Y-Sinh Học sưu tầm 1: Chỉ số đường huyết và thành phần dinh dưỡng của các loại thực phẩm Việt Nam


Chỉ số đường huyết của các loại thực phẩm sẽ hỗ trợ bệnh nhân tiểu đường thiết lập 1 chế độ dinh dưỡng khoa học. Bài viết này tổng hợp danh sách chỉ số đường huyết của hầu hết các thực phẩm thường ngày.

Bạn muốn đọc gì trước:

  1. Chỉ số đường huyết của thực phẩm là gì?,
  2. Chỉ số đường huyết của các loại thực phẩm
  3. Tiểu đường đang trở thành mối đe dọa tới sức khỏe con người
  4. Chỉ số đường huyết của gạo lứt ở mức trung bình
  5. Có thể bạn chưa biết?
  6. Cà phê tốt cho người tiểu đường? Nên uống bao nhiêu thì tốt?
  7. Các thực phẩm dạng uống/ép/hoa quả tươi giúp ổn định đường huyết
  8. BẢNG THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG THỰC PHẨM
  9. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CỦA BẢNG THÀNH PHẦN THỰC PHẨM VIỆT NAM

 

1. Chỉ số đường huyết của thực phẩm là gì?

Chỉ số đường huyết của các loại thực phẩm (tên viết tắt GI) sẽ giúp bạn đo lường được khả năng mà thực phẩm đó làm tăng đường huyết của bạn sau ăn so với 1 loại thực phẩm chuẩn (như bánh mì trắng). Chỉ số đường huyết của các loại thực phẩm được phân loại thành 3 mức độ đó là: thấp (GI<55); trung bình (56-74), cao (>75).

Trong thành phần máu luôn tồn tại 1 lượng đường nhất định. Nếu lượng đường máu này tăng quá cao vượt ngưỡng cho phép sẽ dẫn tới bị bệnh tiểu đường. Hiệp hội đái tháo đường Mỹ đưa ra chỉ số đường trong máu của 1 người bình thường như sau:

+ Đường huyết lúc đói: 5.0 – 7.2 mmol/L (90 – 130 mg/dL)

+ Mức đường huyết sau ăn 2 giờ đồng hồ: < 10 mmol/L (< 180 mg/dL)

+ Đường huyết lúc bình thường : 6.0 – 8.3 mmol/L (110 – 150 mg/dL)

2. Chỉ số đường huyết của các loại thực phẩm

Chỉ số đường huyết của các loại thực phẩm GI không được đo lường theo vị ngọt hay nhạt của thực phẩm đó, mà người ta dựa vào tốc độ chuyển hóa của các loại thực phẩm đó thành đường sau ăn để đo lường.

– Các loại thức ăn, đồ uống có GI thấp (dưới mức 56) là gồm chủ yếu các loại rau có lượng carbonhydat thấp nên chúng không ảnh hưởng nhiều đến lượng đường trong máu của cơ thể sau ăn.

Thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp phổ biến đó là các loại họ đậu (đậu đỏ, đậu nành, đậu hà lan, đậu lăng), những loại trái cây tươi có cam, táo, lê, đào, kiwi, , nho, chuối. Bên cạnh đó các loại sữa và thực phẩm được chế biến từ sữa, yến mạch mì nguyên hạt cũng àm tăng đường huyết chậm.

Chỉ số đường huyết GI của các loại đậu thường khá thấp

– Các loại thức ăn, đồ uống có GI trung bình (tầm từ 56 – 69) gồm có các loại thực phẩm như là nước cam, gạo, mật ong. Nhóm thực phẩm này sẽ chuyển hóa thành đường với tốc độ vừa phải.

– Thực phẩm có chỉ số GI cao (trên 70) gồm có các loại thực phẩm giàu tinh bột như là khoai tây, bánh mì. Nhóm thực phẩm này có khả năng chuyển hóa và tăng đường huyết rất nhanh, không tốt đối với sức khỏe của người đái tháo đường.

Khoai tây là thực phẩm có GI rất cao

Lưu ý: Nghiên cứu được công bố bởi trường Đại học Havard, cho biết gạo lứt chứa cực kỳ nhiều chất xơ hòa tan cho nên không làm tăng đáng kể đường huyết sau ăn. Chính vì thế, bạn chỉ cần thay thế ⅓ của 1 phần cơm gạo trắng bằng gạo lứt (tầm nửa chén cơm) hằng ngày thì tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường sẽ giảm lên đến 16%.

Chỉ số đường huyết của gạo lứt thấp hơn gạo thường

 

3. Tiểu đường đang trở thành mối đe dọa tới sức khỏe con người

Hiện nay, trên thế giới có khoảng 180 triệu người bị bệnh tiểu đường và trung bình hằng năm có trên 1 triệu người chết do căn bệnh này. Tiểu đường gây nên các biến chứng cấp tính như hạ đường huyết đột ngột, đường huyết quá cao dẫn đến tình trạng hôn mê. Nếu không được đi cấp cứu kịp thời thì sẽ có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Và các biến chứng mãn tính càng nghiêm trọng hơn, tác động trực tiếp đến mắt, biến chứng về tim mạch, thần kinh, thận, xương, biến chứng nhiễm trùng,… Đều là những cơ quan quan trọng của cơ thể.

Bệnh tiểu đường có những biến chứng nghiêm trọng về tim mạch và nhiều cơ quan quan trọng khác trong cơ thể.

Tính đến thời điểm năm 2018, Việt Nam cũng có khoảng hơn 6 triệu người dân bị bệnh tiểu đường, đây là một căn bệnh mãn tính nhưng có thể kiểm soát bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt.

Theo những nghiên cứu về thực đơn hằng ngày đối với người bệnh tiểu đường, chuyên gia khuyến cáo:

– Lượng chất xơ trong khẩu phẩn ăn

+ Lượng chất xơ tối thiểu:  Trong khẩu phần lượng chất xơ ăn phải đảm bảo 14g cho 1.000 calo tiêu thụ.

+ Lượng chất xơ cho nam giới và nữ giới:  Nam giới cần khoảng 30 – 38g chất xơ/ mỗi ngày, nữ giới cần khoảng 25-30g/ ngày từ các loại thực phẩm toàn phần.

Nên ăn nhiều chất xơ trong các bữa ăn: rau, củ, quả.

– Thực phẩm được bác sĩ khuyên dùng

Một loại thực phẩm dinh dưỡng được bác sĩ khuyên dùng có thể sử dụng thay thế thực đơn thường nhật là gạo lứt. Gạo lứt có thể sử dụng thay gạo thường vì chỉ số đường huyết của gạo lứt thấp hơn gạo thường.

4. Chỉ số đường huyết của gạo lứt ở mức trung bình

Theo bảng chỉ số đường huyết thực phẩm chuẩn, chỉ số đường huyết của gạo lứt dao động trong khoảng từ 56 – 69. Gạo lứt chuyển hóa thành đường với tốc độ vừa phải, chứa nhiều thành phầm dinh dưỡng, có thể thay thế một số loại thực phẩm chính trong bữa ăn.

Những lợi ích mang lại từ việc sử dụng gạo lứt:

– Không những tăng cường sức khỏe, hỗ trợ trí nhớ mà còn có khả năng điều chỉnh được hàm lượng glucose trong máu

Lượng hemoglobin trong lớp cùi của hạt gạo lứt được chuyển hóa thành glycosyl-hóa, cải thiện quá trình tổng hợp insulin ở bệnh nhân tiểu đường. Bên cạnh đó, gạo lứt chứa các vitamin nhóm B, và các chất kháng oxy hóa đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa glucose trong cơ thể.

– Tác dụng ngăn ngừa các biến chứng của tiểu đường

+ Giảm cholesterol và bảo vệ tim mạch: Gạo lứt chứa các chất xơ, carotenoid, phytosterol, acid omega 3, inositol hexaphosphate (IP6)…Là các chất có tác dụng phòng chống sự ngưng kết các tiểu huyết cầu và làm giảm hàm lượng cholesterol xấu, giảm lượng triglyceride, tăng HDL cholesterol tốt, tăng bài tiết chất béo…

Coenzyme Q10 mang lại tác động tích cực đối với áp suất máu và cholesterol, cải thiện những chức năng của cơ tim, ổn định nhịp tim, ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ, tai biến tim mạch.

+ Tốt cho hệ tiêu hóa: Hàm lượng enzim và lượng chất xơ dồi dào trong gạo lứt kích thích quá trình hoạt động của hệ tiêu hóa, ngăn ngừa táo bón, tiêu chảy.

+ Tăng cường hệ miễn dịch: Sterol và sterolin trong gạo lứt có tác dụng quan trọng giúp hệ miễn dịch kháng vi khuẩn, vi rút, phòng chống ung thư, làm chậm quá trình lão hóa.

+ Cải thiện chức năng gan: Gạo lứt giúp giải độc cho cơ thể. Acid alpha Lipioc là tác nhân nhằm tinh lọc gan khỏi ngộ độc bởi các chất hóa học. Acid alpha Lipioc được mở rộng điều trị xơ gan, ngộ độc kim loại nặng, nấm độc…

+ Xương và răng chắc khỏe: Do giàu magie một khoáng chất cải thiện hệ xương khớp. Bổ sung magie sẽ giúp ngăn ngừa viêm khớp và các loại bệnh khác liên quan.

Gạo lứt mang nhiều lợi ích tốt cho sức khỏe.

 

5. Có thể bạn chưa biết?

Con số thống kê

– Chữa bệnh: 87% người bị bệnh tiểu đường thuyên giảm bệnh sau 1 năm điều trị bằng phương pháp tự nhiên này.

– Ngăn ngừa:  Những người dùng gạo lứt làm thực đơn bữa ăn từ 1-2 ngày trong tuần có thể giảm 11% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.

Kết hợp gạo lứt với các thực phẩm khác sử dụng cho cuộc sống thường ngày

– Trà gạo lứt

– Gạo lứt muối mè

– Sữa gạo lứt

– Thực đơn bữa ăn kết hợp với rau củ quả

Chỉ số đường huyết của gạo lựt thấp là thực phẩm được khuyến khích  kết hợp làm món ăn hàng ngày

Lưu ý khi sử dụng đối với người bị bệnh tiểu đường

– Không ăn gạo lứt trong thời gian dài: 3-4 lần trong tuần là thích hợp nhất.

– Chọn gạo lứt có xuất xứ uy tín: sạch và không chứa chất hóa hoc.

– Sơ chế gạo: Không ngâm gạo quá lâu trong nước, vo gạo không cần quá sạch mất đi chất dinh dưỡng trong gạo lứt.

– Dưới sự hướng dẫn của bác sĩ đến lên kế hoạch thực đơn hằng ngày.

– Đọc kĩ và làm theo đúng những phương pháp sử dụng gạo lứt.

+Trà: Phải lọc ngay lấy nước khỏi bã

+ Nhai thật kĩ gạo lứt để không bị chướng bụng.

Người bị bệnh tiểu đường nên sử dụng những loại thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp và trung bình, xây dựng một thực đơn dinh dưỡng hằng ngày hợp lý dưới sự chỉ dẫn của bác sĩ. Chỉ số đường huyết của gạo lứt xếp loại trung bình, người tiểu đường có thể xếp loại thực phẩm này vào thực đơn điều trị bệnh tiểu đường, nhưng nên chú ý kĩ hơn về cách dùng của nó.

Bảng thống kê chỉ số đường huyết của các loại thực phẩm hằng ngày:

Nhóm thực phẩm

Tên thực phẩm

Chỉ số đường huyết (GI)

Bánh mỳ 

Bánh mì trắng 

100 

Bánh mì toàn phần 

99 

Bánh mì tươi 

31,1

Lương thực 

Gạo trắng 

83 

Lúa mạch 

31 

Yến mạch 

85 

Bột dong 

95 

Gạo giã dối 

72 

Khoai lang 

54 

Khoai sọ 

58 

Sắn (khoai mì) 

50 

Củ từ 

51 

Khoai bỏ lò 

135 

Quả chín 

Chuối 

53 

Táo 

53 

Dưa hấu 

72 

Cam 

66 

Xoài 

55 

Nho 

43 

Mận 

24 

Anh Đào 

32

Rau 

Cà rốt 

49 

Rau muống 

10 

Đậu 

Lạc 

19 

Đậu tương 

18 

Hạt đậu 

49 

Sữa 

Sữa gầy 

32 

Sữa chua 

52 

Kem 

52 

Glucema 

41 

Đường 

Đường kính 

86 

Các sản phẩm bánh, ngũ cốc 

Bánh bích quy 

50-65 

 

 

6. Cà phê tốt cho người tiểu đường? Nên uống bao nhiêu thì tốt?

Cà phê và rượu là 2 thức uống được người trưởng thành yêu thích. Nhiều người uống mỗi ngày, chính vì vậy họ lo ngại về các ảnh hưởng của cà phê tới sức khỏe. Nghiên cứu gần đây cho rằng cà phê tốt cho người tiểu đường, những người uống cà phê thường giảm nguy cơ tiểu đường và giảm nguy cơ tử vong.

6.1. Đàn ông uống từ 3-4 tách cà phê mỗi ngày sẽ giảm 17% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường

Như chúng ta đã biết thì cà phê và rượu có liên quan tới các bệnh về lối sống như bệnh tiểu đường tuýp 2 và bệnh tim mạch, bệnh ảnh hưởng đến các mạch máu như đường huyết và huyết áp.

Cà phê chứa rất nhiều thành phần, 1 số trong đó tốt cho việc phòng chống bệnh về lối sống như bệnh tiểu đường tuýp 2. Đã có khá nhiều báo cáo trên thế giới bao gồm cả Nhật Bản cho rằng: “Cà phê hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh tiểu đường tuýp 2”.

6.2. Cà phê tốt cho người tiểu đường? Nên uống bao nhiêu thì tốt?

Trong “Nghiên cứu JPHC” của Trung tâm Nghiên cứu quốc gia về y học toàn cầu bởi Mitsuhiko Noda công bố vào 2009, trên khoảng 5000 – 6000 những người Nhật trong độ tuổi 40-69, uống “1 ngày 3 đến 4 ly” cà phê, thì nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 so với những người” không uống” sẽ giảm 17% ở nam và 38% ở nữ .

Điều thú vị là xu hướng này không xuất hiện ở những người có thói quen uống trà hoặc trà ô long. Có báo cáo cho rằng cà phê có tác dụng ức chế kích hoạt cortisol được tiết ra để phản ứng với stress, giảm bớt tình trạng tăng huyết áp do stress, giảm tác động của stress.

Đàn ông khi uống 3-4 tách cà phê mỗi ngày sẽ giảm 17% nguy cơ bị bệnh tiểu đường.

Các nhà nghiên cứu cho biết “Ngoài việc giảm căng thẳng, cà phê còn có một tác dụng đặc biệt là làm giảm nguy cơ đái tháo đường”.

6.3. Uống 4 đến 5 tách cà phê mỗi ngày làm giảm 12% nguy cơ tử vong

Trong một nghiên cứu mới đây, Viện Ung thư Quốc gia đã phân tích dữ liệu của khoảng 50.000 người, tỷ lệ tử vong có xu hướng giảm đi khi bạn uống cà phê.

Được thành lập vào năm 2006, nhóm nghiên cứu “UK Biobank” đã thu thập dữ liệu từ khoảng 9,2 triệu người, gồm mẫu máu và DNA, thói quen lối sống và thông tin về mức độ hoạt động thể chất.

Nhóm nghiên cứu này đã phân tích dữ liệu của 52.641 nam nữ ở độ tuổi trung bình là 57. Kết quả là nhóm nhận thấy việc uống cà phê tương quan nghịch với tỷ lệ tử vong.

Nguy cơ tử vong giảm so với những người không uống cà phê tương ứng là: 12% người uống 2-3 ly mỗi ngày, 12% người uống 4-5 ly mỗi ngày, 16% người uống 6-7 ly cà phê mỗi ngày, 14% đối với những người uống nhiều hơn 6 ly mỗi ngày.

6.4. Tại sao cà phê lại tốt cho sức khỏe?

Cà phê có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch, khả năng rằng caffeine và axit chlorogenic chứa trong cà phê có liên quan đến sự trao đổi chất.

Caffeine có chức năng kích thích dây thần kinh giao cảm, và khi uống cà phê, chỉ số huyết áp cũng như lượng đường trong máu sẽ tăng ngay lập tức sau đó. Tuy nhiên, uống cà phê mỗi ngày được cho là có thể đẩy mạnh quá trình đốt cháy chất béo trong cơ thể.

Ngoài ra, axit chlorogenic (một polyphenol chứa trong cà phê) có tác dụng chống oxy hóa mạnh. Oxy hoạt tính chủ yếu là oxy không ổn định được tạo ra trong cơ thể, khi oxy hoạt động quá mức sẽ làm tổn thương các tế bào và gen, phản ứng với lipid trong máu, gây xơ cứng động mạch và nhồi máu cơ tim.

Người ta cho rằng axit chlorogenic hoạt động để ngăn chặn tình trạng viêm và mất cân bằng oxy hóa, stress và góp phần ngăn ngừa bệnh tiểu đường và xơ vữa động mạch.

Phòng ngừa bệnh tim mạch và xơ cứng động mạch

6.5. Uống bao nhiêu ly thì tốt?

Cà phê là một loại thức uống có tác dụng tốt cho sức khỏe, cà phê tốt cho người tiểu đường, nhưng hãy cẩn thận khi bạn uống quá nhiều.

Khi uống một lượng lớn caffein có trong cà phê có thể gây mất ngủ, rối loạn thần kinh, nhịp tim tăng nhanh hoặc chậm bất thường, tăng huyết áp.

Chất caffeine tác động lên hệ thần kinh trung ương, gây khó ngủ và mệt mỏi, tạo cảm giác hưng phấn tác động vào chức năng vận động, tác động lên cơ xương, làm cảm giác mệt mỏi trở nên nặng nề hơn.

6.6. Cà phê tốt cho người tiểu đường – Uống bao nhiêu ly cà phê thì tốt?

Ngoài ra, caffeine tác động lên cơ tim gây ra tình trạng co thắt cơ tim và tăng cung lượng tim, làm giãn nở mạch máu của thận, giúp lợi tiểu thúc đẩy việc tiết nước tiểu làm tăng lưu lượng máu đến thận.

Theo cơ quan An toàn Thực phẩm của Liên minh châu Âu EU (EFSA) lượng caffeine tiêu chuẩn để duy trì một sức khỏe ổn định ở người trưởng thành là dưới 400mg, lượng hấp thụ của 1 lần không được vượt quá 200mg.

Đối với cà phê thông thường, người ta nói rằng lượng caffeine thích hợp là từ 4 đến 5 ly mỗi ngày.

 

7. Các thực phẩm dạng uống/ép/hoa quả tươi giúp ổn định đường huyết

7.1. Dưới đây là một số thực phẩm giúp ổn định đường huyết:

  • Bưởi (GI – 25): Đây là loại quả “số 1” về lượng vitamin C. Trong từng múi bưởi có chứa các enzym giúp hấp thu đường, nhờ đó giảm lượng mỡ dự trữ từ đường chuyển hóa thành.
  • Sữa tươi (GI – 40): Uống 1 cốc sữa tươi sẽ khống chế hoạt tính của các enzym hợp thành cholesterol, từ đó hạn chế cholesterol sinh ra.
  • Sữa đậu nành (GI – 43): Đây là những axit amin có khả năng duy trì và củng cố hệ miễn nhiễm, đồng thời làm giảm hàm lượng cholesterol và chỉ số đường huyết.
  • Nước mơ (GI – 57): Trong mơ có chứa những thành phần giúp đẩy nhanh quá trình chuyển hóa oxy, làm chậm quá trình lão hóa và đẩy nhanh sự hồi phục của các tế bào.
  • Cà chua (GI – 30): Cà chua không chỉ giúp ổn định đường huyết mà còn có thể giúp giảm cân hiệu quả.
  • Nước ép táo (GI – 15): Trong táo có chứa chất xơ hòa tan pectin giúp giữ nước và làm sạch ruột, hỗ trợ quá trình tiêu hóa được diễn ra thuận lợi, đồng thời giữ cân bằng hệ vi sinh trong đường ruột và giảm mức cholesterol trong cơ thể.
  • Cam tươi (GI – 43): Cam rất giàu vitamin C, canxi, phốt-pho, kali, axit citric caroten, hesperidin, chất xơ… vừa tốt cho quá trình chuyển hóa của đường ruột vừa giúp giảm sự tích lũy độc tố, từ đó giúp giảm cân hiệu quả.
  • Đào (GI – 50): Đào chứa dồi dào chất xơ giúp cải thiện hệ tiêu hóa giúp dạ dày hoạt động hiệu quả hơn, hơn nữa còn ức chế quá trình hấp thu chất béo, giúp không bị tăng cân.
  • Cháo yến mạch (GI – 50): Có chỉ số GI thấp sẽ tốt cho việc kiểm soát chỉ số đường huyết của bệnh nhân tiểu đường, cháo yến mạch còn cung cấp một lượng lớn protein và chất xơ, thúc đẩy hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn.
  • Kiwi (GI – 50): Trong 1 quả kiwi xanh chứa 4g chất xơ và dồi dào vitamin cùng khoáng chất có lợi cho cơ thể và rất an toàn cho việc kiểm soát đường huyết.
  • Chuối (GI – 55): Chuối không những góp phần đốt cháy chất béo mà còn ngăn ngừa sự hấp thụ carbohydrate vào cơ thể, giúp quá trình trao đổi chất diễn ra với tốc độ nhanh hơn.

 

7.2. Một số lưu ý khi lựa chọn thực phẩm

  • Thực đơn mỗi bữa ăn nên có nhiều loại đa dạng, thay đổi món thường xuyên. Số lượng thực phẩm vừa đủ với nhu cầu của cơ thể, sao cho giữ cân nặng hợp lý.
  • Bữa ăn nên có nhiều thành phần thực phẩm như bột đường, đạm (thịt, cá, trứng, đậu hũ), chất béo và chất xơ (rau củ quả, đậu, ngô) giúp đường được hấp thu vào máu từ từ.
  • Nên bổ sung thêm nhiều rau xanh trong khẩu phần ăn hằng ngày vì trong rau xanh có nhiều chất xơ, giúp ổn định chỉ số đường huyết.
  • Một số loài cá như cá hồi giàu chất béo omega-3 rất có lợi cho tim mạch của bệnh nhân tiểu đường, giúp phòng ngừa các biến chứng tiểu đường liên quan đến tim mạch. Các chất béo tốt như MUFA, PUFA, DHA không chỉ tốt cho hệ tim mạch mà còn rất tốt trong việc giúp chống lại các bệnh về huyết áp hoặc mỡ máu.
  • Nên sử dụng các loại sữa ít chất béo, có chứa đường palatinose và chất xơ hòa tan, sẽ không làm đường huyết tăng nhanh sau khi ăn.
  • Một số loại thức ăn đặc biệt mà người bệnh tiểu đường nên tránh bao gồm các loại protein có hại như các loại thịt đóng hộp, các loại thức ăn chế biến sẵn giàu đạm, muối và đường. Tương tự với các loại trái cây đóng hộp cũng là thức ăn mà bệnh nhân tiểu đường nên tuyệt đối tránh. Các loại thức ăn nhanh, gà rán, khoai tây chiên hay thịt xông khói cũng khiến đường huyết của người bệnh không ổn định trong mức an toàn.

8. BẢNG THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG THỰC PHẨM

Bảng thành phần dinh dưỡng có thể giúp bạn biết được chính xác các thành phần dinh dưỡng có trong thực phẩm hàng ngày bạn tiêu thụ. Bảng thành phần dinh dưỡng được xây dựng nhằm giúp người tiêu dùng có thể tra cứu để hiểu rõ mình có đang bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng hay cần tránh những chất nào nếu có ý định giảm cân.

Bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt Nam được Viện dinh dưỡng dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học, phân tích thành phần thực phẩm trong 20 năm qua bao gồm 15 thành phần dinh dưỡng chính của 501 thực phẩm được chia thành 14 nhóm và các bảng hàm lượng acid amin, acid béo, chất khoáng, vi khoáng trong thực phẩm.

86 chất dinh dưỡng trong 100 gam thực phẩm được phân loại như sau:

Các thành phần chính (proximate): nước, protein, lipid, glucid, lactoza, celluloza và tro

Đường tổng số và các đường đơn: galactoza, maltoza, lactoza, fructoza, glucoza, sacaroza

Các chất khoáng vì vi khoáng: calci, sắt, magie, mangan, phosphor, kali, natri, kẽm, đồng, selen

Các vitamin tan trong nước: vitamin C, B1, B2,PP, B3, B6, folat, B9, H, B12

Các vitamin tan trong dầu: vitamin A, D, E, K

Các carotenoid: lutein, zeaxanthin, beta-cryptoxanthin, lycopene, alpha-caroten, beta- carotene

Purin

Các isoflavon: tổng số acid béo no và không no, palmitic, margaric, stearic, arachidic, behenic, lignoceric, linolenic, linoleic, arachidonic, EPA, DHA và tổng số acid béo trans.

Các acid amin: lysin, methionin, tryptophan, phenylalanine, threonine, valin, leucine, isoleucine, arginin, histidin, cystin, tyrosin, alanine, acid aspartic, acid glutamic, glycin, prolin, serin.

Tính trên 100g thực phẩm ăn được:

 

  

TÊN THỨC ĂN

Thải bỏ

Tro

Calories-

Năng lượng 

Protein

Chất đạm 

Lipid-

Chất béo 

Glucid

Carbon hydrates 

Dietary fiber

Chất xơ (cellulose)

Cholesterol –

Chất béo gây xơ vữa động mạng

Calcium-

Canxi 

Phospho 

Iron-

Sắt 

Sodium-

Natri 

Potassium-

Kali 

Beta-carotene 

Vitamin A 

Vitamin B1 

Vitamin C 

  

  

% 

kcal 

g 

g 

g 

g 

mg 

mg 

mg 

mg 

mg 

mg 

mcg 

mcg 

mg 

mg 

Ngũ cốc và sản phẩm chế biến từ chúng

1 

Gạo nếp cái 

1 

346 

8,6 

1,5 

74,9 

0,6 

0 

32 

98 

1,2 

3 

282 

0 

0 

0,14 

0,0 

2 

Gạo tẻ 

1 

344 

7,9 

1,0 

76,2 

0,4 

0 

30 

104,0 

1,3 

5 

241 

0 

0 

0,10 

0,0 

3 

Bắp tươi 

45 

196 

4,1 

2,3 

39,6 

1,2 

0 

20 

187,0 

1,5 

0 

0 

170 

0 

0,21 

0,0 

4 

Bánh bao 

0 

219 

6,1 

0,5 

47,5 

0,5 

0 

19 

88,0 

1,5 

0 

0 

0 

0 

0,10 

0,0 

5 

Bánh tráng mỏng

0 

333 

4,0 

0,2 

78,9 

0,5 

0 

20 

65,0 

0,3 

0 

0 

0 

0 

0,00 

0,0 

6 

Bánh đúc 

0 

52 

0,9 

0,3 

11,3 

0,1 

0 

50 

19,0 

0,4 

0 

0 

0 

0 

0,00 

0,0 

7 

Bánh mì 

0 

249 

7,9 

0,8 

52,6 

0,2 

0 

28 

164,0 

2,0 

0 

0 

0 

0 

0,10 

0,0 

8 

Bánh phở 

0 

141 

3,2 

0,0 

32,1 

0,0 

0 

16 

64,0 

0,3 

0 

0 

0 

0 

0,00 

0,0 

9 

Bún 

0 

110 

1,7 

0,0 

25,7 

0,5 

0 

12 

32,0 

0,2 

0 

0 

0 

0 

0,04 

0,0 

Khoai củ và các sản phẩm chế biến từ chúng

10 

Củ sắn 

25 

152 

1,1 

0,2 

36,4 

1,5 

0 

25 

30,0 

1,2 

2 

394 

0 

0,0 

0,03 

34,0 

11 

Củ từ 

6 

92 

1,5 

0,0 

21,5 

1,2 

0 

28 

30,0 

0,2 

0 

0 

0 

0,0 

0,00 

2,0 

12 

Khoai lang

17 

119 

0,8 

0,2 

28,5 

1,3 

0 

34 

49,0 

1,0 

31 

210 

150 

0,0 

0,05 

23,0 

13 

Khoai lang nghệ 

13 

116 

1,2 

0,3 

27,1 

0,8 

0 

36 

56,0 

0,9 

0 

0 

1470 

0,0 

0,12 

30,0 

14 

Khoai môn 

14 

109 

1,5 

0,2 

25,2 

1,2 

0 

44 

44,0 

0,8 

0 

0 

0 

0,0 

0,09 

4,0 

15 

Khoai tây 

32 

92 

2,0 

0,0 

21,0

1,0 

0 

10 

50,0 

1,2 

7 

396 

29 

0,0 

0,10 

10,0 

16 

Miến dong 

0 

332 

0,6 

0,1 

82,2 

1,5 

0 

40 

120,0 

1,0 

0 

0 

0 

0,0 

0,00 

0,0 

17 

Bột sắn dây 

0 

340 

0,7 

0,0 

84,3 

0,8 

0 

18 

20,0 

1,5 

0 

0 

0 

0,0 

0,00 

0,0 

18 

Khoai tây chiên 

0 

525 

2,2 

35,4 

49,3 

6,3 

0 

37 

130,0 

2,1 

0 

0 

0 

00,0 

0,15

1,0 

Hạt, quả giàu protein, chất béo và chế phẩm

19 

Cùi dừa già 

20 

368 

4,8 

36,0 

6,2 

4,2 

0 

30 

154,0 

2,0 

7 

555 

0 

0,0 

0,10 

2,0 

20 

Cùi dừa non 

0 

40 

3,5 

1,7 

2,6 

3,5 

0 

4 

53,0 

1,0 

0 

0 

0 

0,0 

0,04 

6,0 

21 

Đậu đen (hạt) 

2 

325 

24,2 

1,7 

53,3 

4,0 

0 

56 

354,0 

6,1 

0

0 

30 

0,0 

0,50 

3,0 

22 

Đậu Hà lan (hạt) 

0 

342 

22,2 

1,4 

60,1 

6,0 

0 

57 

303,0 

4,4 

9 

135 

70 

0,0 

0,77 

0,0 

23 

Đậu xanh 

2 

328 

23,4 

2,4 

53,1 

4,7 

0 

64 

377,0 

4,8 

6 

1132 

30 

0,0 

0,72 

4,0 

24 

Hạt điều 

0 

605 

18,4 

46,3 

28,7 

0,6 

0 

28 

462,0 

3,6 

0 

0 

5 

0,0 

0,25 

1,0 

25 

Đậu phộng

2 

573 

27,5 

44,5 

15,5 

2,5 

0 

68 

420,0 

2,2 

4 

421 

10 

0,0 

0,44 

0,0 

26 

 

5 

568 

20,1 

46,4 

17,6 

3,5 

0 

1200 

379,0 

10,0 

49 

508 

15 

0,0 

0,30 

0,0 

27 

Đậu phụ 

0 

95 

10,9 

5,4 

0,7 

0,4 

0 

24 

85,0 

2,2 

0 

0 

0 

0,0 

0,03 

0,0 

 

 

9. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CỦA BẢNG THÀNH PHẦN THỰC PHẨM VIỆT NAM

Ở Việt Nam, năm 1941 M.Autret và Nguyễn Văn Mậu (Viện Pasteur Hà Nội), đã xuất bản Bảng thành phần thức ăn Đông Dương gồm 200 loại. Năm 1972, viện Vệ sinh dịch tễ học Hà Nội – Bộ Y tế (Phạm Văn Sổ và Bùi Thị Nhu Thuận) và Viện Nghiên cứu kỹ thuật ăn mặc – Bộ Quốc phòng (Từ Giấy và Bùi Minh Đức) đã phối hợp xuất bản cuốn “Bảng thành phần hoá học thức ăn Việt Nam” dựa trên các công trình nghiên cứu trong nước và tham khảo một số tài liệu nước ngoài. Năm 2000, Viện Dinh dưỡng trên cơ sở tham khảo các công trình đã xuất bản và các kết quả nghiên cứu, phân tích thành phần thực phẩm tiến hành trong 20 năm qua, kết hợp với tài liệu tham khảo cập nhật của một số nước trong khu vực châu Á, đã tái bản “Bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt Nam”gồm 15 thành phần dinh dưỡng chính của 501 thực phẩm được chia thành 14 nhóm và các bảng hàm lượng acid amin, acid béo, chất khoáng, vi khoáng trong thực phẩm. Cuốn sách do tập thể Khoa Hóa-Vệ sinh an toàn thực phẩm, Viện dinh dưỡng biên soạn. Năm 2005, đểđáp ứng nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng, các cán bộlàm công tác dinh dưỡng tiết chế tại bếp ăn tập thể, nhân viên y tế làm công tác tưvấn dinh dưỡng có thể tra cứu nhanh các số liệu thành phần thực phẩm thường xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày, Viện dinh dưỡng đã xuất bản “Bảng thành phần dinh dưỡng của một số thức ăn thông dụng” bao gồm 436 thực phẩm được chia thành 4 nhóm chính là nhóm cung cấp chất bột, nhóm cung cấp chất đạm, nhóm cung cấp chất béo, nhóm cung cấp vitamin và muối khoáng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng, khoa học thực phẩm, văn hóa ẩm thực và nhiều bạn đọc vẫn mong có một Bảng thành phần có số liệu đầy đủ, cập nhật về thành phần các chất sinh năng lượng, các acid amin, acid béo, acid folic, các loại đường, hàm lượng khoáng, chất xơ, vi khoáng, vitamin, hợp chất hoá thực vật…trong thực phẩm hiện có trên thị trường Việt Nam với cấu trúc tiện tra cứu hơn, do đó Viện Dinh dưỡng đã biên soạn cuốn “Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam” và được ra mắt bạn đọc trong năm 2007.

Link tham khảo:
http://www.fao.org/fileadmin/templates/food_composition/documents/pdf/VTN_FCT_2007.pdf

Lưu bút của Bác sĩ Hùng về Sức khoẻ Đời sống–kỷ vật cuối cùng của Cha tôi


Lưu bút: ý kiến cảm nghĩ của Bác Sĩ Lâm Đức Hùng, một trong số những kỷ niệm của Cha tôi trước khi cụ đi xa, tôi xin mạn phép lưu lại bút ký của người và BS. Lâm Đức Hùng để chia sẻ tình yêu đối với những Y, Bác Sĩ, Lương Y của bệnh viện Hữu Nghị và toàn thể ngành Y Việt Nam, những con người ngày đêm tận tuỵ với nghề, với bệnh nhân. 

WP_20170607_001WP_20170607_002

Ấn tượng về Khoa Tiêu hóa BV Hữu nghị

SKĐS – Mới đây, sau khi ăn rau bắp cải luộc còn tồn dư hóa chất bảo quản thực vật, tôi bị ngộ độc. Dù đã nôn khá nhiều cho hết, nhưng chứng rối loạn tiêu hóa vẫn hoành hành làm cho tôi cảm thấy rất mệt, huyết áp kẹt…

Mới đây, sau khi ăn rau bắp cải luộc còn tồn dư hóa chất bảo quản thực vật, tôi bị ngộ độc. Dù đã nôn khá nhiều cho hết, nhưng chứng rối loạn tiêu hóa vẫn hoành hành làm cho tôi cảm thấy rất mệt, huyết áp kẹt… Gia đình phải đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị. Tại đây, tôi được các BS và điều dưỡng khẩn trương khám và kiểm tra cận lâm sàng như xét nghiệm máu, chụp Xquang, siêu âm ổ bụng… và truyền dịch để bù phụ nước, điện giải, rồi đưa tới Khoa Tiêu hóa để điều trị nội trú.

BS. Sự trực tiếp điều trị cùng chị Thủy – Điều dưỡng trưởng của Khoa Tiêu hóa đã có mặt, thu xếp giường và thăm khám, chỉ định chế độ theo dõi sát sao, dù khi đó đã gần 6 giờ chiều (sau hỏi lại, được biết các anh, chị vừa tiếp đoàn kiểm tra, dù hết giờ làm việc từ lâu, nhưng vẫn ở lại vì có bệnh nhân vào cấp cứu). Với phong cách cởi mở ân cần, các anh chị hỏi han về hoàn cảnh ngộ độc, diễn biến trước khi đến bệnh viện với sự chia sẻ, động viên thật chân tình làm cho tôi rất cảm động và yên tâm.

Chăm sóc bệnh nhân nặng. Ảnh: Trần Minh (Báo Sức khoẻ và Đời Sống)

Từ đó, từ sáng trước giờ giao ban hàng ngày của khoa, BS. Sự luôn dành thời gian để thăm các bệnh nhân. Gặp tôi, với gương mặt và nụ cười dễ gần, anh hỏi cặn kẽ về sức khỏe của tôi, giải thích tỉ mỉ về tác dụng các loại thuốc mà tôi được dùng… Các điều dưỡng viên đều đặn hằng sáng vào đo huyết áp, ghi theo dõi giấc ngủ, ăn uống và tình hình sức khỏe của bệnh nhân, rồi chỉ định người phụ trách từng công việc. Tất cả những điều đó được ghi lại trên các bảng biểu và lồng trong tấm bảng được treo ở đầu mỗi giường bệnh nhân để bất kì ai muốn biết đều được đáp ứng, rất minh bạch, theo đúng quy chế của ngành y. Trước khi truyền dịch, sau nụ cười thân thiện và thăm hỏi, các nữ điều dưỡng viên làn nào cũng nhẹ nhàng đưa ra những lời nhắn nhủ thân tình: “Bác cố gắng chịu đau một chút để chúng cháu truyền dịch nhé”.  Các chị hộ lý khi vào làm vệ sinh hoặc đưa quần áo cho bệnh nhân thay đổi, lần nào cũng cất lời chào và hỏi thăm như người trong gia đình, làm cho bênh  nhân cảm thấy nhẹ bớt cảm giác nằm viện, thiếu vắng tình cảm của những người thân. BSCKII Trưởng khoa Đinh Quý Minh đã đến khám và chỉ định làm thủ thuật soi dạ dày và đại tràng cho tôi với lời giải thích để việc chẩn đoán và điều trị toàn diện, là dịp tổng kiểm tra cơ quan tiêu hóa của tôi, có hướng chăm sóc sức khỏe lâu dài. Để chuẩn bị cho việc soi dạ dày và đại tràng, các anh chị đã đưa cho tôi các gói thuốc xổ kèm theo một bảng hướng dẫn cụ thể cách dùng. Theo hướng dẫn đó, tôi đã uống 3 lít nước lọc pha thuốc xổ trong 48 giờ để làm thật sạch đường ruột. Thú thật trong lòng vẫn lo lắng, không biết việc soi đó có đau quá sức chịu đựng của mình hay không. Liệu có xảy ra sự cố gì khi soi hay không. Nhưng vào buổi sáng hôm soi dạ dày và đại tràng, những điều âu lo của tôi đã được giải tỏa, bởi BS. Minh Trưởng khoa và cộng sự của anh đã thao tác thật nhẹ nhàng, chuẩn xác, cảm giác đau của bệnh nhân khi soi chỉ thoáng qua và mọi sự đã diễn ra êm đẹp. Trở lại buồng bệnh, tôi cảm thấy thật sự an lòng. Một buổi chiều, tôi được báo chuyển buồng vì có một chị mới vào viện cần chỗ nằm, tôi nảy ra ý nghĩ xin về nhà, bèn bước ra, rất may trên hành lang của khoa gặp BS. Minh và BS. Sự đang đi buồng thăm bệnh nhân, sau khi nghe nguyện vọng của tôi, hai anh bảo tôi cứ về buồng, sau sẽ trả lời. Ít phút sau, BS. Sự quay lại gặp tôi và nói là “bác cứ yên tâm nằm ở đây, vì khoa đã thu xếp có giường cho bệnh nhân nữ mới vào rồi. Bác cần ít nhất một tuần nữa mới kết thúc đợt điều trị rồi mới tính đến chuyện xuất viện”. Hàng ngày, sau khi truyền dịch xong, nằm nghỉ một lúc, tôi tập đi lại dọc theo hành lang của khoa nhiều lần, phần tránh sự trì trệ để lưu thông tuần hoàn, phần để có dịp giao lưu hỏi chuyện với các bệnh nhân. Ngày nào cũng như ngày nào, các chị y công luôn chân luôn tay lau chùi từng căn phòng bệnh nhân lẫn hành lang của khoa và các nơi làm việc, nên nền nhà lúc nào cũng sạch bóng như thể soi gương được. Khung cảnh Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Hữu nghị đã tạo nên hình ảnh gần gũi, ấm áp tình người đối với người bệnh, một guồng máy được vận hành nhịp nhàng và hiệu quả, luôn được người bệnh ghi nhận và ghi lại những dòng cảm tưởng tốt đẹp trên cuốn sổ ghi nhận xét của bệnh nhân dành cho Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Hữu nghị.

Buổi sáng ra viện còn in lại trong tâm trí tôi những ấn tượng khó quên về BS Trưởng khoa Đinh Quý Minh – người có đôi bàn tay vàng – theo cảm nhận của nhiều người bệnh đối với anh, về BS. Sự và các thầy thuốc khác của khoa dầy tâm huyết với công việc, với đội ngũ điều dưỡng thành thạo trong các thao tác và sự ân cần khi chăm sóc bệnh nhân dưới sự điều hành của chị Thủy – Điều dưỡng trưởng của khoa, các chị y công có trách nhiệm cao trong công tác và lịch duyệt trong giao tiếp.

Khoa Tiêu hóa là một nét son, góp phần tô điểm thêm cho vẻ đẹp rực rỡ của Đơn vị Anh hùng thời kỳ đổi mới – Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội.

BS. Lâm Đức Hùng

Bông cải xanh phòng tránh Ung thư hiệu quả nhất


Bông cải xanh (hoặc súp lơ xanh, cải bông xanh) là một loại cây thuộc loài Cải bắp dại, có hoa lớn ở đầu, thường được dùng như rau. Bông cải xanh thường được chế biến bằng cách luộc hoặc hấp, nhưng cũng có thể được ăn sống như là rau sống trong những đĩa đồ nguội khai vị.

Dinh dưỡng

Bông cải xanh, sống (những phần ăn được)
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 141 kJ (34 kcal)
6.64 g
Đường 1.7 g
Chất xơ thực phẩm 2.6 g
0.37 g
2.82 g
Vitamin
Vitamin A equiv.

(4%)

31 μg

(3%)

361 μg

1121 μg
Thiamine (B1)
(6%)

0.071 mg

Riboflavin (B2)
(10%)

0.117 mg

Niacin (B3)
(4%)

0.639 mg

Pantothenic acid (B5)
(11%)

0.573 mg

Vitamin B6
(13%)

0.175 mg

Folate (B9)
(16%)

63 μg

Vitamin C
(107%)

89.2 mg

Vitamin E
(5%)

0.78 mg

Vitamin K
(97%)

101.6 μg

Chất khoáng
Canxi
(5%)

47 mg

Sắt
(6%)

0.73 mg

Magiê
(6%)

21 mg

Phốt pho
(9%)

66 mg

Kali
(7%)

316 mg

Kẽm
(4%)

0.41 mg

Other constituents
Nước 89.30 g
Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (US recommendations) cho người trưởng thành.
Source: USDA Nutrient Database

Bông cải xanh có chứa nhiều Vitamin A, Vitamin C, Vitamin K, chất xơ [3], Quercetin. Nó cũng chứa nhiều chất dinh dưỡng có khả năng chống ung thư như Myrosinase, Sulforaphane, Di-indolyl mêtan và một lượng nhỏ selen.[4]

Tác dụng chữa bệnh

Viêm xương khớp

Một nghiên cứu của Anh cho thấy bông cải xanh có chứa một hợp chất gọi là Sulforaphane có thể giúp chống lại viêm xương khớp (osteoarthritis) – sulforaphane có thể chặn các enzyme phá hủy sụn bằng cách chặn một phân tử gây viêm.[5][6]

Chống oxy hóa

Bông cải xanh vẫn được biết đến là có thành phần chống ung thư, ngoài ra chính nó còn giúp cải thiện hệ miễn dịch ở người già và làm chậm quá trình lão hóa. Sulforaphane có khả năng hoạt hóa những gene và enzyme chống oxy hóa trong tế bào miễn dịch. Những thành phần này sẽ ngăn các gốc tự do hủy hoại tế bào. Tiến trình chuyển hóa trong cơ thể sinh ra các sản phẩm phụ là gốc tự do, nếu không ngăn ngừa hoạt động của gốc tự do này có thể gây tổn hại mô dẫn tới bệnh tật và sự lão hoá[7].

Bệnh tim mạch vành

Nghiên cứu thành phần hóa học trong bông cải xanh tại trường Ðại Học Y Khoa Warwick đã phát hiện hợp chất sulforaphane đã làm cho cơ thể tăng cường hình thành các enzyme bảo vệ các mạch máu, giảm các loại phân tử gây tổn hại tế bào. Chất sulforaphane có trong bông cải xanh có thể chống lại sự phát triển bệnh mạch máu do tiểu đường.[8] 

Kết quả nghiên cứu trên động vật của trường Ðại Học Connecticut cho thấy, những động vật ăn bông cải xanh cải thiện được chức năng tim và ít bị tổn thương về cơ tim hơn khi thiếu oxy. Các nhà nghiên cứu cho rằng những lợi ích của bông cải xanh chính là việc nó bổ sung các chất mà giúp tăng cường các protein bảo vệ tim có tên là thioredoxin. Một chế độ ăn nhiều bông cải xanh sẽ mang lại lợi ích cho tim mạch.

Đau bao tử

Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy, thành phần sulforaphane trong bông cải xanh và mầm của nó có thể tiêu diệt vi khuẩn helicobacter pylori (HP) đây là loại vi khuẩn chính gây loét dạ dày và phần lớn tác nhân gây ung thư ở đây.  Khi nghiên cứu trên chuột, các nhà khoa học tại Ðại Học Johns Hopkins phát hiện thấy, sulforaphane tiêu diệt được cả vi khuẩn HP vẫn kháng lại kháng sinh thông thường. Hóa chất này có thể tìm và diệt vi khuẩn nằm ngoài lẫn nằm trong tế bào. Ðiều này rất quan trọng vì thông thường, HP hay nằm trong các tế bào lót của niêm mạc dạ dày, khiến bệnh khó lành. Hàm lượng sulforaphane được dùng trong thí nghiệm có thể nhận thấy được bằng cách ăn bông cải xanh hay mầm của nó.[9][10]

Ung thư

Khi không nấu chín, loại thực phẩm này chứa một lượng nhỏ chất có khả năng bảo vệ ADN trước sự tấn công của các enzyme oxy hóa – tác nhân gây ung thư. Ðây là thành quả nghiên cứu mới nhất của Ðại Học Illinois. Khi nhai, các tế bào bông cải xanh bị đứt gãy và giải phóng một loại enzyme đặc biệt. Nhờ enzyme này, một chất hóa học gọi là sulphoraphanes được hình thành. Một số phân tử hợp chất mới này được gắn thêm một nguyên tử sulphur, có tác dụng hoạt động cơ chế đối kháng các độc tố sinh ung thư. Bên cạnh đó, trong bông cải xanh còn có thêm protein ESP với nhiệm vụ tạo ra sự cân bằng cho các sulphoraphane kém sulphur.

  • Ung thư dạ dày: tiêu diệt vi khuẩn helicobacter pylori (HP) đây là loại vi khuẩn chính gây loét dạ dày và phần lớn tác nhân gây ung thư ở đây.
  • Ung thư da: Bảo vệ làn da của bạn chống lại các tác động của tia cực tím – bông cải xanh có thể giúp ngăn ngừa ung thư da, không ăn nó mặc dù, nhưng bằng cách áp dụng nó trực tiếp lên da. Một bài viết trong Kỷ yếu của Viện hàn lâm Khoa học phát hiện ra rằng các tác hại của bức xạ tia UV (tia cực tím) có thể được giảm đáng kể với việc bôi tại chỗ chiết xuất bông cải xanh.[11]
  • Ung thư bàng quang: Các nghiên cứu tại Ðại Học Ohio State và Ðại Học Harvard cho biết: một nhóm chất từ bông cải xanh có khả năng ngăn ngừa và làm chậm phát triển của bệnh ung thư bàng quang. Nghiên cứu cho biết những người ăn từ 2 bữa bông cải xanh mỗi tuần có tỷ lệ mắc ung thư bàng quang thấp hơn 44% so với những người ăn không quá 1 bữa/tuần.  Hợp chất này có tên là glucosinolate từ mầm bông cải xanh. Trong quá trình thái nhỏ, nhai và tiêu hóa, chất này sẽ chuyển thành chất isothiocyanate, có vai trò ngăn ngừa ung thư. Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, isothiocyanate ngăn chặn phát triển của các tế bào ung thư bàng quang.[12]

Cách chế biến

Bông cải xanh là món ăn ưa thích, tuy nhiên khi chế biến bông cải xanh ở nhiệt độ cao, nhiều nghiên cứu đã cho thấy những thành phần vitamin đặc biệt là nhóm chất có tác dụng ngăn ngừa ung thư bị giảm. Lý do là  nhiệt độ cao sẽ làm mất hoạt tính của các enzyme và chất ESP, làm mất cân bằng của sulforaphane. Hơn nữa, lượng sulforaphane có đính thêm Sulphur trong bông cải xanh rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 20 % tổng số sulphoraphanes và rất dễ bị vô hiệu hóa. Các thành phần còn lại không có đủ nguyên tố Sulphur hữu ích, nên không có khả năng kháng bệnh.

Các nhà nghiên cứu so sánh cách nấu bằng luộc, lò vi sóng và hấp bông cải xanh, và thấy rằng hấp bông cải xanh trong năm phút là cách tốt nhất để giữ lại enzyme myrosinase (một loại enzyme có trong bông cải xanh giúp làm sạch chất gây ung thư trong gan) của nó. Cách luộc và hâm bằng lò vi sóng bông cải xanh trong một phút hoặc ít hơn đã phá hủy phần lớn các enzyme, theo Elizabeth Jeffery, một nhà nghiên cứu tại Đại học Illinois tại Urbana-Champaign.

Hiện nay xu hướng dùng bông cải xanh trong bữa ăn như salad trộn không qua nấu chín đang là cách ẩm thực phổ biến và khoa học, có lẽ đây là cách đảm bảo nguyên vẹn thành phần dinh dưỡng có lợi và bảo vệ sức khỏe.[13]

Sản xuất

Bản đồ sản lượng súp lơ và bông cải xanh năm 2005

Ở Bắc Mỹ, bông cải xanh chủ yếu được trồng ở California. Theo mùa, mức giá vận chuyển trung bình cho súp lơ vào năm 2004 là 33 đô-la Mỹ cho mỗi 100 cân pao (hay 0,73 đô cho 1 kg) theo Dịch vụ Thống Kê Nông nghiệp Quốc gia, USDA[cần dẫn nguồn].

Tốp 10 nước sản xuất súp lơ và bông cải xanh — 11 tháng 6, 2008[14]
Quốc gia Sản lượng (tấn) Ghi chú
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc 8.585.000 F
Ấn Độ Ấn Độ 5.014.500
 Hoa Kỳ 1.240.710
 Tây Ban Nha 450.100
 Ý 433.252
 Pháp 370.000 F
México México 305.000 F
 Ba Lan 277.200
 Pakistan 209.000 F
 Anh Quốc 186.400
Thế giới 19.107.751
F = Ước tính của FAO

Xem thêm

Liên kết ngoài

Tham khảo

  1. ^ Buck, P. A (1956). “Nguồn gốc và phân loại bông cải xanh” (PDF). Economic Botany 10 (3): 250–253. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2012.
  2. ^ Stephens, James. “Broccoli—Brassica oleracea L. (nhóm Italica)”. Đại học bang Florida. tr. 1. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2009.
  3. ^ Chất xơ hữu cơ có trong thực phẩm, còn gọi là xơ thực phẩm
  4. ^ “WHFoods: Broccoli”. George Mateljan Foundation. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009.
  5. ^ Catharine Paddock Ph.D. (28 tháng 8 năm 2013). “Eating broccoli may help prevent osteoarthritis. Medical News Today.
  6. ^ ‘Sulforaphane represses matrix-degrading proteases and protects cartilage from destruction in vitro and in vivo’ by Rose Davidson, Orla Jupp, Rachel De Ferrars, Colin Kay, Kirsty Culley, Rosemary Norton, Clare Driscoll, Tonia Vincent, Simon Donell, Yongping Bao and Ian Clark, published in Arthritis & Rheumatism on Wednesday August 28.
  7. ^ Takayuki Shibamoto; Joon-Kwan Moon (ngày 30 tháng 1 năm 2009). “Antioxidant Assays for Plant and Food Components”. J. Agric. Food Chem. 57 (5): 1655–1666. doi:10.1021/jf803537k.
  8. ^ “Broccoli Could Reverse Diabetes Heart Damage, Study”, Medical News Today (6th Aug 2013), Catharine Paddock Ph.D. Truy cập 2nd October, 2013.
  9. ^ Broccoli Sprouts May Prevent Stomach Cancer By Defeating Helicobacter Pylori, Jed Fahey, Johns Hopkins Medical Institutions, Accessed ngày 6 tháng 4 năm 2009
  10. ^ “Dietary Sulforaphane-Rich Broccoli Sprouts Reduce Colonization and Attenuate Gastritis in Helicobacter pylori–Infected Mice and Humans”, Cancer Prevention Research, April 2009, Volume 2, Issue 4, Pages 353-360
  11. ^ “Broccoli could be ‘sunscreen against skin cancer'”, Medical News Today (9th Sep 2013), Honor Whiteman. Truy cập 2nd October, 2013.
  12. ^ “Broccoli Three Times A Month Can Significantly Reduce Cancer Risk”, Medical News Today (9th Dec 2007), Christian Nordqvist. Truy cập 2nd October, 2013.
  13. ^ The American Cancer Society explains lifestyle choices that can reduce cancer risk, Robert Preidt, American Institute for Cancer Research, news release, Nov.ngày 1 tháng 7 năm 2013
  14. ^ Theo Tốp 10 nước sản xuất súp lơ và bông cải xanh, ngày 11 tháng 6 năm 2008, nguồn từ Phòng Thống kê, Cục kinh tế và xã hội, Tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm, Liên Hiệp Quốc

LDL cholesterol là gì? HDL cholesterol là gì?


LDL cholesterol – HDL Cholesterol

1. Cholesterol là gì?

Từ hơn 200 năm trước, người ta tìm ra công thức hóa học của sạn mật, và đặt tên là Cholesterol. Cái tên Cholesterol, nếu phân tích kiểu chiết tự ra, gồm ba phần gốc chữ Hy Lạp: chole nghĩa là mật, stereos có nghĩa là chất đặc, hình khối (âm thanh nổi stereo cũng là ở gốc chữ nầy) và cái đuôi ol đặc thù do công thức hóa học.

ldl cholesterol

Cholesterol thấy nhiều ở màng các tế bào trong cơ thể, giúp cho màng các tế bào được mềm mại, ổn định. Cholesterol là một thành phần của mật tiết ra từ các tế bào gan, giúp tiêu hóa các chất mỡ béo trong ruột, và cũng giúp cho việc hấp thụ các sinh tố như A, D, E, K. Cholesterol là tiền thân của sinh tố D, của nhiều chất nội tiết quan trọng, kể cả các chất nội tiết nam nữ như testosterone, estrogen, progesterone.

Phần lớn Cholesterol được tổng hợp mỗi ngày từ trong cơ thể, phần nhỏ hơn là hấp thu từ thực phẩm ăn vào.

2. LDL cholesterol là gì?

LDL là một loại lipoprotein mang Cholesterol trong máu. LDL được coi là không có ích bởi vì nó làm Cholesterol dư thừa xâm nhập vào màng của thành mạch máu, góp phần làm xơ cứng động mạch (xơ vữa động mạch) và bệnh tim. Do đó LDL-Cholesterol ( LDL-C ) thường được gọi là Cholesterol “xấu”.

Khi có quá nhiều LDL- Cholesterol bị đưa vào các màng của thành động mạch, dấn dần làm hẹp đường kính của mạch. Sau đó, kết hợp với các chất khác trong màng của thành động mạch tạo thành những mảng xơ vữa ( atherosclerosis). Những mảng này có thể bị rạn nứt làm cho thành động mạch không được trơn tru. Khi máu chảy qua những chỗ “gồ ghề” này, dòng máu dễ bị hỗn lọan không đều, trì trệ và dễ đông lại thành cục máu đông ( thrombus). Cục máu đông này có thể phát triển theo kiểu “phù sa bồi đắp”, lớp lớp chồng lên nhau, cục máu đông lớn dần lớn dần, dẫn đến tắt nghẽn động mạch. Nếu trường hợp này xảy ra trong động mạch vành tim thì kết quả là nghẽn mạch tim, gây chứng nhồi máu cơ tim. Trong trường hợp cục máu đông bị bong ra khỏi thành động mạch, trôi theo dòng máu cho đến khi kẹt vào một mạch có đường kính nhỏ hơn và làm nghẽn mạch ấy. Nếu chẳng may đấy là mạch máu của não thì kết quả là chứng tai biến mạch máu não

hdl cholesterol, ldl cholesterol

3. HDL Cholesterol là gì?

Một thứ chất đạm béo nữa vận chuyển Cholesterol về gan cho gan phá hủy đi. Chất đạm béo nầy nặng, có tỷ trọng cao, tiếng Anh gọi là “High Density Lipoprotein”, tên tắt là HDL. HDL có khả năng lấy bớt Cholesterol từ các mảng bám vào thành mạch máu để mang về gan hủy đi. Cho nên người có nhiều HDL thì giảm dược nguy cơ đứng tim và tai biến mạch máu não. Nếu HDL ít quá, thì rủi ro đứng tim và tai biến mạch máu não nhiều lên.

Vì vậy, HDL có tên là “cholesterol tốt.” HDL trong máu bị thấp, có thể là do di truyền, nhưng nếu tập luyện thể lực nhiều, thì HDL sẽ tăng cao .

Đo Cholesterol trong máu

Cholesterol trong máu bao nhiêu là tốt? Tài liệu cua Hội Tim Hoa Kỳ xếp hạng như sau:

-Lượng cholesterol (mg/dl) ít hơn 200, hoặc ít hơn 5.2 nếu tính ra mmol/dl* , thì được xếp hạng tốt.

-Lượng cholesterol (mg/dl) từ 200 đến 239, hoặc từ 5.2 đến 6.2 mmol/dl, có thể bị tăng rủi ro bệnh tim mạch.

-Lượng cholesterol nhiều hơn 240, hoặc nhiều hơn 6.2 mmol/ dl, thì nhiều rủi ro bệnh tim mạch.

(* Ở Mỹ thường đo lượng cholesterol trong máu bằng con số mg trong 1 decilit máu (mg/dl). Các phòng thí nghiệm ở Việt Nam hay dùng đơn vị milimole/dL)

Dựa theo những kết quả khảo cứu gần đây, nhiều Bác sỹ khuyên bệnh nhân nên giữ cholesterol ở mức dưới 180mg/dL.

Nhưng ngày nay việc đo lượng cholesterol trong máu thường đi thêm vào chi tiết, cho biết lượng LDL cholesterol và HDL cholesterol , nên căn cứ vào hai thứ này thì chính xác hơn .

LDL cholesterol  nên ở mức dưới 100 mg/dl, nếu là người bình thường. Nếu , là người có những rủi ro khác về bệnh tim mạch, như là di truyền, hút thuốc, tiểu đường, mập phì, v.v thì nên giữ LDL cholesterol ở mức dưới 70 mg/dL. Trẻ em nên có lượng LDL cholesterol dưới 35 mg/dL.

Trái lại, HDL cao thì tốt. Nên giữ HDL ở mức trên 50 mg/dl.

Cũng có khi phòng thí nghiệm cho biết tỷ số cholesterol/HDL, gọi là ước lượng rủi ro tim mạch.

Thí dụ cholesterol là 200 mg/dl, HDL là 50 mg/dl, thì tỷ số là 200/50 hay là 4. Tỷ số này  đừng để quá 5. Giữ ở mức 3.5 là tốt nhất. Tuy nhiên, có ý kiến cho là không cần biết tỷ số này, cứ căn cứ vào lượng cholesterol tổng quát và LDL, HDL là được rồi.

4. Loại thuốc giúp giảm cholesterol hiệu quả được các bác sĩ khuyên dùng

Gợi ý điều trị

Tinh lá sen tươi OB được chiết xuất 100% từ lá sen tươi bánh tẻ chất lượng cao

Tinh lá sen tươi OB giúp: hạ mỡ máu, gan nhiễm mỡ, men gan cao, giảm cao huyết áp, phòng ngừa và điều trị bệnh nhồi máu cơ tim, đột quỵ vô cùng hiệu quả

Tinh lá sen tươi OB-giảm mỡ máu, an thần ngủ ngon

Chiết xuất 100% lá sen tươi (http://lasen.com.vn/tinh-la-sen-tuoi-ob-giam-mo-mau-an-than-ngu-ngon )

245,000 đ

– Giảm mỡ máu, giảm xơ vữa động mạch, hỗ trợ điều trị gan nhiễm mỡ rất hiệu quả. – Bảo vệ hệ tim mạch và giảm béo phì. – An thần, giúp ngủ ngon. – Bình ổn đường huyết, tốt cho bệnh nhân đái tháo đường. – Hạ cao huyết áp, giúp ổn định huyết áp

Bệnh “Ngộ nhận” là gì ? làm sao lại có bệnh này và cách chữa bệnh này ?


Trên đời hoạn lộ có rất nhiều cảnh đời và con đường mà mỗi người chọn để đi, để sống “ĐƯỜNG SỐNG” và cái nghiệp nó dẫn dụ đi theo “NGHIỆP DẪN” (hơi khó hiểu ở vế sau, nhưng mà có lẽ đúng vì chúng ta luôn có 2 vế để mà cân bằng).

Sống trên đời có 2 thứ chúng ta xét tới đó là:

Loại người thứ nhất: sẽ nói nhiều trước khi làm hoặc “chém gió” trước khi nghĩ và làm thực.

Loại người thứ hai: sẽ làm hùng hục trước khi nói hoặc “Trảm” trước khi tấu (ít có khả năng mắc bệnh, không bàn đến trong bài này).

– Tôi xin vẽ cách hiểu logic của những thứ nói trên như sau:

image

– Xét theo góc độ bệnh học: chúng ta có thể đổ lỗi về căn nguyên bệnh này là do Virus “Ngộ nhận”

Virus bệnh này ấp ủ thường trực trong mỗi suy nghĩ con người chúng ta, với những ai tỉnh táo, sáng suốt, mạnh khỏe tinh thần thì nó khống có điều kiện chuyển thành bệnh, với bất kỳ ai mụ mẫm, háo danh, mờ mắt chỉ cần có điều kiện là mắc bệnh ngay.

Các Cán bộ viên chức nào cũng mong muốn có bảng thành tích cá nhân vàng chóe để khẳng định khả năng sáng tạo, sự thông minh nhạy bén, khiếu diễn thuyết, tài viết lách, cuốn từ điển sống của tri thức, trình độ thuyết phục dẻo đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra…

Muốn kết luận được tài năng của bản thân lại cần đến những người xung quanh nhận xét về mình, mà thái độ của thiên hạ vô cùng đa dạng:

  1. Người dĩ hòa vi quý lúc nào chẳng gật gù, nắm tay lắc lắc,
  2. Người giữ xã giao mỉm cười, nhìn xa ngẫm nghĩ,
  3. Người không muốn biểu lộ thái độ thì quay đi chăm chú làm việc khác,
  4. Chỉ một thiểu số người vì lý do sâu xa nào đó sẽ tán thưởng nồng nhiệt khen ngợi hết lời, tấm tắc lắc lư thế là cơn bệnh ngộ nhận bắt đầu phát tác tự nhiên hơn cả ruồi.

Những người ngộ nhận thấy tự tin hơn, khi gặp gỡ đồng nghiệp và cấp trên rất đon đả, chững chạc, trong đầu họ lăm lăm một số ý tưởng, chủ đề thu phát được qua các tần số tán gẫu công cộng, chỉ đợi dịp là thao thao bất tuyệt.

Hệ quả: vậy là đã có nhiều sếp cứ ngỡ rất tình cờ tìm ra nhân tài bèn tin cậy giao việc cho mặc sức thể hiện và ung dung đợi kết quả như ý trong khi những tài năng này lo toát mồ hôi hột chạy vạy nhờ vả anh em, bạn bè giúp đỡ làm hộ, viết thuê để cốt sao thành quả thật hoành tráng tương xứng với năng lực mà bản thân và cấp trên cùng ngộ nhận.

Tác dụng phụ:

Không ít trường hợp đã biết rõ mình nhưng cố tình “hình tượng hóa bản thân – nặn tượng”  cao lồng lộng bằng cách lo lót bằng cấp này nọ, thuê làm luận văn để đại từ nhân xưng có thêm mấy tiền tố đáng nể hơn. Một số người khác còn bào chế những tuyệt chiêu bằng cách quảng cáo, khuếch trương những quan hệ ảo. Họ thường đưa ra vài đại từ nhân xưng thân mật hoặc danh từ riêng kiểu:  cái tay Nguyễn Văn X này, ông anh Minh Z ấy, sếp Trần Y chứ gì… với giọng điệu người nhà, thậm chí còn lấy điện thoại di động ra bấm số gọi ngay, sau một lúc lại thanh minh tiếc rẻ anh ấy, sếp ấy chắc đang bận họp nên tắt máy (thực tế đọc được mấy cái tên này trên báo chí hoặc nghe ai đó kể chuyện có quen biết, thế là coi như bạn người cũng là bạn mình, “thế giới đại đồng “).

Qua kịch bản biểu diễn của bệnh nhân ngộ nhận ấy mà khối người lác mắt, cung kính nhờ cậy việc này việc nọ…

Xét trên khía cạnh nhân văn, người nào ngộ nhận về bản thân thì bất lợi trên đường sự nghiệp. Lý do là mình tự kỷ ám thị đến mức theo chủ trương duy ngã độc tôn, coi thiên hạ yếu kém, mãi đến lúc sực tỉnh mới ngấm sự chán ngán, suy sụp. Hơn nữa, để người khác ngộ nhận về mình thì hậu quả xấu cho cả hai bên: người được ngộ nhận càng đắc ý uống thuốc mê quá liều khó tỉnh, người ngộ nhận thì thất vọng bởi không chọn đúng mặt gửi vàng, lại còn hoang mang vì trình độ bản thân không phân biệt được thật giả, hay dở. Có những người chưa từng hiểu lầm về bản chất và năng lực của mình nhưng do vài lần được khen thành tích nhỏ như ong mật thành con chim công, thế là vênh váo tự hào coi mình bắt đầu gia nhập thế hệ thiên tài mới. Tất nhiên không phải ai cũng cả tin với lời khen như vậy nhưng do được nhiều lời khen lấy lòng quá đâm ra sung sướng, tự thấy mỹ mãn với mình.

Nguyên nhân bệnh thêm nặng:

Có thể kết luận rằng: khen ngợi không trung thực chính là nguyên nhân khiên cho bệnh ngộ nhận phát tác. Tăng bốc phỉnh nịnh là liều thuốc độc cực mạnh giết chết nhận thức chân chính. Ngỡ rằng đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh sẽ có thuốc chữa trị, nhưng giời ạ, khó lắm! Làm gì có loại cân đo vi chính xác để xác định lời khen nào thật, giả? Có ai thừa nhận rằng những lời mình vừa nói là tâng bốc? Cho nên danh ngôn mới chua rằng: lời nói như tên, đã cắm vào tai ai, không tài nào rút ra được. Tất nhiên, cần có ngoại lệ cho những câu nói khiến cho người ta ngộ nhận, đó là những mũi tên vô hình tẩm mật ong rừng! Ngọt ngào lắm ai ơi!

 

Phương pháp chữa:

Rất ít thuốc để chữa, thuốc rất đắng tùy thuộc cấp độ bệnh nhẹ hay nặng và quan trọng “Tự vấn lương tâm và tự giác ngộ”:

  • Có thấy sai không ?
  • Có thấy cần quay đầu lại để làm lại mà không hối tiếc không ?
  • Có tự vấn lương tâm chua sót trước khi trở thành người có “Đạo đức giả” không ?

 

Thuốc chữa chỉ có tác dụng hiệu quả:

  • Khi thấy cảnh đời con người đau khổ, chỉ có cảm thông sâu sắc, chia sẻ với họ thật lòng, các bạn à: “sống trong đời sống cần có tấm lòng cao thượng  biết hy sình vì gia đình, người thân, bạn bè” mới không bao giờ còn cái bệnh Quỉ quái đó.
  • Trong lời ăn tiếng nói phải tử tế, trân thành và biết trân trọng mọi người

(từ cái nhỏ nhất đừng có văng tục chửi thề, ngay cả từ viết tắt chửi tục cũng vậy – vì cái tâm của bạn nó nghe được, nó cũng sẽ nhớ được, nó thành quen ở mồm “Khẩu thiệt” thì nó cũng có thể dẫn đến ở ý thức, nhận thức và hành động của bạn “nó là Vô thức ý” rồi dẫn tới hành sử thực tế của bạn. Đậy gọi là “NGHIỆP DẪN Ý” nhiều tai họa, tính mạng hiểm nguy chỉ bởi lời ăn tiếng nói, câu viết như vậy đó).

  • Đừng lười suy nghĩ, đừng lười lao động chân tay hay trí óc, hãy vận động để sáng tạo hãy học hỏi thay vì ngồi chỗ “Chém gió”, hãy làm việc cho dù “Chó cứ sủa đoàn người cứ đi”.
  • Không phải vì bạn đóng góp cho ai, cho xã hội nào, cho công ty nào được nhiều giá trị là vinh quang đâu, đừng lầm tưởng nay có thể là như thế này mai thế khác nhưng Lao động là vinh quang.
  • Hạn chế “Chém gió” khi có thể là tiết kiệm thời gian dành cho Lao động hoặc chỉ đúng với mục đích tôn cao giá trị của “Lao động là vinh quang”.

 

Chúc Cô gì, chú bác, anh chị em và tất thẩy Trời – người – các loài vật không mắc bệnh “NGỘ NHẬN” !

 

Trích báo:  Hà nội ngàn năm văn hiến.

P.S: Bài này không có trong báo sức khỏe & đời sống.

Bat nuoc 9 hat gao

Bài sám hối trước tượng phật Ngài Quán thế âm Bồ tát


Quì trước Tượng Quán thế âm Bồ tát

1 Bát nước trong vắt 9 hạt gạo thơm

Cúi đầu chấp tay

Con xin lay phật

Lòng con thành thật

Chí nguyêh theo Ngài

Lãnh cõi trần ai

Mong về Tịnh độ

Thấy đời thật khổ

Lắm kẻ điêu tàn

Sống kiếp lầm than

Vì chưa giác ngộ

Nay con đã rõ

Dù trễ hơn không

Cố sức gắng công

Xả thân cầu đạo

Lánh vòng phiền não

Núp bóng từ bi

Mạn tham sân si

Con nguyện từ khước

Lỗi lầm từ trước

Vì tánh còn mê

Nay con xin thề

Thành tâm sám hối

Lấy công chuộc tội

Quyết chí tu hành

Lánh dữ theo lành

Vun trồng cội phúc

Nước nay tuy đục

Lọc mãi phải trong

Con nguyện hết lòng

Bồ đề kiên cố

Lợi danh cám dỗ

Chẳng chút động tâm

Bụi tục bụi trần

Con nguyện dũ sạch

Cho lòng thanh bạch

Cho chí thanh bình

Chánh niệm quang minh

Cầu xin chư Phật

khi con nhắm mắt

Xin phóng đạo hào quang

Tiếp dẫn cho con

Nương về Tịnh độ

Nguồn mê bể khổ

Nghiệp chướng luân hồi

Nay đã dứt rồi

Con xin thệ nguyện

Nguyện thành chánh giác

Nguyện độ chúng sinh

Nguyện thành Phật đạo

 

HỒI HƯỚNG

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ a di đà phật.

 

Nguyên tác: Đệ tử Phùng Thị Thơm

Hiệu Pháp Danh: Cư sĩ Diệu âm : Diệu Hương

 

Chế tác: Đệ tử Lê Toàn Thắng

Hiệu Pháp danh: Đàm Hiếu

 

DƯỠNG CỐT (TINH HOA DƯỠNG CỐT)


– Khu phong, trừ thấp. Bổ can thận từ đó Bổ dưỡng xương khớp, thần kinh vì can chủ cân, thận chủ cốt tuỷ. Tạo chất nhờn cho khớp.- Chủ trị phong, thấp tý, đau lưng, đau sườn, khớp nhức mỏi, tê buồn chân tay, đau vai gáy, đau thần kinh tọa, thần kinh liên sườn, loãng xương, thoái hóa xương khớp cột sống, thoát vị đĩa đệm, gãy xương, bong gân, trật khớp. Trẻ em còi xương.

 

(04) 37.61.26.26

Giá: 130,000 VNĐ + 10%VAT = 143,000 VNĐ
(Khi mua cần lấy VAT)

 

Tinh hoa Dưỡng cốt” được bào chế từ bài “Độc hoạt ký sinh thang” có từ đời Đường cách đây hơn 1000 năm. Là một tập hợp các vị thuốc có nguồn gốc thiên nhiên với tác dụng bổ Can Thận để bổ dưỡng xương khớp nhằm phòng và trị bệnh xương khớp, vì theo Đông y Can chủ cân, Thận chủ cốt tuỷ. Hơn nữa “Tinh Hoa Dưỡng Cốt” còn kết hợp Cao ban long cùng với Canxi và Vitamin D3 là những thành phần rất quan trọng cho sự điều hoà cân đối của xương và tăng dịch nhờn cho khớp, đó cũng là phương pháp chữa trị tận gốc của bệnh.

THÀNH PHẦN

Độc hoạt

Radix Angelicae pubescentis

Nhục quế

Cortex Cinnamomi

Phòng phong

Radix Ledebouriellae seseloidis

Đương quy

Radix Angelicae sinensis

Tế tân

Herba Asari

Xuyên khung

Rhizoma Ligustici wallichii

Tần giao

Radix Gentianae macrophyllae

Tang ký sinh

Herba Loranthi

Can địa hoàng

Radix Rehmanniae glutinosae

Đỗ trọng

Cortex Eucommiae

Nhân sâm

Radix Ginseng

Ngưu tất

Radix Achyranthis bidentatae

Phục linh

Poria

Cam thảo

Radix Glycyrrhizae

CÔNG NĂNG, CHỦ TRỊ

Khu phong, trừ thấp. Bổ can thận từ đó Bổ dưỡng xương khớp, thần kinh vì can chủ cân, thận chủ cốt tuỷ. Tạo chất nhờn cho khớp.
Chủ trị phong, thấp tý, đau lưng, đau sườn, khớp nhức mỏi, tê buồn chân tay, đau vai gáy, đau thần kinh tọa, thần kinh liên sườn, loãng xương, thoái hóa xương khớp cột sống, thoát vị đĩa đệm, gãy xương, bong gân, trật khớp. Trẻ em còi xương.
CÁCH DÙNG, LIỀU LƯỢNG
Ngày ung 2 ln, mi lần 2-3 nang, trẻ <15 tuổi: mỗi lần 1-2 nang, ̣nh nng dùng liều gấp đôi.
Để phòng bệnh và bổ dưỡng xương khớp thần kinh: ngày uống 2-4 nang.
Đóng gói:
– Hộp 60 viên giá 130.000đ
– Hộp 200 viên giá 390.000đ
 
 

Tinh Hoa 1: 12+14 phố Nguyễn Như Đổ, P. Văn Miếu, Q.Đống Đa, Hà Nội. ĐT: 04.38438093

Tinh Hoa 2: 442 đường Bưởi, quận Ba Đình, Hà Nội. ĐT: 04.37.61.26.26

Tinh Hoa 3: A24 – TT18 mặt phố Nguyễn Khuyến, Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội. ĐT: 04.3991.2211; 04.33540407

Các xét nghiệm cần làm trong bệnh đái tháo đường


SKĐS – Khi bị đái tháo đường (ĐTĐ), đường trong máu sẽ cao và có thể gây ra nhiều biến chứng (mắt, tim, thận…) nếu không được điều trị đúng.

Để điều trị thường cần làm một số xét nghiệm để kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường. Sau đây là những xét nghiệm cần làm cho bệnh nhân đái tháo đường.

cac-xet-nghiem-dai-thao-duong

Xét nghiệm đường huyết mao mạch

Những xét nghiệm cần làm cho bệnh nhân đái tháo đường

Đường huyết

Đường huyết (ĐH) tĩnh mạch (phải làm ở phòng xét nghiệm). ĐH mao mạch (lấy một giọt máu ở đầu ngón tay, có thể tự thử ở nhà).

Đường niệu, HbA1c; ceton huyết, niệu; tổng phân tích nước tiểu, lipid máu.

Theo dõi ĐH lúc đói (trước ăn sáng), ĐH trước bữa ăn (trưa, tối), ĐH 2 giờ sau ăn. HbA1c mỗi 3 tháng 1 lần. Lipid máu lúc đói lúc chẩn đoán ĐTĐ nếu bình thường thì đo hàng năm. Đạm niệu mỗi năm một lần.

ĐH như thế nào thì gọi là ĐTĐ?

Để xác định có đái tháo đường, cần phải thử ĐH tĩnh mạch. Ở người bình thường: ĐH tĩnh mạch lúc đói 70 – 100mg/dl (được gọi là đói khi nhịn ăn ít nhất 8 giờ trước khi lấy máu). Người bị ĐTĐ khi ĐH lúc đói hơn hay bằng 126mg/dl (ít nhất 2 lần thử vào 2 ngày khác nhau).

Chú ý: không được dùng kết quả ĐH đo bằng máy thử ĐH ở đầu ngón tay để chẩn đoán ĐTĐ.

Khi điều trị ĐTĐ, ĐH bao nhiêu thì tốt?

Bảng dưới đây là mức ĐH cần phải đạt được khi điều trị.

Với một số người dễ bị hạ ĐH (người cao tuổi, rối loạn tri giác, ăn uống kém) không nên cố gắng đạt tới mức ĐH lý tưởng, chỉ cần giữ ở mức chấp nhận được.

Có cần phải thử đường trong nước tiểu hay không?

Hiện nay, thử đường niệu không còn được dùng phổ biến để theo dõi đái tháo đường nữa, vì nó có nhược điểm là không đánh giá được trường hợp ĐH không cao nhiều (từ 120 -180mg/dl). Thử đường niệu cũng không phát hiện được tình trạng hạ ĐH. Que thử đường niệu có ưu điểm là giá rẻ. Cách tốt nhất để tự theo dõi ĐH hiện nay là dùng máy đo ĐH ở đầu ngón tay. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn có thể dùng que thử đường trong nước tiểu để theo dõi tình trạng bệnh ĐTĐ nếu không có điều kiện mua máy đo ĐH.

Lời khuyên cho bệnh nhân đái tháo đường thử đường huyết tại nhà

Có thể thử ĐH ở nhà hay không?

Ở nhà có thể dùng máy thử ĐH ở đầu ngón tay để tự theo dõi ĐH. Đây là cách theo dõi điều trị ĐTĐ thuận tiện và thường được dùng hiện nay, nó giúp đánh giá tình trạng ĐTĐ tốt hay xấu. Kết quả được đo tại nhà nhanh sẽ giúp cho bác sĩ điều trị ĐTĐ tốt hơn cho người bệnh.

Nếu có máy thử ĐH ở nhà, nên thử ĐH mấy lần trong ngày và thử vào lúc nào?

Nên thử ĐH ở nhà tại những thời điểm sau đây:

ĐH lúc đói (trước ăn sáng), ĐH trước bữa ăn (trưa, tối), ĐH 2 giờ sau ăn (sau khi bắt đầu ăn), ĐH lúc đi ngủ (10 – 11g đêm).

Với ĐTĐ týp 1: có thể thử mỗi ngày từ 2 – 4 lần tùy trường hợp. Cần phải thử nhiều lần trong ngày khi đang cần điều chỉnh liều tiêm insulin để kiểm soát tốt ĐH.

Với ĐTĐ týp 2: không cần thường xuyên như ĐTĐ typ 1 mà chỉ cần 2 – 3 lần/tuần.

Với bệnh nhân ĐTĐ nói chung, cần thử ĐH khi có biểu hiện hạ ĐH (hồi hộp, vã mồ hôi, chân tay lạnh…), gọi là hạ ĐH khi chỉ số ĐH < 60mg/dl.

Huyết sắc tố A1c (HbA1c) là gì? Bao lâu thì phải thử lại?

Đường glucose trong máu sẽ gắn vào huyết sắc tố (Hb) trong hồng cầu. Đo HbA1c cho biết ĐH trung bình trong vòng 2 – 3 tháng trước đó. Bình thường thì HbA1c khoảng 4 -6% của tổng số Hb trong máu. Nếu HbA1c tăng cao hơn bình thường chứng tỏ ĐH không kiểm soát tốt trong thời gian 2 – 3 tháng trước khi đo. Chỉ cần đo HbA1c 3 tháng 1 lần, vì đời sống hồng cầu là 2 – 3 tháng mới thay hồng cầu mới.

Khi nào thì cần phải thử ceton trong máu và nước tiểu?

Nếu ĐTĐ không được điều trị tốt, ĐH tăng cao thì trong cơ thể có thể sinh ra ceton. Thể ceton mang tính acid sẽ có hại cho cơ thể. Tình trạng này cho biết trong cơ thể người bệnh đang thiếu insulin, bệnh nhân cần phải đến gặp bác sĩ để được điều trị gấp. Nên dùng que thử ceton niệu khi gặp các tình huống sau đây: bị cảm cúm hay sốt; ĐH cao >250mg/dl, buồn nôn, nôn, đau bụng; có thai.

Có cần thử đạm niệu không?

Khi bệnh nhân ĐTĐ có nhiều đạm trong nước tiểu là dấu hiệu cho biết thận đã bị tổn thương. Có hai mức độ tiểu ra đạm (albumin): tiểu albumin vi lượng là lượng albumin trong nước tiểu ít từ 30 – 300mg/24 giờ. Tiểu đạm đại lượng là lượng đạm trong nước tiểu nhiều > 300mg/24 giờ. Khi có đạm niệu, bệnh nhân cần được bác sĩ chuyên khoa điều trị theo dõi để tránh bị suy thận.

Dùng phương pháp nào đo đạm niệu?

Đo đạm niệu tại bệnh viện hay các trung tâm xét nghiệm sẽ cho biết chính xác lượng đạm trong nước tiểu hàng ngày để đánh giá tiểu đạm nhiều hay ít (chú ý không đo đạm niệu khi mới vận động, nhiễm toan ceton, sốt, nhiễm trùng vì kết quả đo sẽ không chính xác).

Tại sao bị ĐTĐ mà phải thử mỡ trong máu?

Bệnh nhân ĐTĐ thường hay có mỡ trong máu tăng cao. Khi mỡ trong máu tăng cao sẽ làm bệnh nhân dễ mắc bệnh tim mạch: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

Thử mỡ máu khi nào? Cần phải nhịn đói trước khi đi thử mỡ máu.

Thử những chỉ số gì? Thường có 4 yếu tố cần phải đo gồm: lipid máu, HDL – cholesterol, LDL – cholesterol, triglycerid .

ThS.BS. TRẦN QUANG NAM

https://medlatec.vn/chi-tiet/goi-kham-tai-nha/-goi-xet-nghiem-tai-nha-danh-cho-nam-nu-tren-50-tuoi-123-5811.aspx

Các chỉ số HDL, LDL, triglycerides là gì ?


 

  Natural Remedies for Cholesterol – How Effective Are They?
Dr Jayaprakash, the Ayurvedic healer and Managing Director of Dharma Ayurveda in Trivandrum, India, believes that ‘people whose blood cholesterol is low become just as atherosclerotic as people whose cholesterol is high. Only when LDL is converted into a toxic form of oxidized LDL by oxygen free radicals in the blood, does it become truly dangerous. And it can occur in a person with low LDL too. Ayurveda remedies intervene at the very genesis of atherosclerosis, blocking the toxic transformation of LDL. Thus it is not only beneficial to the ones with high cholesterol, but everyone who is keen in preventing atherosclerosis and its grave hazards’.

Following are the Ayurvedic measures to control and maintain optimum cholesterol levels:
Drink 6 to 8 glasses of water daily.
Start your day with fresh fruits and grains such as oats that are high in soluble fiber.
Minimize consumption of animal products including dairy products. This is because animal foods are high in saturated fatty acids and dietary cholesterol.
Consume fish viz salmon, sardine and tuna as well as oysters, clams and mussels. These help lower LDL and improve HDL.
Restrict consumption of Omega-6 rich oils such as corn oil and safflower oil. Instead, use olive oil, sesame oil and rapeseed oil that have ‘good fat’.
Eat a lot of anti-oxidant foods such as strawberries, apples, nuts, carrots, broccoli and spinach.
Use turmeric and curry leaves when cooking dishes. They have cholesterol lowering properties.
Ayurvedic remedies to fight cholesterol:
1. Boil water with 2 tsp coriander seed. Strain and drink this water twice daily. It helps reduce cholesterol, flushes out toxins, and improves digestion.
2. Guggulu (Commiphora mukul) is effective in lowering cholesterol. Buy it from any reputed Ayurvedic store and use it as per instructions on the container.
3. Grill 1 or 2 small cloves of garlic and take it daily with your main meal.
4. Take 1 to 2 capsules per day of Arjun (Terminalia arjuna) extract available in a capsule form. Arjun is rich in co-enzyme Q-10 (CoQ10) that helps lower LDL cholesterol and enhances HDL recovery.

Read more: Ayurvedic Strategies to Lower LDL and Improve HDL | Medindia http://www.medindia.net/patients/lifestyleandwellness/natural-remedies-for-cholesterol-ayurvedic-strategies.htm#ixzz2V1D31UpB

 

What should we eat to improve HDL, LDL, triglycerides?

Asked by Kashif, Houston, Texas

Open quoteWhat should we include in our diet to increase HDL and lower LDL and triglycerides?Close quote

Expert answer:

Hi Kashif. This is an interesting question, as different components of the diet can be more important for different types of cholesterol abnormalities. Knowing which of your numbers are too low or too high can help you focus your efforts more effectively, although getting to and staying at a healthy weight and eating an overall heart healthy diet like the one that I discussed in an earlier response is the most important overall strategy.

Here is a little primer on where your levels should be in general and how to get them there.

LDL (low-density lipoprotein) or “bad” cholesterol: Elevated LDL cholesterol is highly associated with heart disease. Lowering levels to less than 100 mg/dL (less than 70 mg/dL if you are at very high risk of a heart attack or sudden cardiac death) is very important for reducing your risk of heart attack and stroke.

There are several ways to lower LDL, including limiting saturated fat to less than 7 percent of your total calories; avoiding dangerous trans fats (hydrogenated oils) as much as possible (aim for less than 1 percent of your diet per day or less than 2 grams total if you are consuming 2,000 calories per day); and increasing your intake of soluble fiber found in things such as oatmeal, whole grains, barley, beans, peas, apples, strawberries and psyllium. Try to consume a variety of soluble fiber containing foods every day.

HDL (high-density lipoprotein) or “good” cholesterol: HDL cholesterol is important for transporting less-healthy cholesterol away from the heart, thereby preventing the buildup of unhealthy cholesterol in your coronary arteries. Low levels increase your risk of heart disease. Women should aim for a level of 50 mg/dL or more and men should aim for a level of 40 mg/dL or more.

While it is more difficult to raise good cholesterol, there are a several things that you can do, including losing weight (particularly the unhealthy fat that accumulates around your midsection); exercising (at least 150 minutes a week); drinking moderate amounts of alcohol (1-2 servings a day but don’t feel like you need to start drinking if you don’t already and avoid sugar-filled cocktails); and taking an omega 3 fatty acid supplement (1 gram of fish oil per day) or eating fatty fish such as salmon, sardines and tuna at least twice a week.

Triglycerides: These are another type of fat in the blood that is associated with an increased risk of heart disease. High levels of triglycerides (greater than 150 mg/dL) are often found in conjunction with low levels of HDL (good cholesterol) and suggest a condition known as metabolic syndrome that represents a constellation of findings that may also include high or high/normal blood sugar, waist size greater than 35 inches for women and 40 inches for men, and high blood pressure.

Metabolic syndrome can significantly increase your risk of heart disease and diabetes, and the best treatment is weight loss. In my clinical practice, which is guided by current research, I find that overweight patients with metabolic syndrome tend to respond better to a lower or moderate carbohydrate/higher protein diet.

I highly recommend against cutting carbohydrates completely, as the lack of fiber in your diet may cause the bad cholesterol to increase (aim for about 3 servings of whole grains per day). It is particularly important to limit refined sugar and highly processed carbohydrates if you have elevated triglycerides. Higher levels of omega 3 fatty acids (2-4 grams per day) may also help lower triglycerides, but talk to your doctor first.

 

Raising Your HDL Levels

Increasing the GOOD cholesterol

HDL cholesterol, or “good” cholesterol, appears to scour the walls of blood vessels, cleaning out excess cholesterol. It then carries that excess cholesterol — which otherwise might have been used to make the “plaques” that cause coronary artery disease — back to the liver for processing. So when we measure a person’s HDL cholesterol level, we seem to be measuring how vigorously his or her blood vessels are being “scrubbed” free of cholesterol.

HDL levels below 40 mg/dL result in an increased risk of coronary atery disease, even in people whose total cholesterol and LDL cholesterol levels are normal. HDL levels between 40 and 60 mg/dL are considered “normal.” However, HDL levels greater than 60 mg/dL may actually protect people from heart disease. Indeed, for several years, doctors have known that when it comes to HDL levels, the higher the better. Click here for a quick review of cholesterol and triglycerides.

How can We Increase Our HDL Levels?

Aerobic exercise. Many people don’t like to hear it, but regular aerobic exercise (any exercise, such as walking, jogging or bike riding, that raises your heart rate for 20 to 30 minutes at a time) may be the most effective way to increase HDL levels. Recent evidence suggests that the duration of exercise, rather than the intensity, is the more important factor in raising HDL choleserol. But any aerobic exercise helps.

Lose weight. Obesity results not only in increased LDL cholesterol, but also in reduced HDL cholesterol. If you are overweight, reducing your weight should increase your HDL levels. This is especially important if your excess weight is stored in your abdominal area; your waist-to-hip ratio is particularly important in determining whether you ought to concentrate on weight loss.

Stop smoking. If you smoke, giving up tobacco will result in an increase in HDL levels. (This is the only advantage I can think of that smokers have over non-smokers — it gives them something else to do that will raise their HDL.)

Cut out the trans fatty acids. Trans fatty acids are currently present in many of your favorite prepared foods — anything in which the nutrition label reads “partially hydrogenated vegetable oils” — so eliminating them from the diet is not a trivial task. But trans fatty acids not only increase LDL cholesterol levels, they also reduce HDL cholesterol levels. Removing them from your diet will almost certainly result in a measurable increase in HDL levels. Click here for a quick and easy review of trans fatty acids and the heart.

Alcohol. With apologies to the American Heart Association, which discourages doctors from telling their patients about the advantages of alcohol: one or two drinks per day can significantly increase HDL levels. More than one or two drinks per day, one hastens to add, can lead to substantial health problems including heart failure — and there are individuals who will develop such problems even when limiting their alcohol intake to one or two drinks per day. Click here for a quick and easy review of alcohol and the heart.

Increase the monounsaturated fats in your diet. Monounsaturated fats such as canola oil, avocado oil, or olive oil and in the fats found in peanut butter can increase HDL cholesterol levels without increasing the total cholesterol.

Add soluble fiber to your diet. Soluble fibers are found in oats, fruits, vegetables, and legumes, and result in both a reduction in LDL cholesterol and an increase HDL cholesterol. For best results, at least two servings a day should be used.

Other dietary means to increasing HDL. Cranberry juice has been shown to increase HDL levels. Fish and other foods containing omega-3 fatty acids can also increase HDL levels. In postmenopausal women (but not, apparently, in men or pre-menopausal women) calcium supplementation can increase HDL levels.

What about a low-fat diet?

While Americans traditionally have ingested too much fat in the diet, and while limiting total fat in the diet is useful not only for cholesterol control but also for weight reduction, evidence is emerging that too little fat in the diet can be dangerous. A diet in which fat has all but been eliminated can result in a deficit in the essential fatty acids – certain fatty acids that are essential to life, but which the body cannot manufacture itself. Furthermore, ultra-low-fat diets have been reported to result in a significant reduction in HDL cholesterol in some individuals.

The best advice regarding fat in the diet appears to be this: 1) reduce the fat intake to 30 – 35% of the total calories in the diet – but probably no lower than 25% of total calories; 2) try to eliminate saturated fats and trans fats from the diet, and substitute monounsaturated and polyunsaturated fats instead. (That is, eliminate animal and dairy fat, and substitute unprocessed vegetable fats. Click here for a quick review of the various types of fatty acids.) Such a diet will avoid the problems seen with an ultra-low-fat diet, and should help raise HDL cholesterol levels.

What about drugs for raising HDL cholesterol?

Drug therapy for raising HDL cholesterol levels has, so far, been less successful than for reducing LDL cholesterol. Statins, in particular, are often not very effective at increasing HDL levels.

Of the drugs used to treat cholesterol, niacin appears to be the most effective at raising HDL levels. Niacin is one of the B vitamins. The amount of niacin needed for increasing HDL levels are so high, however, that it is classified as a drug when used for this purpose. Furthermore, “niacin” takes several forms, including nicotinic acid, nicotinamide, and inositol hexaniacinate – and all of these are labelled as “niacin.” Unfortunately, only nicotinic acid raises HDL cholesterol, and this drug can be difficult to take because of its propensity to cause flushing, itching and hot flashes. In general, taking niacin to treat cholesterol levels should be supervised by a doctor. ( Read about niacin here.)

A three-drug regimen of niacin, cholestyramine, and gemfibrozil has been shown to increase HDL cholesterol substantially, but this drug combination can be particularly difficult to tolerate.

Now that HDL levels are attracting more and more attention, several drug companies are attempting to develop new drugs aimed specifically at increasing HDL. Unfortunately, there have been early disappointments and it will be several years before we can expect to see such drugs on the market.

Tell us how you raised your HDL. Raising your HDL levels can be a challenge, because it usually requires lifestyle changes rather than simply taking a pill. So every bit of encouragement we can give each other will help. Share with other readers what you did to raise your HDL levels.

Click on the link (under “Readers Respond,” below) to participate.

Sources:

Rosenson RS. HDL metabolism and approach to the patient with low HDL-cholesterol. UpToDate. May, 2007. (UpToDate.com)

 

High Cholesterol: Raising Your HDL Level