên: các vị Trời được hỏi, đều trả lời chẳng biết và mách đến vị khác cao hơn;

– đến cõi Trời Đại-Phạm, vị Đại-Phạm Thiên-vương, sau khi lúng-túng che-dấu sự ”dốt” của ông ta, mới khuyên vị Tỳ-kheo nên trở về gặp Phật để hỏi;

– lời giải-đáp của đức Phật: ”Khi Thức diệt, mọi thứ đều diệt tận”.

060. THẾ NÀO LÀ GIÁO-HOÁ THẦN-THÔNG?

Đức Phật nói: Thế nào là giáo-hoá thần-thông? Ở đời, có vị Tỳ-kheo giáo-hoá như sau: ”Hãy suy-tư như thế nầy, chớ có suy-tư như thế kia; hãy tác-ý như thế nầy, chớ có tác-ý như thế kia; hãy trừ bỏ điều nầy, hãy chứng-đạt và an-trú điều kia.”

Rồi đức Phật nhắc lại các lời giảng trong Kinh Sa-Môn Quả, về việc giữ giới-hạnh đầy-đủ, việc hộ-trì các căn, việc dẹp năm triền-cái, việc tu-tập các cấp thiền-định, và việc phát-triển trí-huệ tối thắng để đi đến sự giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn.

Đó là sự giáo-hoá thần-thông được đức Phật tự mình giác-ngộ và tuyên-thuyết.

061. HỌC KINH KEVADDHA, NÊN CHÚ-Ý ĐIỂM NÀO?

1.- Mục-đích chánh của việc tu-hành theo đạo Phật là để được giải-thoát khỏi cảnh Khổ của Luân-hồi. Người học Đạo còn sơ-cơ thường hay mong-cầu sớm đắc được các thần-thông. Ý-nghiã sâu-xa của Kinh Kevaddha dạy ta phải sớm bỏ sự mong-cầu chẳng chánh-đáng đó.

2.-Việc giáo-hoá thần-thông, như đã được đức Phật trình-bày trong Kinh nầy, chính là ba môn học vô-lậu Giới-Định-Huệ, đưa đến sự giải-thoát hoàn-toàn.

(TN. Mtl, 2006-02-24).

-ooOoo-

12. KINH LOHICCA

062. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG KINH LOHICCA.

Vào một thời kia, đức Phật du-hành tại nước Câu-tát-la (Kosala), ngụ nơi làng Sàlavatikà, cùng với năm trăm vị Tỳ-kheo. Có vị Bà-la-môn Lohicca (Lộ-già) tuy có mang ác-kiến nầy: ”Sa-môn, hay Bà-la-môn nào chứng được thiện-pháp, chẳng nên nói cho người khác biết, vì có ai lại làm giúp cho ai được”, nhưng xin thỉnh đức Phật đến nhà để cúng-dường và nghe pháp.

Nhơn đó, đức Phật giảng Kinh nầy nhằm đả-phá tà-kiến đó của Lohicca. Và Ngài cho biết có ba hạng đạo-sư chưa chứng các quả-vị Sa-môn mà thuyết pháp dạy đệ-tử, nên họ đáng bị chỉ-trích. Còn vị đạo-sư đáng kính-trọng là bậc đã chứng-đắc trọn vẹn đạo-quả, dạy cho các đệ-tử biết tin-nhận và tu-tập theo để đạt được đạo-quả như mình.

063. NỘI-DUNG KINH LOHICCA.

Kinh Lohicca nhằm phá bỏ ác-kiến ”người chứng được thiện-pháp chẳng nên chỉ dạy cho kẻ khác, vì có ai giúp được cho ai”. Trong Kinh nầy, đức Phật còn phân-biệt giữa một vị đạo-sư đáng kính-trọng với ba hạng đạo-sư đáng chỉ-trích, vì họ còn chưa chứng quả mà lại giảng pháp cho đệ-tử.

A. Ý chánh: Phá bỏ tà-kiến: ”chẳng nên nói pháp cho người khác”.

B. Phân đoạn: Kinh Lohicca có ba phần:

1.- Phá bỏ ác-kiến của Lohicca:

– Ác-kiến của Lohicca làm mất cơ-hội của kẻ khác được nghe giảng Chánh-pháp;

– Bằng phương-pháp vấn-đáp, qua hai thí-dụ, đức Phật chứng-minh ác-kiến của Lohicca là một tà-kiến, cần dẹp bỏ; nếu không sẽ tái-sanh vào đường ác.

– Thí-dụ I: Người nào bảo, chỉ để cho Lohicca hưởng một mình mọi sản-phẩm trong làng Sàlavatika, thì người ấy đã gây chướng-ngại cho các kẻ khác sống tuỳ-thuộc vào đó; như thế có hại cho họ. Người có tâm muốn hại kẻ khác là kẻ đang vướng phải tà-kiến.

– Thí-dụ II: cũng giống như thí-dụ I, với các nguồn lợi ở Câu-tát-la, chỉ để một mình vua Ba-tư-nặc hưởng, chẳng để cho những kẻ khác cùng chia-xẻ …

2.- Ba hạng đạo-sư đáng bị chỉ-trích:

– đạo-sư chưa đắc các quả Sa-môn, giảng pháp cho đệ-tử nhưng họ không nghe theo, và sống trái ngược với giáo-pháp của vị bổn-sư. Đó cũng như ”người muốn tán-tỉnh cô gái muốn xa mình.”

– đạo-sư chưa đắc các quả Sa-môn, giảng pháp cho đệ-tử được họ tin nghe và sống đúng theo giáo-pháp của vị bổn-sư. Đó cũng như ”người bỏ ruộng dưa của mình mà đến nhổ cỏ ruộng kẻ khác.”

– đạo-sư chưa đắc các quả Sa-môn, giảng pháp cho đệ-tử được họ lắng nghe, nhưng họ lại sống trái-ngược với giáo-pháp của vị bổn-sư. Đó cũng như ”người cắt sợi dây trói buộc cũ, lại tự làm một sợi dây mới.”

3.- Bậc đạo-sư đáng kính-trọng: tự mình đã chứng-đắc trọn vẹn đạo-quả Sa-môn, giảng dạy Chánh-pháp cho đệ-tử được họ tin nghe và tu-tập theo để đắc quả.

Đức Phật lần-lượt kể lại, theo như trong các Kinh Phạm-Võng, Sa-Môn Quả, các giai-đoạn tu-tập: từ giữ giới đầy-đủ, hộ-trì các căn, dẹp bỏ năm triền-cái đến việc tu-chứng các cấp thiền-định và phát-triển trí-huệ tối-thắng đưa đến giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn.

064. ĐỨC PHẬT GIÚP LOHICCA DẸP BỎ TÀ-KIẾN.

Sau đây là trích-đoạn Kinh-văn nói về cách đức Phật giúp Lohicca gạt bỏ được tà-kiến, bằng phương-pháp vấn-đáp:

(…) Nầy Lohicca, có thật chăng Người khởi lên ác-kiến như sau: ”Ở đời, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chứng được thiện-pháp, sau khi chứng được thiện-pháp, không nên nói cho người khác biết, vì có ai lại làm giúp cho ai được?…

– Vâng phải, Tôn-giả Gotama.

– Nầy Lohicca, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải Ngươi ở tại Sàlavatikà?

– Vâng phải, Tôn-giả Gotqma.

– Nếu có người nói: ”Lohicca sống ở Sàlavatikà. Hãy để Lohicca hưởng một mình mọi sản-phẩm của Sàlavatikà, không cho một ai khác.” Người nói như vậy là người gây chướng-ngại cho ai sống tùy-thuộc vào Ngươi, có phải không?

– Là người gây chướng-ngại, Tôn-giả Gotama.

– Nầy Lohicca, đã là người gây chướng-ngại, người ấy có phải là người có từ-tâm, nghĩ đến lợi-ích cho những người kia?

– Là người không có từ-tâm nghĩ đến lợi-ích cho kẻ khác, Tôn-giả Gotama.

– Đã không có từ-tâm nghĩ đến lợi-ích của kẻ khác, người ấy an-trú từ-tâm hay an-trú hại-tâm?

– Hại-tâm, Tôn-giả Gotama.

– Khi an-trú hại-tâm, như vậy là chánh-kiến hay tà-kiến?

– Là tà-kiến, Tôn-giả Gotama.

– Nầy Lohicca, Ta nói rằng, một người có tà-kiến sẽ sanh vào một trong hai ác-thú sau đây: điạ-ngục hay súc-sanh. (…)

065. NÊN CHÚ-Ý ĐIỂM NÀO KHI HỌC KINH LOHICCA?

1.- Học Kinh Lohicca nên chú-ý đến hai điểm:

a)- Phá bỏ cái tà-kiến ”chẳng muốn giảng Chánh-pháp cho kẻ khác biết” để tu-tập và đắc quả như mình;

b)- Chỉ giảng Chánh-pháp khi nào tự mình đã chứng quả và khiến cho người nghe biết tin theo để tu-tập.

2.- Kinh Lohicca, cũng như các Kinh khác trong Trường-Bộ Kinh, nhắc lại ba môn Học Vô-Lậu: Giới-Định-Huệ, được nói rõ ở hai Kinh Phạm-Võng, Kinh Sa-Môn Quả ở trước. Đó là cốt-tủy của Đạo Phật mà người học Kinh cần phải nghiền-ngẫm, hiểu thật rõ và thực-hành thật bền chí, cho đến ngày giác-ngộ.

(TN. Mtl, 2006-02-25).

-ooOoo-

13. KINH TEVIJJA .

066. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO ĐỨC PHẬT GIẢNG KINH TEVIJJA?

Vào một thời kia, đức Phật du-hành ở nước Kosala (Câu-tát-la), cùng với năm trăm vị Tỳ-kheo, ngụ tại vườn xoài bên bờ sông Aciravati. Lúc bấy giờ có hai thanh-niên Bà-la-môn, Vàsettha và Bhàradvàja, đến yết-kiến đức Phật và nhờ Ngài giải-quyết sự tranh-chấp của họ về con đường tu-tập nào thẳng-tắp đưa đến cõi Phạm-Thiên. Cả hai đều cho rằng chỉ có lời chỉ-dạy của riêng thầy mình mới là đúng nhứt.

Nhơn đó, đức Phật mới giảng Kinh Tevijja nầy. Trước hết, đức Phật bảo, chẳng có vị thầy Bà-la-môn nào thấy được đức Đại-Phạm Thiên-vương cả, cũng chẳng ai biết rõ con đường tu-tập đưa tới cõi Phạm-thiên; họ ”như một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa không thấy, người cuối cùng cũng không thấy.” Kế đó, Ngài vạch rõ các vị thầy Bà-la-môn đang chìm-đắm trong vũng lầy của năm dục-lạc, còn bị ràng-buộc bởi năm triền-cái, thì làm sao họ biết được, thấy được, con đường đưa tới cõi Phạm-thiên. Sau cùng, Ngài giảng cho hai thanh-niên đó con đường chơn-chánh đưa thẳng đến Phạm-thiên-giới: đó là con đường của Giới, Định, Huệ, Từ, Bi, Hỉ, Xả, được tuyên-thuyết trong Chánh-Pháp.

067. NỘI-DUNG KINH TEVIJJA.

Kinh Tevijja nhằm phá bỏ lối chỉ-dạy sai-lầm của tu-sĩ Bà-la-môn về con đường đưa tới cõi Phạm-Thiên và dạy rằng, ba môn học vô-lậu Giới, Định, Huệ trong Chánh-Pháp mới đưa các vị Tỳ-kheo chứng quả đến an-trú nơi cõi Trời Phạm.

A.- Ý chánh: Sự sai-lầm của đạo Bà-la-môn và sự đúng-đắn của đạo Phật, (với ba môn học Giới-Định-Huệ), về con đường đưa tới cõi Phạm-Thiên.

B.- Phân đoạn: Kinh Tevijja chia ra hai phần:

1.- Sự sai-lầm trong lời dạy của Bà-la-môn về con đường dẫn đến sự an-trú nơi cõi Phạm-Thiên:

– Vàsettha và Bhàradvàja tranh-biện nhau về lời chỉ-dạy của mỗi vị thầy Bà-la-môn của họ về con đường dẫn đến ”cộng-trú với Phạm-Thiên.”

– Đức Phật cho rằng, các vị thầy Bà-la-môn đó và cả các bực tôn-sư của họ, chẳng ai thấy tận mặt vị Phạm-Thiên, và cũng chẳng biết con đường nào đưa tới Phạm-thiên-giới cả, mà lại dạy đệ-tử về con đường ấy.

– Với các thí-dụ cụ-thể, Đức Phật vạch rõ chỗ sai-lầm trong thái-độ của các vị thầy Bà-la-môn cũng như: (a) cầu-khẩn, tán-thán chỗ mặt trăng mọc và lặn đâu có đưa đến việc cộng-trú với mặt trăng; (b) như khi nước sông Aciravati bị tràn ngập, kẻ đứng ở bờ bên nầy, cứ kêu gọi mãi bờ bên kia hãy sang đây, thì có bao giờ sang sông cho được…

– Đức Phật chỉ rõ: các vị thầy Bà-la-môn còn đang chìm-đắm trong năm món dục-lạc, còn bị năm triền-cái ngăn-che, trong khi đấng Phạm-thiên chẳng có tham-ái, chẳng có nhiễm-tâm, luôn luôn tự-tại, thì làm sao mà họ có thể cộng-trú với vị Phạm-Thiên được.

2.- Đức Phật chỉ dạy con đường đưa đến sự cộng-trú với Phạm-Thiên:

– Sau khi nghe được Chánh-Pháp, thì xuất-gia làm Tỳ-kheo, từ bỏ gia-đình, tài-sản và quyến-thuộc, sống dưới sự chế-ngự của Giới-bổn (Pàtimokkha);

– giữ giới-hạnh cụ-túc (xem lại Kinh Sa-Môn Quả);

– hộ-trì các căn, dẹp năm triền-cái, tu-tập Thiền-định (xem lại Kinh Sa-môn Quả);

tu-tập bốn tâm vô-lượng: Từ, Bi, Hỉ, Xả.

– Như thế, ”Tỳ-kheo sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng-trú với Phạm-Thiên”.

068. TRÍCH ĐOẠN PHẦN VẤN-ĐÁP GIỮA ĐỨC PHẬT VÀ VÀSETTHA, VẠCH RÕ LỐI DẠY THIẾU CHÂN-THẬT CỦA CÁC VỊ ĐẠO-SƯ BÀ-LA-MÔN.

”- Nầy Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có nghe những Bà-la-môn niên cao lạp trưởng, tôn-sư và đại tôn-sư (của họ) cùng nhau nói chuyện không? Phạm-Thiên có dục-ái hay không có dục-ái?

– Tôn-giả Gotama, không có dục-ái.

– Có hận-tâm hay không có hận-tâm?

– Tôn-giả Gotama, không có hận-tâm.

– Có nhiễm-tâm hay không có nhiễm-tâm?

– Tôn-giả Gotama, không có nhiễm-tâm.

– Có tự-tại hay không có tự-tại?

– Tôn-giả Gotama, có tự-tại.

– Nầy Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Các Bà-la-môn tinh-thông ba tập Kinh Vệ-đà có dục-ái hay không có dục-ái?

– Tôn-giả Gotama, có dục-ái.

– Có hận-tâm hay không có hận-tâm?

– T ôn-giả Gotama, có hận-tâm.

– Có sân-tâm hay không có sân-tâm?

– Tôn-giả Gotama, có sân-tâm.

– Có nhiễm-tâm hay không có nhiễm-tâm?

– Tôn-giả Gotama, có nhiễm-tâm.

– Có tự-tại hay không có tự-tại?

– Tôn-giả Gotama, không có tự-tại.

– Nầy Vàsettha, Ngươi nói rằng các Bà-la-môn tinh-thông ba tập Vệ-đà là có tham-ái, Phạm-Thiên không có tham-ái. Giữa các Bà-la-môn tinh-thông ba tập Vệ-đà là có tham-ái với Phạm-Thiên không có tham-ái, có thể có một sự cộng-hành, cộng-trú không?

– Tôn-giả Gotama, không thể có được.

– Lành thay, Vàsettha ! Nầy Vàsettha, những Bà-la-môn tinh-thông ba tập Vệ-đà có dục-ái ấy sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng-trú với Phạm Thiên?

– Thật không thể có sự-kiện ấy…”

069. HỌC KINH TEVIJJA NÊN CHÚ-Ý ĐIỂM NÀO?

1.- Thường-nhơn khi tu-hành thường mong-cầu được sanh lên ”Thiên-đàng”, để được sống sung-sướng. Đó là tâm-trạng của hai thanh-niên Bà-la-môn nói trong Kinh nầy, quá tin-tưởng vào lời thầy họ đã chỉ-dạy sai-lầm con đường đưa thẳng đến cõi Phạm-Thiên. Đức Phật giảng rõ tu-tập như thế nào mới được sanh lên cõi Trời. Nhưng mục-đích chánh của Phật-học là việc giải-thoát khỏi cảnh Khổ sanh, già, bịnh, chết, chấm dứt vĩnh-viễn việc tái-sanh vào sáu nẻo Luân-hồi, để chứng được cõi Niết-bàn an-vui, tịch-tĩnh. Người học Kinh Tevijja nên ghi nhớ kỹ mục-đích đó.

2.- Mỗi bản Kinh Phật đều khởi đầu bằng một tên Kinh. Trước khi đức Phật chấm dứt lời thuyết-giảng, các vị đệ-tử thường hỏi đức Phật đặt tên Kinh là gì, cùng cách thọ-trì Kinh ấy.

Tên Kinh thường là:

tên người đương-cơ (người thỉnh Phật giảng bài Kinh đó), như Kinh Mahàli, Kinh Kassapa:

tên một pháp-tu, như Kinh Sa-môn Quả;

tên một thí-dụ, như Kinh Phạm-Võng, lấy thí-dụ cái lưới (Phạm-Võng) tóm thâu hết 62 kiến-chấp vào trong đó, chẳng gì thoát ra khỏi.

Trường-hợp tên của Kinh Tevijja rất lạ. Đọc suốt bản Kinh, chẳng thấy có ai mang tên Tevijja, chẳng có pháp-tu nào gọi là Tevijja, cũng chẳng thấy chữ Tevijja dùng làm thí-dụ, cũng chẳng thấy có đoạn nào nhắc đến chữ Tevijja, ngoài cái tên ở đầu Kinh.

Tra-cứu lại trong quyển Kinh Trường A-Hàm thuộc Hán-tạng nơi bản Kinh Tam-Minh (tương-đương với Kinh Tevijja thuộc Hệ Pali), có đoạn như sau:

...”Sở dĩ có cuộc tranh-luận đó, là vì Bà-la-môn Tam-Minh đưa ra ba con đường: con đường tự-tại dục, con đường tự-tác và con đường Phạm-Thiên. Ba con đường nầy đều đưa đến Phạm-Thiên…”

Tra-cứu Từ-điển Pali-Việt, chữ Tevijja có nghiã: Te là ba; Vijjà là sự hiểu-biết, kiến-thức.

Mặc dầu thắc-mắc về Tên Kinh chẳng quan-trọng bằng việc tìm hiểu nội-dung lời Phật dạy trong Kinh, nhưng cũng xin đề-nghị nên tạm hiểu như vầy: Kinh Tevijja lấy tên của vị Bà-la-môn Tam-Minh, để đặt tên cho Kinh, vì vị nầy có đưa ra ba đường-lối tu-tập đưa đến việc tái-sanh lên cõi Phạm-Thiên. Hai thanh-niên Vàsettha và Bhàradvàja đã tranh-luận nhau vì mỗi người cho rằng con đường của vị thầy mình mới là con đường thẳng-tắp nhứt đưa tới cõi Trời Phạm.

(TN. Mtl 2006-02-27).

%d bloggers like this: