Category Archives: sống có ích

Phần 1. Cấu hình Hệ thống đào tạo trực tuyến thế hệ mới – ROBUSTA Distance Learning 2015


1. Tổng quan:

Đào tạo từ xa (E-learning) với khả năng cung cấp bài giảng đa phương tiện và hỗ trợ việc dạy và học cho mọi người, ở mọi nơi và mọi lúc , đây là một phương pháp hữu hiệu để hỗ trợ bổ sung hoặc thậm trí thay thế một số bộ môn trong hình thức đào tạo truyền thống.

Mô hình E-learning phổ biến nhất hiện nay là phát triển các hệ thống đào tạo trực tuyến dựa trên nền web (Web-Based Training  “WBT”) cho phép quản lý một số lượng lớn người dùng thuộc 6 nhóm chính:

  1. Quản trị hệ thống mạng và dịch vụ (đảm bảo về kỹ thuật, cấu hình dịch vụ cho hoạt động ổn định của hệ thống).
  2. Quản trị hệ thống nội dung, chương trình đào tạo (Nhóm người quản lý các chức năng đào tạo, theo dõi qui mô, tiến trình, báo cáo và đánh giá chất lượng đào tạo để có thể ra các quyết sách hợp lý).
  3. Giảng viên (nhóm đối tượng khai thác chức năng của cả đào tạo “LMS” và quản lý nội dung giáo trình dạy “LCMS” để xây dựng bài giảng và quản lý việc sử dụng bài giảng).
  4. Trợ giảng, người theo dõi quản lý lớp/ khóa học.
  5. Học viên (nhóm đối tượng sử dụng đông đảo và đa dạng nhất của hệ thống. đối với một hệ WBT cho cộng đồng, học viên có thể là mọi đối tượng trong xã hội. Học viên chủ yếu khai thác trực tiếp các chức năng của phân hệ đào tạo “LMS”).
  6. Phụ huynh / người quản lý trực tiếp nhóm của học viên.

và cung cấp các hình thức tương tác giữa 6 nhóm phong phú như:

  1. Lưu sổ điểm, học bạ,điểm danh, chứng chỉ, theo dõi tình hình học tập, tiến trình ôn tập của từng cá nhân học viên.
  2. Hệ thống tương tác qua email, sms, trao đổi qua văn bản / hình ảnh / âm thanh, streaming media.
  3. Cung cấp các nguồn thư viện điện tử, media, video/audio, giáo trình tham khảo điện tử , trình chiếu powerpoint slides, adobe flash, silverlight …
  4. Hệ thống ôn tập thi chứng chỉ các chuyên ngành học dạng ngân hàng đề thi trắc nghiệm, thi mô hình simulators / hotspot, điều khiển Labs thực hành trên máy tính và mạng ảo, chấm điểm tự động.
  5. Khả năng remote hỗ trợ từ xa các máy desktop của giảng viên, học viên chuyên các bộ môn: ITIL, Helpdesk, chăm sóc khách hàng CRM …
  6. Khả năng học nhóm, họp phòng, hội thảo, triển lãm CNTT từ xa bằng tích hợp các hệ thống điện toán đám mây như: Google App, Office 365 hoặc Lync Conferencing 2010/2013, VMware Virtualization…
  7. Hệ thống thực hành trực tuyến điều khiển từ xa giúp học viên, giảng viên và quản trị hệ thống mạng xây dựng được các bài thực hành : Virtualization Data center, SharePoint, BizTalk, Virtualization System, Hybrid Cloud, Private Cloud…
  8. Tích hợp với các mạng xã hội như: facebook, linkedin, youtube, flickr, google, Microsoft Azure, Moodlenews… giúp việc ad/pr, marketing tin tức hoạt động, chương trình đào tạo của hệ thống hiệu quả cao hơn.

Moodle-social

Chính vì vậy đã có nhiều hệ thống WBT được phát triển và số người tham gia vào các hệ thống này ngày càng tăng.

 

2. Cấu trúc cơ bản của WBT:

Một hệ thống WBT hoàn chỉnh thường bao gồm hai thành phần chính:

  1. Phân hệ quản lý đào tạo (Learning Management System – LMS).
  2. Phân hệ quản lý nội dung đào tạo (Learning Content Management System-LCMS).

image

  • LMS là một hệ thống quản lý các quá trình học tập, bao gồm việc đăng ký khoá học của học viên, phân phối các nội dung học cho học viên, các hoạt động kiểm tra đánh giá, và các hoạt động tương tác trong cộng đồng người sử dụng. Một số LMS còn hỗ trợ nhà quản lý và giảng viên thực hiện giám sát tiến trình học và chất lượng học, hỗ trợ các hình thức tương tác trực tuyến và bài giảng đồng bộ.
  • LCMS là hệ thống hỗ trợ việc xây dựng nội dung học tập bao gồm việc tạo, cập nhật, tìm kiếm và sử dụng lại các module bài giảng. Bài giảng có thể được thể hiện dưới nhiều mức khác nhau từ văn bản cho đến bài giảng đa phương tiện chứa video và bài giảng dạng mô phỏng hỗ trợ tương tác. Hầu hết các hệ LCMS đều tiến tới hỗ trợ việc biểu diễn bài giảng theo các chuẩn thống nhất (ví dụ: SCORM hay XML) để dễ dàng chia sẻ và sử dụng lại.

image

 

3. Công nghệ đáp ứng nền tảng:

  1. Web Server: Apache / IIS 7.5 trở lên.
  2. Hệ quản trị CSDL: MySQL 5.x / MS SQL Server 2008 R2 trở lên.
  3. Directory: AD, LDAP / OpenLDAP.
  4. Ngôn ngữ lập trình: PHP 5.x / ASPX 2 trở lên, XML/XSL/ Notes.js
  5. Trình duyệt web: Internet Explorer 6 trở lên; Chrome; Firefox, Opera, Safari, WAP 1.x; Nescape 5.x trở lên

 

4. mô hình các thành phần của hệ thống đào tạo trực tuyến:

image

5. Cấu trúc các chức năng hệ thống:

image

6. Cấu trúc của một môn học trực tuyến:

image

 

7. Yêu cầu kỹ năng tương tác của giảng viên:

image

8. Triển khai mô hình LMS vs LCMS trong đào tạo trực tuyến:

MOOC

Lưu ý: Trong mô hình trên chúng ta sẽ vướng phải yêu cầu về đăng nhập 1 lần (SSO) sử dụng giao thức LDAP:// 389 hoặc LDAPS để trao đổi thông tin, đăng nhập xác thực 1 lần giữa WBT, web service với email, ftp, portal và LMS – LCMS của các sản phẩm công nghệ quản lý đào tạo sẵn có như: Moodle, Blackboard, SharePoint Learning gateway …

(xin xem phần 2. Triển khai cấu hình đăng nhập 1 lần giữa Moodle và AD server).

9. Triển khai mô hình hệ thống Cân bằng tải:

image

Hết phần 1.

Bệnh “Ngộ nhận” là gì ? làm sao lại có bệnh này và cách chữa bệnh này ?


Trên đời hoạn lộ có rất nhiều cảnh đời và con đường mà mỗi người chọn để đi, để sống “ĐƯỜNG SỐNG” và cái nghiệp nó dẫn dụ đi theo “NGHIỆP DẪN” (hơi khó hiểu ở vế sau, nhưng mà có lẽ đúng vì chúng ta luôn có 2 vế để mà cân bằng).

Sống trên đời có 2 thứ chúng ta xét tới đó là:

Loại người thứ nhất: sẽ nói nhiều trước khi làm hoặc “chém gió” trước khi nghĩ và làm thực.

Loại người thứ hai: sẽ làm hùng hục trước khi nói hoặc “Trảm” trước khi tấu (ít có khả năng mắc bệnh, không bàn đến trong bài này).

– Tôi xin vẽ cách hiểu logic của những thứ nói trên như sau:

image

– Xét theo góc độ bệnh học: chúng ta có thể đổ lỗi về căn nguyên bệnh này là do Virus “Ngộ nhận”

Virus bệnh này ấp ủ thường trực trong mỗi suy nghĩ con người chúng ta, với những ai tỉnh táo, sáng suốt, mạnh khỏe tinh thần thì nó khống có điều kiện chuyển thành bệnh, với bất kỳ ai mụ mẫm, háo danh, mờ mắt chỉ cần có điều kiện là mắc bệnh ngay.

Các Cán bộ viên chức nào cũng mong muốn có bảng thành tích cá nhân vàng chóe để khẳng định khả năng sáng tạo, sự thông minh nhạy bén, khiếu diễn thuyết, tài viết lách, cuốn từ điển sống của tri thức, trình độ thuyết phục dẻo đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra…

Muốn kết luận được tài năng của bản thân lại cần đến những người xung quanh nhận xét về mình, mà thái độ của thiên hạ vô cùng đa dạng:

  1. Người dĩ hòa vi quý lúc nào chẳng gật gù, nắm tay lắc lắc,
  2. Người giữ xã giao mỉm cười, nhìn xa ngẫm nghĩ,
  3. Người không muốn biểu lộ thái độ thì quay đi chăm chú làm việc khác,
  4. Chỉ một thiểu số người vì lý do sâu xa nào đó sẽ tán thưởng nồng nhiệt khen ngợi hết lời, tấm tắc lắc lư thế là cơn bệnh ngộ nhận bắt đầu phát tác tự nhiên hơn cả ruồi.

Những người ngộ nhận thấy tự tin hơn, khi gặp gỡ đồng nghiệp và cấp trên rất đon đả, chững chạc, trong đầu họ lăm lăm một số ý tưởng, chủ đề thu phát được qua các tần số tán gẫu công cộng, chỉ đợi dịp là thao thao bất tuyệt.

Hệ quả: vậy là đã có nhiều sếp cứ ngỡ rất tình cờ tìm ra nhân tài bèn tin cậy giao việc cho mặc sức thể hiện và ung dung đợi kết quả như ý trong khi những tài năng này lo toát mồ hôi hột chạy vạy nhờ vả anh em, bạn bè giúp đỡ làm hộ, viết thuê để cốt sao thành quả thật hoành tráng tương xứng với năng lực mà bản thân và cấp trên cùng ngộ nhận.

Tác dụng phụ:

Không ít trường hợp đã biết rõ mình nhưng cố tình “hình tượng hóa bản thân – nặn tượng”  cao lồng lộng bằng cách lo lót bằng cấp này nọ, thuê làm luận văn để đại từ nhân xưng có thêm mấy tiền tố đáng nể hơn. Một số người khác còn bào chế những tuyệt chiêu bằng cách quảng cáo, khuếch trương những quan hệ ảo. Họ thường đưa ra vài đại từ nhân xưng thân mật hoặc danh từ riêng kiểu:  cái tay Nguyễn Văn X này, ông anh Minh Z ấy, sếp Trần Y chứ gì… với giọng điệu người nhà, thậm chí còn lấy điện thoại di động ra bấm số gọi ngay, sau một lúc lại thanh minh tiếc rẻ anh ấy, sếp ấy chắc đang bận họp nên tắt máy (thực tế đọc được mấy cái tên này trên báo chí hoặc nghe ai đó kể chuyện có quen biết, thế là coi như bạn người cũng là bạn mình, “thế giới đại đồng “).

Qua kịch bản biểu diễn của bệnh nhân ngộ nhận ấy mà khối người lác mắt, cung kính nhờ cậy việc này việc nọ…

Xét trên khía cạnh nhân văn, người nào ngộ nhận về bản thân thì bất lợi trên đường sự nghiệp. Lý do là mình tự kỷ ám thị đến mức theo chủ trương duy ngã độc tôn, coi thiên hạ yếu kém, mãi đến lúc sực tỉnh mới ngấm sự chán ngán, suy sụp. Hơn nữa, để người khác ngộ nhận về mình thì hậu quả xấu cho cả hai bên: người được ngộ nhận càng đắc ý uống thuốc mê quá liều khó tỉnh, người ngộ nhận thì thất vọng bởi không chọn đúng mặt gửi vàng, lại còn hoang mang vì trình độ bản thân không phân biệt được thật giả, hay dở. Có những người chưa từng hiểu lầm về bản chất và năng lực của mình nhưng do vài lần được khen thành tích nhỏ như ong mật thành con chim công, thế là vênh váo tự hào coi mình bắt đầu gia nhập thế hệ thiên tài mới. Tất nhiên không phải ai cũng cả tin với lời khen như vậy nhưng do được nhiều lời khen lấy lòng quá đâm ra sung sướng, tự thấy mỹ mãn với mình.

Nguyên nhân bệnh thêm nặng:

Có thể kết luận rằng: khen ngợi không trung thực chính là nguyên nhân khiên cho bệnh ngộ nhận phát tác. Tăng bốc phỉnh nịnh là liều thuốc độc cực mạnh giết chết nhận thức chân chính. Ngỡ rằng đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh sẽ có thuốc chữa trị, nhưng giời ạ, khó lắm! Làm gì có loại cân đo vi chính xác để xác định lời khen nào thật, giả? Có ai thừa nhận rằng những lời mình vừa nói là tâng bốc? Cho nên danh ngôn mới chua rằng: lời nói như tên, đã cắm vào tai ai, không tài nào rút ra được. Tất nhiên, cần có ngoại lệ cho những câu nói khiến cho người ta ngộ nhận, đó là những mũi tên vô hình tẩm mật ong rừng! Ngọt ngào lắm ai ơi!

 

Phương pháp chữa:

Rất ít thuốc để chữa, thuốc rất đắng tùy thuộc cấp độ bệnh nhẹ hay nặng và quan trọng “Tự vấn lương tâm và tự giác ngộ”:

  • Có thấy sai không ?
  • Có thấy cần quay đầu lại để làm lại mà không hối tiếc không ?
  • Có tự vấn lương tâm chua sót trước khi trở thành người có “Đạo đức giả” không ?

 

Thuốc chữa chỉ có tác dụng hiệu quả:

  • Khi thấy cảnh đời con người đau khổ, chỉ có cảm thông sâu sắc, chia sẻ với họ thật lòng, các bạn à: “sống trong đời sống cần có tấm lòng cao thượng  biết hy sình vì gia đình, người thân, bạn bè” mới không bao giờ còn cái bệnh Quỉ quái đó.
  • Trong lời ăn tiếng nói phải tử tế, trân thành và biết trân trọng mọi người

(từ cái nhỏ nhất đừng có văng tục chửi thề, ngay cả từ viết tắt chửi tục cũng vậy – vì cái tâm của bạn nó nghe được, nó cũng sẽ nhớ được, nó thành quen ở mồm “Khẩu thiệt” thì nó cũng có thể dẫn đến ở ý thức, nhận thức và hành động của bạn “nó là Vô thức ý” rồi dẫn tới hành sử thực tế của bạn. Đậy gọi là “NGHIỆP DẪN Ý” nhiều tai họa, tính mạng hiểm nguy chỉ bởi lời ăn tiếng nói, câu viết như vậy đó).

  • Đừng lười suy nghĩ, đừng lười lao động chân tay hay trí óc, hãy vận động để sáng tạo hãy học hỏi thay vì ngồi chỗ “Chém gió”, hãy làm việc cho dù “Chó cứ sủa đoàn người cứ đi”.
  • Không phải vì bạn đóng góp cho ai, cho xã hội nào, cho công ty nào được nhiều giá trị là vinh quang đâu, đừng lầm tưởng nay có thể là như thế này mai thế khác nhưng Lao động là vinh quang.
  • Hạn chế “Chém gió” khi có thể là tiết kiệm thời gian dành cho Lao động hoặc chỉ đúng với mục đích tôn cao giá trị của “Lao động là vinh quang”.

 

Chúc Cô gì, chú bác, anh chị em và tất thẩy Trời – người – các loài vật không mắc bệnh “NGỘ NHẬN” !

 

Trích báo:  Hà nội ngàn năm văn hiến.

P.S: Bài này không có trong báo sức khỏe & đời sống.

Bài sám hối trước tượng phật Ngài Quán thế âm Bồ tát


Quì trước Tượng Quán thế âm Bồ tát

1 Bát nước trong vắt 9 hạt gạo thơm

Cúi đầu chấp tay

Con xin lay phật

Lòng con thành thật

Chí nguyêh theo Ngài

Lãnh cõi trần ai

Mong về Tịnh độ

Thấy đời thật khổ

Lắm kẻ điêu tàn

Sống kiếp lầm than

Vì chưa giác ngộ

Nay con đã rõ

Dù trễ hơn không

Cố sức gắng công

Xả thân cầu đạo

Lánh vòng phiền não

Núp bóng từ bi

Mạn tham sân si

Con nguyện từ khước

Lỗi lầm từ trước

Vì tánh còn mê

Nay con xin thề

Thành tâm sám hối

Lấy công chuộc tội

Quyết chí tu hành

Lánh dữ theo lành

Vun trồng cội phúc

Nước nay tuy đục

Lọc mãi phải trong

Con nguyện hết lòng

Bồ đề kiên cố

Lợi danh cám dỗ

Chẳng chút động tâm

Bụi tục bụi trần

Con nguyện dũ sạch

Cho lòng thanh bạch

Cho chí thanh bình

Chánh niệm quang minh

Cầu xin chư Phật

khi con nhắm mắt

Xin phóng đạo hào quang

Tiếp dẫn cho con

Nương về Tịnh độ

Nguồn mê bể khổ

Nghiệp chướng luân hồi

Nay đã dứt rồi

Con xin thệ nguyện

Nguyện thành chánh giác

Nguyện độ chúng sinh

Nguyện thành Phật đạo

 

HỒI HƯỚNG

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ a di đà phật.

 

Nguyên tác: Đệ tử Phùng Thị Thơm

Hiệu Pháp Danh: Cư sĩ Diệu âm : Diệu Hương

 

Chế tác: Đệ tử Lê Toàn Thắng

Hiệu Pháp danh: Đàm Hiếu

 

Vai trò của Tướng Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV


Hoàng Anh Tài

Tam quan đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí

(xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An). Ảnh: Thảo Nguyên

Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (1379-1465) sinh quán tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Trong cuộc đời 69 năm của Cương quốc công thì đã có 60 năm Ngài gắn bó với sự nghiệp triều Lê sơ, từ khi còn là một cậu thiếu niên đến lúc trở thành một công thần, rường cột của triều đình.

Nói về Nguyễn Xí, vua Lê Thánh Tông từng có nhận xét: “Nguyễn Xí: Khí chất cứng cỏi to tát, tính vốn trầm hùng, giúp Cao Hoàng khi mở nước trăm trận gian nan. Giúp Tiên khảo lúc thủ thành một lòng phò tá. Trong ngoài hết chức phận tướng văn, tướng võ, trước sau giữ trọn tiết làm tôi, làm con. Giữ mình có đạo hồn nhiên như viên ngọc không lộ sáng. Nghiêm sắc mặt ở triều, lẫm liệt như thanh kiếm mới tuốt. Các quân đều tưởng mộ phong thái, bốn biển đều trông thấy uy danh. Tiên đế mất trong khi đi tuần phương Nam, người ân cần nhận chiếu ký thác. Ta lên ngôi như mặt trời mới mọc, người bày tỏ hết mực mưu mô giúp rập. Tôn miếu xã tắc được yên vững, trung châu man di đều thuần phục…”(1)

Cùng với những công lao to lớn trên bình diện quốc gia đã được lịch sử dân tộc ghi nhận, Nguyễn Xí còn có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành nên nhiều làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ và trên địa bàn tỉnh Nghệ An ở thế kỷ thứ XV. Phạm vi bài báo này xin đề cập tới: Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành làng xã ở Nghệ An.

Ngay sau ngày đất nước đại định, triều Lê sơ đã thực thi việc bình xét công trạng đi liền với ban cấp lộc điền cho hoàng thân, quốc thích và các khai quốc công thần – những người đã có nhiều công lao giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, giải phóng đất nước. Việc làm này của Lê Lợi và vương triều Lê sơ còn nhằm gắn chặt trách nhiệm của quan lại đối với triều đình phong kiến trung ương tập quyền, đang là xu thế tiến bộ bấy giờ.

Cũng như nhiều vị khai quốc công thần thời Lê sơ, Nguyễn Xí đã được triều đình ban thưởng hàng nghìn mẫu ruộng lộc điền, mà phần lớn là thế nghiệp điền – loại ruộng đất được quyền sử dụng vĩnh viễn.

Tuy gia tộc Nguyễn Đình không còn lưu giữ được các sắc chỉ của triều Lê ban cấp ruộng đất cho Nguyễn Xí, nhưng nội dung Di huấn của Nguyễn Xí hiện còn lưu tại nhà thờ, gia phả dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp và một số thư tịch cũ đã cho ta biết cụ thể số ruộng lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 5.135 mẫu ở rải rác từ Hải Dương đến Nghệ An, Hà Tĩnh, bao gồm 6 trấn, 25 huyện, 93 xã(2). Trong đó, tại trấn Nghệ An (bao gồm địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 1009,5 mẫu, được phân bổ trên địa bàn của các phủ: Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và 5 huyện: Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương và Thiên Lộc.

Cùng với việc xác nhận số đất đai được ban cấp, Di huấn của Nguyễn Xí cũng nhắc nhở trách nhiệm của con cháu trong việc ghi nhớ công lao của tiền nhân: “Vua ra sắc lệnh ban cho Ta được hưởng ruộng đất lộc điền và Ta mới tương tậu thêm một số ruộng đất ở các xứ, phủ, huyện xã đều đặt làm sản nghiệp vĩnh viễn. Nay chúng mày được hưởng sự giàu sang, nhà đẹp, ruộng đất, nên nhớ lại khi Ta khó nhọc phát bụi, chặt gai. Thấy cảnh trí, ca nhi, vũ nữ, nên nghĩ đến lúc Ta chịu khổ gối gươm, nằm đất(3)

Ngoài hàng ngàn mẫu “lộc điền” được ban cấp, số đất ruộng do Nguyễn Xí tương tậu (mua) và tổ chức khai khẩn thêm còn có trên 765 mẫu, tập trung chủ yếu vùng xung quanh làng Thượng Xá quê hương Ngài.

Do bận việc quân cơ, triều chính, Nguyễn Xí không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình mà giao chủ yếu cho con cháu quản lý và thu hoa lợi. Thông thường mức địa tô mà người cày ruộng lộc điền phải nộp cho Nguyễn Xí trong khoảng 1/3 sản lượng, sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cần thiết. Mức thu này bằng, hoặc thấp hơn qui định của nhà nước; những năm mất mùa thì được miễn giảm tùy theo tình hình thực tế của mùa vụ.

Tuy nhiên, theo thời gian và sự biến động của lịch sử, số ruộng đất của Nguyễn Xí cũng bị thất thoát dần. Trong đó, một phần bị tư nhân hóa, một phần bị cường hào các địa phương chiếm đoạt; thậm chí do một số con cháu quá đói, buộc phải bán “ruộng họ”. Do đó, trong thực tế mức hoa lợi mà Nguyễn Xí cũng như con cháu thu được chỉ ở mức nhất định. Nhưng, việc khai thác, sử dụng ruộng đất của Nguyễn Xí đã góp phần đáng kể vào công cuộc mở mang kinh tế và quá trình hình thành nên nhiều làng xã ở nước ta trong thế kỷ thứ XV, mà chỉ tính riêng trên địa bàn Nghệ An thì đã có hàng chục làng xã thuộc 4 phủ, 5 huyện. Đây là một trong những đóng góp quan trọng nữa của Cương quốc công Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình rất cần được ghi nhận.

Theo Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở xã Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết: Nguyễn Xí đã giao cho Nguyễn Trọng Đạt (người con thứ 10) cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chàm, gồm các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp tiến hành khai khẩn đất đai tại vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc. Kết quả công cuộc khai khẩn ruộng đất đã hình thành nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng (nay thuộc địa bàn xã Nghi Hương và xã Nghi Thu, (thị xã Cửa Lò). Số hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử tử tế như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi những làng xã mới khai khẩn. Quá trình lao động và chung sống lâu đời, những nhóm người Chăm đó đã hoàn toàn hòa hợp với nông dân ngưòi Việt(5).Ngoài ra, Nguyễn Xí còn sử dụng bọn hàng binh nhà Minh, như Nguyễn Sĩ, Nguyễn Tiếp cùng dân địa phương khai hoang lập ra làng Phú Ích (nay thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc). Di huấn của Nguyễn Xí cũng ghi lại điều đó.

Đề cập đến vấn đề này, học giả người Pháp Hippolyte Le Breton trong cuốn An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh) được Tập san Đô thành hiếu cổ xuất bản lần đầu vào năm 1936 đã viết những dòng, như sau:

“Nguyễn Xí được cấp lãnh địa cả miền duyên hải nằm giữa Cửa Lò và Cửa Hội (Hội Thống) ngày nay. Trong số các đầm phá này có Bàu Ó, cái bàu mà theo các sách Dư địa chí thì gọi là hồ nước biển. Dọc theo bờ Bàu Ó, Nguyễn Xí lập nên làng Bàu Ó mà đất đai thì do một đám tù binh người Tàu mà Nguyễn Xí bắt được trong các cuộc chiến tranh ở An-Tĩnh (1418-1428) khai khẩn. Trên những đầm phá khác, Nguyễn Xí lập ra rất nhiều làng. Đất đai mới nổi lên đều do những người Chăm khai khẩn. Những người này do Nguyễn Xí bắt được trong cuộc đánh nhau với nước Chăm Pa năm Thái Hòa thứ 3, đời Nhân Tôn, tức năm Ất Sửu (1445)”.(5)

Tương truyền Làng Long Trảo (Móng Rồng), xưa thuộc làng Khánh Duệ, (nay thuộc xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc), là nơi được Nguyễn Xí chọn làm địa điểm tổ chức lễ mừng công sau ngày đất nước đại định. Lễ hội được tổ chức vào ngày mồng 01 tháng Hai âm lịch. Hàng năm đến ngày này, quan khách và con cháu khắp mọi miền đất nước kéo về đây dự lễ. Để có hàng hóa phục vụ lễ hội, Nguyễn Xí đã cho cưới chợ Sơn và giao làng thu thuế chợ nộp cho họ Nguyễn Đình mỗi năm 6 quan để góp vào việc tổ chức lễ hội mừng công. Chợ Sơn ra đời từ đó, mà người có công cưới chợ là Cương quốc công Nguyễn Xí.

Về sau, vào ngày 16 tháng 6 âm lịch hàng năm, tại chợ Sơn, dòng họ Nguyễn còn tổ chức tiểu lễ (lễ nhỏ) để tri ân những người có công với nhà Lê, với Nguyễn Xí, nhưng chưa được ban thưởng mà đã chết. Tại lễ này, Nguyễn Xí hoặc con cháu thay mặt Ngài tạ lỗi với những oan hồn đã bỏ xác trong các cuộc binh đao…Việc làm này, nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đó là sự biểu hiện của tình cảm “uống nước, nhớ nguồn“ – tấm lòng nhân văn cao cả của Cương quốc công Nguyễn Xí và gia tộc Nguyễn Đình.

Nguyễn Xí có 15 người con trai, 8 người con gái. Tất cả 15 người con trai đã noi gương thân phụ, đều hết lòng trung quân, ái quốc; trong 15 người thì có 7 người giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình và 8 người điều khiển chỉ huy 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu của nước Đại Việt. Nhiều người trong số họ đã được phong tước Hầu, hoặc Quận công; có người được phong làm Quốc công. Còn 8 người con gái đều lấy chồng thuộc các gia đình quí tộc. Quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất của con cháu Nguyễn Xí cũng góp phần mở mang kinh tế và hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn nước ta.

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết: Thái úy Nguyễn Sư Hồi – con trai cả của Cương quốc công Nguyễn Xí là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành làng Vạn Lộc – tiền thân của phường Nghi Tân, (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài ngót 5 cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc kinh dinh của Nguyễn Sư Hồi ở thế kỷ thứ XV.

Tương truyền: Chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng Vạn Lộc. Đến thế kỷ thứ XIX đã trở thành một trong số 10 chợ lớn của huyện Chân Lộc(6).

Đền thờ Nguyễn Sư Hồi trên địa bàn phường Nghi Tân vẫn trường tồn đến tận ngày nay cùng đôi câu đối ca ngợi công đức của Người “một thuở mang gươm đi mở cõi”:

“Dẹp giặc, yên dân, nghĩa khí ngàn năm ghi nhớ,

Khai cơ, lập nghiệp, công ơn muôn thuở lưu truyền.”

Trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, dọc sông Mai Giang đến núi Tùng Lĩnh có một giải đất với diện tích trên 5 mẫu, dân địa phương gọi là cánh đồng Dần. Truyền rằng do Ngọc Linh Vệ quản lệnh Nguyễn Đình Dần (con thứ 13 của Cương quốc công Nguyễn Xí) khai phá từ thế kỷ thứ XV(7).

Có thể dẫn ra nhiều ví dụ nữa cho thấy lộc điền và các loại đất ruộng của Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình đã tạo những tiền đề vật chất cho việc hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn Nghệ An, góp phần quan trọng vào việc mở mang kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, đưa Nghệ An từ vùng đất trại, từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của quốc gia Đại Việt.

Tài liệu tham khảo:

(1) Lê Quí Đôn Toàn tập, tập III (Đại Việt Thông sử) Nxb KHXH, H.1978, tr.181.

(2) Đỗ Danh Gia, Luận án tốt nghiệp khoa Sử, K11, Hà Nội, 1976.

(3) Di huấn của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí.

(4) Lịch sử Nghệ – Tĩnh, Tập I, Nxb Nghệ Tĩnh, 1984, tr.181.

(5) Hippolyte Le Breton, An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh), Nxb Nghệ An, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005; tr.99.

(6) Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh – quá trình hình thành và phát triển, tr.24.

(7) Hoàng Anh Tài, Quỳnh Xuân xưa và nay

Nguồn: Tập san KHXH &NV Nghệ An

Sưu tầm : Ấm trà Tử sa – Nghi Hưng


Uống trà là một tập quán trong sinh hoạt dân gian đã có lâu đời ở nước ta. Tùy điều kiện làm việc, khí hậu từng vùng miền mà mỗi nơi có cách uống trà và sử dụng bộ đồ trà khác nhau đôi chút. Trong bài viết này, chủ yếu chúng tôi muốn giúp bạn đọc tìm hiểu loại ấm Tử sa đang được các nhà buôn đường dài Trung Quốc (TQ) mang sang bày bán cùng với mặt hàng gốm sứ, ngày một nhiều tại các chợ, siêu thị.

   Nghề chơi lắm công phu

   Là người sành uống trà, chắc ai cũng từng nghe nói:

Thứ nhứt Thế Đức gan gà

Thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần


   Thế Đức, Lưu Bội và Mạnh Thần là 3 loại ấm trà làm bằng đất tử sa, mà ngày nay ai còn giữ được, thì họ chính là chủ nhân của những cổ vật trân ngoạn vô giá. Cũng trong vòng hai ba năm trở lại đây, cùng với mặt hàng gốm sứ, các thương nhân Trung Quốc còn đem sang thị trường VN rất nhiều ấm, chén, bộ đồ trà và vật dụng làm bằng đất tử sa, bắt đầu xuất hiện những nhà buôn bán nhỏ và giới chơi ấm Tử sa (sưu tập).

    Chủng loại ấm Tử sa bày bán tại thị trường VN đa dạng, phong phú, có nhiều món tinh xảo, bắt mắt, nhưng chưa thấy xuất hiện những chiếc ấm xuất sắc, tiêu biểu của mặt hàng gốm Tử sa (kể cả những chiếc ấm được người bán cất gói rất “bí mật”, nói là chỉ dành cho khách quen, sành điệu!). Về chất lượng và giá cả thì thượng vàng hạ cám, giá nào cũng có. Từ chiếc ấm làm bằng tay nghề vụng về, lộ hẳn chất đất chưa được tinh luyện giá chỉ 20- 50.000VNĐ, tới những chiếc bày trong lồng kính có khắc chạm hình và bài thơ, kèm dấu triện, niêm giá bằng đồng nhân dân tệ, quy đổi ra tiền VN ngót nghét hàng chục triệu đồng. Nhìn chung, mặt hàng ấm Tử sa được các thương lái đưa vào thị trường VN, phổ biến có 3 loại:

   1. Loại ấm rẻ tiền đã nói ở trên, hay những “bộ đồ trà” với đủ bộ sậu: Khay, ấm, dĩa, tách và dụng cụ pha trà nhưng giá bán chỉ từ hai, ba trăm ngàn đồng/bộ (nên nhớ, người sành chơi ấm Tử sa chỉ cốt coi trọng chiếc ấm, ít ai uống trà bằng tách Tử sa, vì không nhìn thấy màu sắc của trà).

   2. Loại ấm thông dụng, có thể pha trà uống hàng ngày, dùng cho một,hai hoặc ba người trở lên. Giá từ 200.000 đến 800.000 VNĐ/ấm.

   3. Loại ấm giả cổ, dành cho người sưu tập, giá khoảng 2-300 ngàn VNĐ. Loại này thường nhái kiểu dáng ấm xưa, hay làm giả sản phẩm nổi tiếng của các danh gia đương thời trong lĩnh vực chế tạo gốm tử sa, với đầy đủ dấu triện ở đáy, nắp và quai ấm. Trước khi đem bán, các ấm này thường được chôn dưới đất một thời gian, hoặc ngâm trong cặn nhớt, mực tàu, cho cũ đi, để làm ra vẻ cổ.

Ấm giả cổ

   Ngoài 3 loại kể trên, những chiếc ấm Tử sa tiền triệu trở lên đòi hỏi người chơi phải có kiến thức nhất định, mới có thể phân biệt chơn giả, tốt xấu. Cũng cần biết rằng, tại TQ sau Cách mạng văn hóa, công nghệ chế tạo gốm tử sa được nhà nước chủ trương phục hồi, ngoài việc nổi lên những tay nghề bậc thầy làm ra chiếc ấm tinh tế, hoàn hảo, chẳng những không thua sút các danh gia thời xưa, mà tài năng của họ còn được khoa học, kỹ thuật hiện đại hỗ trợ, đã cho ra đời những chiếc ấm mới hoặc giả cổ tinh diệu đến mức…thần kinh quỷ sợ. Ngay từ những ngày đầu ấm Tử sa thịnh hành trở lại, tại TP.Thượng Hải đã xuất hiện hàng nhái, hàng giả. Năm 1979 ấm Tử sa Nghi Hưng được Công ty Trân Bảo nhập vào Đài Loan, thì năm 1980 ở đây cũng có hàng giả. Lúc đầu, do kỹ thuật làm giả chưa tinh vi nên dễ nhận biết, hiện nay muốn phân biệt ấm Tử sa thật-giả, có người nói phải nhờ đến chuyên gia giám định đồ cổ mới đảm bảo chính xác! Đối với những người chuyên sưu tập, do am hiểu về lịch sử cũng như quá trình chế tạo ấm Tử sa,kết hợp với quan sát cốt gốm, cách tạo hình và họa tiết trên ấm, nên chỉ cần “nhìn bằng mắt, cảm thụ bằng tay”, họ có thể phân biệt được hàng thật, hàng giả.

Ấm mua ở phố Thành Hoàng (Thượng Hải) niêm giá 650 tệ (1.300.000 VNĐ) nhưng mua chỉ 180 tệ (360.000 VNĐ)

Mua tại lò Tử Sa Tô Châu, 300 tệ (600.000 VNĐ)


Ấm Tử sa Đài Loan của nghệ nhân Lâm Quốc Thuận, mua ở Đài Bắc, 50USD

   Nguồn gốc ấm Tử sa Nghi Hưng

   Thành phố Nghi Hưng, xưa là huyện Nghi Hưng thuộc tỉnh Giang Tô, nằm trên bờ hồ Tam Giác Châu chảy ra Trường giang, vị trí cách bờ Tây Thái Hồ (Vô Tích) 64km, giáp ranh tỉnh An Huy. Kỹ thuật gốm sứ Nghi Hưng có bề dày lịch sử hơn 5.000 năm, tương truyền Phạm Lãi và Tây Thi sau khi giúp Câu Tiễn diệt nước Ngô, đã cùng nhau đến Nghi Hưng sống cuộc đời ẩn dật, lấy nghề nặn gốm làm thú tiêu khiển. Gốm Nghi Hưng được định hình từ đời Tống-Nguyên, đến đời Minh-Thanh mới phát triển hưng thịnh, trong đó gốm tử sa với những tính năng công dụng, phong cách nghệ thuật độc đáo được xem là “bông hoa của kinh đô gốm” đã tỏa hương sắc bay ra thế giới.

   Về việc phát hiện ra gốm tử sa, truyền thuyết kể rằng: Vào thời xa xưa, có một thầy tu cứ mỗi lần đi qua thôn Thục Sơn- Nghi Hưng thì cất tiếng rao to “Mại phú quý thổ, mại phú quý thổ!” ( Bán đất giàu sang đây), những người dân địa phương hiếu kỳ chỉ nhìn ông rồi bỏ đi. Thầy tu thấy mọi người dững dưng, không ai phản ứng gì, càng ra sức rao“Quý bất dục mãi, mãi phú như hà ?” ( Không muốn mua quý, thì làm sao giàu được). Rồi dẫn mấy người trong thôn đến nơi mà ông gọi là “Phú quý thổ”, nằm trong hai ngọn núi Thanh Long và Hoàng Long (trấn Đinh Thục). Tại đây, người ta đào thấy đất sét có 5 màu: đỏ, vàng, xanh lục, xanh lam và tím, dùng chế tạo gốm rất tốt.

   Tử sa là loại gốm tự nhiên có chất đất nhỏ mịn, hàm lượng chất sắt cao, tính kết dính dễ tạo hình, nhất là khi dùng chế tác vật dụng nhỏ, tinh xảo như ấm trà. Người xưa đã tổng kết 5 ưu điểm của ấm Tử sa:

   1. Dùng để pha trà không mất đi nguyên vị của trà, ”Sắc,hương,vị giai uẩn” (giai uẩn có nghĩa là tiềm tàng). Văn Chấn Hanh đời Minh bình luận trong tập Trường vật chí : “Ấm Tử sa dùng pha trà tốt nhất, đậy nắp không mất mùi thơm, giữ nóng lâu”.

   2. Thành ấm có nhiều lỗ thông khí kép nhỏ li ti (còn gọi là khí khổng), dùng lâu ngày có thể hấp thu mùi vị trà, chỉ cần chế nước sôi vào là có hương vị trà.

   3. Nước trà pha trong ấm để quên mấy ngày không bị thiu, mốc hay biến chất.

   4. Ấm sử dụng càng lâu càng phát màu, Ngô Kiến đời Thanh nói:“Ấm Tử sa dùng hàng ngày, năng lau chùi sẽ sáng bóng như gương”.

   5. Ấm Tử sa có đặc điểm chịu được sự biến động nhiệt độ nóng lạnh tức thời mà không bị rạn nứt, lại truyền nhiệt chậm, lỡ tay cầm vào ấm không bị phỏng.

Ấm “Bách nhi đồ”, khắc chạm hình 100 đứa trẻ

   Theo tài liệu khảo cổ, năm 1976 khi khai quật vùng núi Dương Tiện thuộc huyện Nghi Hưng, các nhà khảo cổ đã phát hiện di chỉ lò gốm Tử sa có từ đời Tống (960-1297), tuy vậy, phải đến đời Minh nghệ thuật chế tạo các vật dụng tinh xảo, trong đó có ấm trà mới thịnh hành. Theo sách Dương Tiện mính hồ hệ của tác giả Châu Cao Khởi ghi chép, thì Cung Xuân là người đầu tiên đưa ấm Tử sa từ một sản phẩm thủ công thô sơ trở thành tác phẩm nghệ thuật sáng tạo nổi tiếng vào thời Gia Tĩnh và Chính Đức (triều Minh). Tương truyền, Cung Xuân là gia đồng theo hầu chủ nhân Ngô Di Sơn đang trọ học ở chùa Kim Sa (Nghi Hưng). Trong chùa có vị sư già làm ấm trà rất khéo, Cung Xuân đã lén học nghề ông ta. Có lần, Ngô Di Sơn nhìn thấy những ấm trà do Cung Xuân làm ra, tuy mộc mạc chất phát nhưng dáng vẻ trang nhã vô cùng, liền bảo làm thêm mấy chiếc, rồi mời những bậc thức giả đến thưởng ngoạn, mọi người đều hết lời khen ngợi, tán thưởng. Từ đó ấm Cung Xuân có tiếng và mấy năm sau thì thành danh, người đương thời tranh nhau mua, đến nỗi trong giới sưu tầm cổ ngoạn có câu: ”Ấm Cung Xuân quý hơn vàng ngọc”.


   Nghệ thuật tạo hình ấm Tử sa

   Hình dạng ấm Tử sa có thể gói gọn trong bốn chữ “Thiên hình vạn trạng”, nhưng tựu trung các sản phẩm làm ra dựa trên 3 cách tạo hình căn bản:

   1.Tạo hình ấm Tử sa dạng hình học – Áp dụng các đường nét hình học để làm ra sản phẩm, trang trí trên thân ấm, bao gồm 2 phương pháp tạo hình chính:

    a- Tạo hình ấm tròn: Hình dáng ấm Tử sa dạng tròn chủ yếu do các đường cong có định hướng và độ cong khác nhau tạo thành, đặc biệt coi trọng 5 yếu tố: tròn đầy, chặt chẽ, hài hòa, vững chãi và uyển chuyển. “Tròn, vững, cân, chính” là qui tắc bắt buộc nghệ nhân làm ấm phải tuân thủ. Thân ấm, miệng ấm, nắp, đáy, vòi, vai, eo phải cân xứng, liền lạc. Trong cương có nhu, dày mà không nặng, chắc chắn mà không thô kệch, có da có thịt. (Ảnh: ấm Huệ Mạnh Thần, đời Minh)

    b- Tạo hình ấm vuông: Ấm vuông còn gọi là ấm Phương chung, chủ yếu do các đường thẳng có độ dài, ngắn khác nhau tạo thành. Tuy gọi là ấm vuông, nhưng có thể là hình khối 4,6 hoặc 8 cạnh. Cấu trúc đường nét liền lạc, góc cạnh rõ ràng, tạo cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng. Đường thẳng đứng và đường ngang là chủ đạo; nét cong, uốn góc là phụ; trục và đường chân trời phải cân đối, chính xác. Núm và nắp ấm tương ứng với thân, 3 chỗ cong của vòi ấm và tay cầm tương ứng trước sau, tạo sự gần gũi,dễ nhìn. (Ảnh: ấm Mạn Sinh, đời Thanh)

   2- Tạo hình ấm Tử sa dạng tự nhiên: Các nghệ nhân đã vận dụng trí tưởng tượng, thông qua thủ pháp nghệ thuật biến hóa hình ảnh, sự vật trong đời sống thành hình thể vật dụng. Hoặc trên miệng ấm, quai, nắp, núm và các phần dễ thấy trên thân ấm được điêu khắc, trang trí, viết thư pháp, vẽ tranh, chạm lộng… những hình ảnh tinh tế, hiện thực hay cách điệu. Sinh ra từ tự nhiên mà vượt trội tự nhiên là tiêu chí sáng tạo của những nghệ nhân theo trường phái này. (Ảnh: ấm vô khoản – không đề hiệu, đời Thanh)

    3- Tạo hình ấm Tử sa dạng hoa văn đắp nổi: Trên dưới đối xứng, thân hòa với nắp, hình thể cân đối, hoa văn rõ nét. Chọn góc nhìn trực diện từ trên xuống, thân ấm và hoa văn hòa hợp, sắp xếp tỉ mỉ, có độ nong sâu, phân rõ tối sáng. (Ảnh: ấm Dương Phụng Niên, đời Thanh)

   Hiện nay, do mức độ cung cầu đã thấy xuất hiện loại ấm Tử sa kết hợp 2 hoặc cả 3 cách tạo hình nói trên. Bằng tài hoa và sự sáng tạo không có điểm dừng, nhiều nghệ nhân đã bước vào cảnh giới vô vi với những chiếc ấm Tử sa “không vuông không tròn”, hoặc “vuông không chỉ một kiểu, tròn không chỉ một dáng”.

SM 5.2006

 

Tài liệu tham khảo: Trung Quốc cổ đào từTrần Văn Bình– NXB Thượng Hải, Đào từ nghệ thuậtViễn Hoằng, Tường Ba– NXB Mỹ Thuật Hắc Long Giang, Tử sa mính hồHàn Thiếu Khải– NXB Nhiếp ảnh Thâm Quyến, Tử sa khái thuật– Cty TNHH Tam Đường, Trà Tàu và ấm Nghi HưngNguyễn Duy Chính-Hoa Kỳ.

%d bloggers like this: