Category Archives: Sức khoẻ & Đời sống

Lưu bút của Bác sĩ Hùng về Sức khoẻ Đời sống–kỷ vật cuối cùng của Cha tôi


Lưu bút: ý kiến cảm nghĩ của Bác Sĩ Lâm Đức Hùng, một trong số những kỷ niệm của Cha tôi trước khi cụ đi xa, tôi xin mạn phép lưu lại bút ký của người và BS. Lâm Đức Hùng để chia sẻ tình yêu đối với những Y, Bác Sĩ, Lương Y của bệnh viện Hữu Nghị và toàn thể ngành Y Việt Nam, những con người ngày đêm tận tuỵ với nghề, với bệnh nhân. 

WP_20170607_001WP_20170607_002

Ấn tượng về Khoa Tiêu hóa BV Hữu nghị

SKĐS – Mới đây, sau khi ăn rau bắp cải luộc còn tồn dư hóa chất bảo quản thực vật, tôi bị ngộ độc. Dù đã nôn khá nhiều cho hết, nhưng chứng rối loạn tiêu hóa vẫn hoành hành làm cho tôi cảm thấy rất mệt, huyết áp kẹt…

Mới đây, sau khi ăn rau bắp cải luộc còn tồn dư hóa chất bảo quản thực vật, tôi bị ngộ độc. Dù đã nôn khá nhiều cho hết, nhưng chứng rối loạn tiêu hóa vẫn hoành hành làm cho tôi cảm thấy rất mệt, huyết áp kẹt… Gia đình phải đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị. Tại đây, tôi được các BS và điều dưỡng khẩn trương khám và kiểm tra cận lâm sàng như xét nghiệm máu, chụp Xquang, siêu âm ổ bụng… và truyền dịch để bù phụ nước, điện giải, rồi đưa tới Khoa Tiêu hóa để điều trị nội trú.

BS. Sự trực tiếp điều trị cùng chị Thủy – Điều dưỡng trưởng của Khoa Tiêu hóa đã có mặt, thu xếp giường và thăm khám, chỉ định chế độ theo dõi sát sao, dù khi đó đã gần 6 giờ chiều (sau hỏi lại, được biết các anh, chị vừa tiếp đoàn kiểm tra, dù hết giờ làm việc từ lâu, nhưng vẫn ở lại vì có bệnh nhân vào cấp cứu). Với phong cách cởi mở ân cần, các anh chị hỏi han về hoàn cảnh ngộ độc, diễn biến trước khi đến bệnh viện với sự chia sẻ, động viên thật chân tình làm cho tôi rất cảm động và yên tâm.

Chăm sóc bệnh nhân nặng. Ảnh: Trần Minh (Báo Sức khoẻ và Đời Sống)

Từ đó, từ sáng trước giờ giao ban hàng ngày của khoa, BS. Sự luôn dành thời gian để thăm các bệnh nhân. Gặp tôi, với gương mặt và nụ cười dễ gần, anh hỏi cặn kẽ về sức khỏe của tôi, giải thích tỉ mỉ về tác dụng các loại thuốc mà tôi được dùng… Các điều dưỡng viên đều đặn hằng sáng vào đo huyết áp, ghi theo dõi giấc ngủ, ăn uống và tình hình sức khỏe của bệnh nhân, rồi chỉ định người phụ trách từng công việc. Tất cả những điều đó được ghi lại trên các bảng biểu và lồng trong tấm bảng được treo ở đầu mỗi giường bệnh nhân để bất kì ai muốn biết đều được đáp ứng, rất minh bạch, theo đúng quy chế của ngành y. Trước khi truyền dịch, sau nụ cười thân thiện và thăm hỏi, các nữ điều dưỡng viên làn nào cũng nhẹ nhàng đưa ra những lời nhắn nhủ thân tình: “Bác cố gắng chịu đau một chút để chúng cháu truyền dịch nhé”.  Các chị hộ lý khi vào làm vệ sinh hoặc đưa quần áo cho bệnh nhân thay đổi, lần nào cũng cất lời chào và hỏi thăm như người trong gia đình, làm cho bênh  nhân cảm thấy nhẹ bớt cảm giác nằm viện, thiếu vắng tình cảm của những người thân. BSCKII Trưởng khoa Đinh Quý Minh đã đến khám và chỉ định làm thủ thuật soi dạ dày và đại tràng cho tôi với lời giải thích để việc chẩn đoán và điều trị toàn diện, là dịp tổng kiểm tra cơ quan tiêu hóa của tôi, có hướng chăm sóc sức khỏe lâu dài. Để chuẩn bị cho việc soi dạ dày và đại tràng, các anh chị đã đưa cho tôi các gói thuốc xổ kèm theo một bảng hướng dẫn cụ thể cách dùng. Theo hướng dẫn đó, tôi đã uống 3 lít nước lọc pha thuốc xổ trong 48 giờ để làm thật sạch đường ruột. Thú thật trong lòng vẫn lo lắng, không biết việc soi đó có đau quá sức chịu đựng của mình hay không. Liệu có xảy ra sự cố gì khi soi hay không. Nhưng vào buổi sáng hôm soi dạ dày và đại tràng, những điều âu lo của tôi đã được giải tỏa, bởi BS. Minh Trưởng khoa và cộng sự của anh đã thao tác thật nhẹ nhàng, chuẩn xác, cảm giác đau của bệnh nhân khi soi chỉ thoáng qua và mọi sự đã diễn ra êm đẹp. Trở lại buồng bệnh, tôi cảm thấy thật sự an lòng. Một buổi chiều, tôi được báo chuyển buồng vì có một chị mới vào viện cần chỗ nằm, tôi nảy ra ý nghĩ xin về nhà, bèn bước ra, rất may trên hành lang của khoa gặp BS. Minh và BS. Sự đang đi buồng thăm bệnh nhân, sau khi nghe nguyện vọng của tôi, hai anh bảo tôi cứ về buồng, sau sẽ trả lời. Ít phút sau, BS. Sự quay lại gặp tôi và nói là “bác cứ yên tâm nằm ở đây, vì khoa đã thu xếp có giường cho bệnh nhân nữ mới vào rồi. Bác cần ít nhất một tuần nữa mới kết thúc đợt điều trị rồi mới tính đến chuyện xuất viện”. Hàng ngày, sau khi truyền dịch xong, nằm nghỉ một lúc, tôi tập đi lại dọc theo hành lang của khoa nhiều lần, phần tránh sự trì trệ để lưu thông tuần hoàn, phần để có dịp giao lưu hỏi chuyện với các bệnh nhân. Ngày nào cũng như ngày nào, các chị y công luôn chân luôn tay lau chùi từng căn phòng bệnh nhân lẫn hành lang của khoa và các nơi làm việc, nên nền nhà lúc nào cũng sạch bóng như thể soi gương được. Khung cảnh Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Hữu nghị đã tạo nên hình ảnh gần gũi, ấm áp tình người đối với người bệnh, một guồng máy được vận hành nhịp nhàng và hiệu quả, luôn được người bệnh ghi nhận và ghi lại những dòng cảm tưởng tốt đẹp trên cuốn sổ ghi nhận xét của bệnh nhân dành cho Khoa Tiêu hóa Bệnh viện Hữu nghị.

Buổi sáng ra viện còn in lại trong tâm trí tôi những ấn tượng khó quên về BS Trưởng khoa Đinh Quý Minh – người có đôi bàn tay vàng – theo cảm nhận của nhiều người bệnh đối với anh, về BS. Sự và các thầy thuốc khác của khoa dầy tâm huyết với công việc, với đội ngũ điều dưỡng thành thạo trong các thao tác và sự ân cần khi chăm sóc bệnh nhân dưới sự điều hành của chị Thủy – Điều dưỡng trưởng của khoa, các chị y công có trách nhiệm cao trong công tác và lịch duyệt trong giao tiếp.

Khoa Tiêu hóa là một nét son, góp phần tô điểm thêm cho vẻ đẹp rực rỡ của Đơn vị Anh hùng thời kỳ đổi mới – Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội.

BS. Lâm Đức Hùng

Advertisements

Bông cải xanh phòng tránh Ung thư hiệu quả nhất


Bông cải xanh (hoặc súp lơ xanh, cải bông xanh) là một loại cây thuộc loài Cải bắp dại, có hoa lớn ở đầu, thường được dùng như rau. Bông cải xanh thường được chế biến bằng cách luộc hoặc hấp, nhưng cũng có thể được ăn sống như là rau sống trong những đĩa đồ nguội khai vị.

Dinh dưỡng

Bông cải xanh, sống (những phần ăn được)
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 141 kJ (34 kcal)
6.64 g
Đường 1.7 g
Chất xơ thực phẩm 2.6 g
0.37 g
2.82 g
Vitamin
Vitamin A equiv.

(4%)

31 μg

(3%)

361 μg

1121 μg
Thiamine (B1)
(6%)

0.071 mg

Riboflavin (B2)
(10%)

0.117 mg

Niacin (B3)
(4%)

0.639 mg

Pantothenic acid (B5)
(11%)

0.573 mg

Vitamin B6
(13%)

0.175 mg

Folate (B9)
(16%)

63 μg

Vitamin C
(107%)

89.2 mg

Vitamin E
(5%)

0.78 mg

Vitamin K
(97%)

101.6 μg

Chất khoáng
Canxi
(5%)

47 mg

Sắt
(6%)

0.73 mg

Magiê
(6%)

21 mg

Phốt pho
(9%)

66 mg

Kali
(7%)

316 mg

Kẽm
(4%)

0.41 mg

Other constituents
Nước 89.30 g
Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (US recommendations) cho người trưởng thành.
Source: USDA Nutrient Database

Bông cải xanh có chứa nhiều Vitamin A, Vitamin C, Vitamin K, chất xơ [3], Quercetin. Nó cũng chứa nhiều chất dinh dưỡng có khả năng chống ung thư như Myrosinase, Sulforaphane, Di-indolyl mêtan và một lượng nhỏ selen.[4]

Tác dụng chữa bệnh

Viêm xương khớp

Một nghiên cứu của Anh cho thấy bông cải xanh có chứa một hợp chất gọi là Sulforaphane có thể giúp chống lại viêm xương khớp (osteoarthritis) – sulforaphane có thể chặn các enzyme phá hủy sụn bằng cách chặn một phân tử gây viêm.[5][6]

Chống oxy hóa

Bông cải xanh vẫn được biết đến là có thành phần chống ung thư, ngoài ra chính nó còn giúp cải thiện hệ miễn dịch ở người già và làm chậm quá trình lão hóa. Sulforaphane có khả năng hoạt hóa những gene và enzyme chống oxy hóa trong tế bào miễn dịch. Những thành phần này sẽ ngăn các gốc tự do hủy hoại tế bào. Tiến trình chuyển hóa trong cơ thể sinh ra các sản phẩm phụ là gốc tự do, nếu không ngăn ngừa hoạt động của gốc tự do này có thể gây tổn hại mô dẫn tới bệnh tật và sự lão hoá[7].

Bệnh tim mạch vành

Nghiên cứu thành phần hóa học trong bông cải xanh tại trường Ðại Học Y Khoa Warwick đã phát hiện hợp chất sulforaphane đã làm cho cơ thể tăng cường hình thành các enzyme bảo vệ các mạch máu, giảm các loại phân tử gây tổn hại tế bào. Chất sulforaphane có trong bông cải xanh có thể chống lại sự phát triển bệnh mạch máu do tiểu đường.[8] 

Kết quả nghiên cứu trên động vật của trường Ðại Học Connecticut cho thấy, những động vật ăn bông cải xanh cải thiện được chức năng tim và ít bị tổn thương về cơ tim hơn khi thiếu oxy. Các nhà nghiên cứu cho rằng những lợi ích của bông cải xanh chính là việc nó bổ sung các chất mà giúp tăng cường các protein bảo vệ tim có tên là thioredoxin. Một chế độ ăn nhiều bông cải xanh sẽ mang lại lợi ích cho tim mạch.

Đau bao tử

Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy, thành phần sulforaphane trong bông cải xanh và mầm của nó có thể tiêu diệt vi khuẩn helicobacter pylori (HP) đây là loại vi khuẩn chính gây loét dạ dày và phần lớn tác nhân gây ung thư ở đây.  Khi nghiên cứu trên chuột, các nhà khoa học tại Ðại Học Johns Hopkins phát hiện thấy, sulforaphane tiêu diệt được cả vi khuẩn HP vẫn kháng lại kháng sinh thông thường. Hóa chất này có thể tìm và diệt vi khuẩn nằm ngoài lẫn nằm trong tế bào. Ðiều này rất quan trọng vì thông thường, HP hay nằm trong các tế bào lót của niêm mạc dạ dày, khiến bệnh khó lành. Hàm lượng sulforaphane được dùng trong thí nghiệm có thể nhận thấy được bằng cách ăn bông cải xanh hay mầm của nó.[9][10]

Ung thư

Khi không nấu chín, loại thực phẩm này chứa một lượng nhỏ chất có khả năng bảo vệ ADN trước sự tấn công của các enzyme oxy hóa – tác nhân gây ung thư. Ðây là thành quả nghiên cứu mới nhất của Ðại Học Illinois. Khi nhai, các tế bào bông cải xanh bị đứt gãy và giải phóng một loại enzyme đặc biệt. Nhờ enzyme này, một chất hóa học gọi là sulphoraphanes được hình thành. Một số phân tử hợp chất mới này được gắn thêm một nguyên tử sulphur, có tác dụng hoạt động cơ chế đối kháng các độc tố sinh ung thư. Bên cạnh đó, trong bông cải xanh còn có thêm protein ESP với nhiệm vụ tạo ra sự cân bằng cho các sulphoraphane kém sulphur.

  • Ung thư dạ dày: tiêu diệt vi khuẩn helicobacter pylori (HP) đây là loại vi khuẩn chính gây loét dạ dày và phần lớn tác nhân gây ung thư ở đây.
  • Ung thư da: Bảo vệ làn da của bạn chống lại các tác động của tia cực tím – bông cải xanh có thể giúp ngăn ngừa ung thư da, không ăn nó mặc dù, nhưng bằng cách áp dụng nó trực tiếp lên da. Một bài viết trong Kỷ yếu của Viện hàn lâm Khoa học phát hiện ra rằng các tác hại của bức xạ tia UV (tia cực tím) có thể được giảm đáng kể với việc bôi tại chỗ chiết xuất bông cải xanh.[11]
  • Ung thư bàng quang: Các nghiên cứu tại Ðại Học Ohio State và Ðại Học Harvard cho biết: một nhóm chất từ bông cải xanh có khả năng ngăn ngừa và làm chậm phát triển của bệnh ung thư bàng quang. Nghiên cứu cho biết những người ăn từ 2 bữa bông cải xanh mỗi tuần có tỷ lệ mắc ung thư bàng quang thấp hơn 44% so với những người ăn không quá 1 bữa/tuần.  Hợp chất này có tên là glucosinolate từ mầm bông cải xanh. Trong quá trình thái nhỏ, nhai và tiêu hóa, chất này sẽ chuyển thành chất isothiocyanate, có vai trò ngăn ngừa ung thư. Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, isothiocyanate ngăn chặn phát triển của các tế bào ung thư bàng quang.[12]

Cách chế biến

Bông cải xanh là món ăn ưa thích, tuy nhiên khi chế biến bông cải xanh ở nhiệt độ cao, nhiều nghiên cứu đã cho thấy những thành phần vitamin đặc biệt là nhóm chất có tác dụng ngăn ngừa ung thư bị giảm. Lý do là  nhiệt độ cao sẽ làm mất hoạt tính của các enzyme và chất ESP, làm mất cân bằng của sulforaphane. Hơn nữa, lượng sulforaphane có đính thêm Sulphur trong bông cải xanh rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 20 % tổng số sulphoraphanes và rất dễ bị vô hiệu hóa. Các thành phần còn lại không có đủ nguyên tố Sulphur hữu ích, nên không có khả năng kháng bệnh.

Các nhà nghiên cứu so sánh cách nấu bằng luộc, lò vi sóng và hấp bông cải xanh, và thấy rằng hấp bông cải xanh trong năm phút là cách tốt nhất để giữ lại enzyme myrosinase (một loại enzyme có trong bông cải xanh giúp làm sạch chất gây ung thư trong gan) của nó. Cách luộc và hâm bằng lò vi sóng bông cải xanh trong một phút hoặc ít hơn đã phá hủy phần lớn các enzyme, theo Elizabeth Jeffery, một nhà nghiên cứu tại Đại học Illinois tại Urbana-Champaign.

Hiện nay xu hướng dùng bông cải xanh trong bữa ăn như salad trộn không qua nấu chín đang là cách ẩm thực phổ biến và khoa học, có lẽ đây là cách đảm bảo nguyên vẹn thành phần dinh dưỡng có lợi và bảo vệ sức khỏe.[13]

Sản xuất

Bản đồ sản lượng súp lơ và bông cải xanh năm 2005

Ở Bắc Mỹ, bông cải xanh chủ yếu được trồng ở California. Theo mùa, mức giá vận chuyển trung bình cho súp lơ vào năm 2004 là 33 đô-la Mỹ cho mỗi 100 cân pao (hay 0,73 đô cho 1 kg) theo Dịch vụ Thống Kê Nông nghiệp Quốc gia, USDA[cần dẫn nguồn].

Tốp 10 nước sản xuất súp lơ và bông cải xanh — 11 tháng 6, 2008[14]
Quốc gia Sản lượng (tấn) Ghi chú
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc 8.585.000 F
Ấn Độ Ấn Độ 5.014.500
 Hoa Kỳ 1.240.710
 Tây Ban Nha 450.100
 Ý 433.252
 Pháp 370.000 F
México México 305.000 F
 Ba Lan 277.200
 Pakistan 209.000 F
 Anh Quốc 186.400
Thế giới 19.107.751
F = Ước tính của FAO

Xem thêm

Liên kết ngoài

Tham khảo

  1. ^ Buck, P. A (1956). “Nguồn gốc và phân loại bông cải xanh” (PDF). Economic Botany 10 (3): 250–253. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2012.
  2. ^ Stephens, James. “Broccoli—Brassica oleracea L. (nhóm Italica)”. Đại học bang Florida. tr. 1. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2009.
  3. ^ Chất xơ hữu cơ có trong thực phẩm, còn gọi là xơ thực phẩm
  4. ^ “WHFoods: Broccoli”. George Mateljan Foundation. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009.
  5. ^ Catharine Paddock Ph.D. (28 tháng 8 năm 2013). “Eating broccoli may help prevent osteoarthritis. Medical News Today.
  6. ^ ‘Sulforaphane represses matrix-degrading proteases and protects cartilage from destruction in vitro and in vivo’ by Rose Davidson, Orla Jupp, Rachel De Ferrars, Colin Kay, Kirsty Culley, Rosemary Norton, Clare Driscoll, Tonia Vincent, Simon Donell, Yongping Bao and Ian Clark, published in Arthritis & Rheumatism on Wednesday August 28.
  7. ^ Takayuki Shibamoto; Joon-Kwan Moon (ngày 30 tháng 1 năm 2009). “Antioxidant Assays for Plant and Food Components”. J. Agric. Food Chem. 57 (5): 1655–1666. doi:10.1021/jf803537k.
  8. ^ “Broccoli Could Reverse Diabetes Heart Damage, Study”, Medical News Today (6th Aug 2013), Catharine Paddock Ph.D. Truy cập 2nd October, 2013.
  9. ^ Broccoli Sprouts May Prevent Stomach Cancer By Defeating Helicobacter Pylori, Jed Fahey, Johns Hopkins Medical Institutions, Accessed ngày 6 tháng 4 năm 2009
  10. ^ “Dietary Sulforaphane-Rich Broccoli Sprouts Reduce Colonization and Attenuate Gastritis in Helicobacter pylori–Infected Mice and Humans”, Cancer Prevention Research, April 2009, Volume 2, Issue 4, Pages 353-360
  11. ^ “Broccoli could be ‘sunscreen against skin cancer'”, Medical News Today (9th Sep 2013), Honor Whiteman. Truy cập 2nd October, 2013.
  12. ^ “Broccoli Three Times A Month Can Significantly Reduce Cancer Risk”, Medical News Today (9th Dec 2007), Christian Nordqvist. Truy cập 2nd October, 2013.
  13. ^ The American Cancer Society explains lifestyle choices that can reduce cancer risk, Robert Preidt, American Institute for Cancer Research, news release, Nov.ngày 1 tháng 7 năm 2013
  14. ^ Theo Tốp 10 nước sản xuất súp lơ và bông cải xanh, ngày 11 tháng 6 năm 2008, nguồn từ Phòng Thống kê, Cục kinh tế và xã hội, Tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm, Liên Hiệp Quốc

LDL cholesterol là gì? HDL cholesterol là gì?


LDL cholesterol – HDL Cholesterol

1. Cholesterol là gì?

Từ hơn 200 năm trước, người ta tìm ra công thức hóa học của sạn mật, và đặt tên là Cholesterol. Cái tên Cholesterol, nếu phân tích kiểu chiết tự ra, gồm ba phần gốc chữ Hy Lạp: chole nghĩa là mật, stereos có nghĩa là chất đặc, hình khối (âm thanh nổi stereo cũng là ở gốc chữ nầy) và cái đuôi ol đặc thù do công thức hóa học.

ldl cholesterol

Cholesterol thấy nhiều ở màng các tế bào trong cơ thể, giúp cho màng các tế bào được mềm mại, ổn định. Cholesterol là một thành phần của mật tiết ra từ các tế bào gan, giúp tiêu hóa các chất mỡ béo trong ruột, và cũng giúp cho việc hấp thụ các sinh tố như A, D, E, K. Cholesterol là tiền thân của sinh tố D, của nhiều chất nội tiết quan trọng, kể cả các chất nội tiết nam nữ như testosterone, estrogen, progesterone.

Phần lớn Cholesterol được tổng hợp mỗi ngày từ trong cơ thể, phần nhỏ hơn là hấp thu từ thực phẩm ăn vào.

2. LDL cholesterol là gì?

LDL là một loại lipoprotein mang Cholesterol trong máu. LDL được coi là không có ích bởi vì nó làm Cholesterol dư thừa xâm nhập vào màng của thành mạch máu, góp phần làm xơ cứng động mạch (xơ vữa động mạch) và bệnh tim. Do đó LDL-Cholesterol ( LDL-C ) thường được gọi là Cholesterol “xấu”.

Khi có quá nhiều LDL- Cholesterol bị đưa vào các màng của thành động mạch, dấn dần làm hẹp đường kính của mạch. Sau đó, kết hợp với các chất khác trong màng của thành động mạch tạo thành những mảng xơ vữa ( atherosclerosis). Những mảng này có thể bị rạn nứt làm cho thành động mạch không được trơn tru. Khi máu chảy qua những chỗ “gồ ghề” này, dòng máu dễ bị hỗn lọan không đều, trì trệ và dễ đông lại thành cục máu đông ( thrombus). Cục máu đông này có thể phát triển theo kiểu “phù sa bồi đắp”, lớp lớp chồng lên nhau, cục máu đông lớn dần lớn dần, dẫn đến tắt nghẽn động mạch. Nếu trường hợp này xảy ra trong động mạch vành tim thì kết quả là nghẽn mạch tim, gây chứng nhồi máu cơ tim. Trong trường hợp cục máu đông bị bong ra khỏi thành động mạch, trôi theo dòng máu cho đến khi kẹt vào một mạch có đường kính nhỏ hơn và làm nghẽn mạch ấy. Nếu chẳng may đấy là mạch máu của não thì kết quả là chứng tai biến mạch máu não

hdl cholesterol, ldl cholesterol

3. HDL Cholesterol là gì?

Một thứ chất đạm béo nữa vận chuyển Cholesterol về gan cho gan phá hủy đi. Chất đạm béo nầy nặng, có tỷ trọng cao, tiếng Anh gọi là “High Density Lipoprotein”, tên tắt là HDL. HDL có khả năng lấy bớt Cholesterol từ các mảng bám vào thành mạch máu để mang về gan hủy đi. Cho nên người có nhiều HDL thì giảm dược nguy cơ đứng tim và tai biến mạch máu não. Nếu HDL ít quá, thì rủi ro đứng tim và tai biến mạch máu não nhiều lên.

Vì vậy, HDL có tên là “cholesterol tốt.” HDL trong máu bị thấp, có thể là do di truyền, nhưng nếu tập luyện thể lực nhiều, thì HDL sẽ tăng cao .

Đo Cholesterol trong máu

Cholesterol trong máu bao nhiêu là tốt? Tài liệu cua Hội Tim Hoa Kỳ xếp hạng như sau:

-Lượng cholesterol (mg/dl) ít hơn 200, hoặc ít hơn 5.2 nếu tính ra mmol/dl* , thì được xếp hạng tốt.

-Lượng cholesterol (mg/dl) từ 200 đến 239, hoặc từ 5.2 đến 6.2 mmol/dl, có thể bị tăng rủi ro bệnh tim mạch.

-Lượng cholesterol nhiều hơn 240, hoặc nhiều hơn 6.2 mmol/ dl, thì nhiều rủi ro bệnh tim mạch.

(* Ở Mỹ thường đo lượng cholesterol trong máu bằng con số mg trong 1 decilit máu (mg/dl). Các phòng thí nghiệm ở Việt Nam hay dùng đơn vị milimole/dL)

Dựa theo những kết quả khảo cứu gần đây, nhiều Bác sỹ khuyên bệnh nhân nên giữ cholesterol ở mức dưới 180mg/dL.

Nhưng ngày nay việc đo lượng cholesterol trong máu thường đi thêm vào chi tiết, cho biết lượng LDL cholesterol và HDL cholesterol , nên căn cứ vào hai thứ này thì chính xác hơn .

LDL cholesterol  nên ở mức dưới 100 mg/dl, nếu là người bình thường. Nếu , là người có những rủi ro khác về bệnh tim mạch, như là di truyền, hút thuốc, tiểu đường, mập phì, v.v thì nên giữ LDL cholesterol ở mức dưới 70 mg/dL. Trẻ em nên có lượng LDL cholesterol dưới 35 mg/dL.

Trái lại, HDL cao thì tốt. Nên giữ HDL ở mức trên 50 mg/dl.

Cũng có khi phòng thí nghiệm cho biết tỷ số cholesterol/HDL, gọi là ước lượng rủi ro tim mạch.

Thí dụ cholesterol là 200 mg/dl, HDL là 50 mg/dl, thì tỷ số là 200/50 hay là 4. Tỷ số này  đừng để quá 5. Giữ ở mức 3.5 là tốt nhất. Tuy nhiên, có ý kiến cho là không cần biết tỷ số này, cứ căn cứ vào lượng cholesterol tổng quát và LDL, HDL là được rồi.

4. Loại thuốc giúp giảm cholesterol hiệu quả được các bác sĩ khuyên dùng

Gợi ý điều trị

Tinh lá sen tươi OB được chiết xuất 100% từ lá sen tươi bánh tẻ chất lượng cao

Tinh lá sen tươi OB giúp: hạ mỡ máu, gan nhiễm mỡ, men gan cao, giảm cao huyết áp, phòng ngừa và điều trị bệnh nhồi máu cơ tim, đột quỵ vô cùng hiệu quả

Tinh lá sen tươi OB-giảm mỡ máu, an thần ngủ ngon

Chiết xuất 100% lá sen tươi (http://lasen.com.vn/tinh-la-sen-tuoi-ob-giam-mo-mau-an-than-ngu-ngon )

245,000 đ

– Giảm mỡ máu, giảm xơ vữa động mạch, hỗ trợ điều trị gan nhiễm mỡ rất hiệu quả. – Bảo vệ hệ tim mạch và giảm béo phì. – An thần, giúp ngủ ngon. – Bình ổn đường huyết, tốt cho bệnh nhân đái tháo đường. – Hạ cao huyết áp, giúp ổn định huyết áp

Bệnh “Ngộ nhận” là gì ? làm sao lại có bệnh này và cách chữa bệnh này ?


Trên đời hoạn lộ có rất nhiều cảnh đời và con đường mà mỗi người chọn để đi, để sống “ĐƯỜNG SỐNG” và cái nghiệp nó dẫn dụ đi theo “NGHIỆP DẪN” (hơi khó hiểu ở vế sau, nhưng mà có lẽ đúng vì chúng ta luôn có 2 vế để mà cân bằng).

Sống trên đời có 2 thứ chúng ta xét tới đó là:

Loại người thứ nhất: sẽ nói nhiều trước khi làm hoặc “chém gió” trước khi nghĩ và làm thực.

Loại người thứ hai: sẽ làm hùng hục trước khi nói hoặc “Trảm” trước khi tấu (ít có khả năng mắc bệnh, không bàn đến trong bài này).

– Tôi xin vẽ cách hiểu logic của những thứ nói trên như sau:

image

– Xét theo góc độ bệnh học: chúng ta có thể đổ lỗi về căn nguyên bệnh này là do Virus “Ngộ nhận”

Virus bệnh này ấp ủ thường trực trong mỗi suy nghĩ con người chúng ta, với những ai tỉnh táo, sáng suốt, mạnh khỏe tinh thần thì nó khống có điều kiện chuyển thành bệnh, với bất kỳ ai mụ mẫm, háo danh, mờ mắt chỉ cần có điều kiện là mắc bệnh ngay.

Các Cán bộ viên chức nào cũng mong muốn có bảng thành tích cá nhân vàng chóe để khẳng định khả năng sáng tạo, sự thông minh nhạy bén, khiếu diễn thuyết, tài viết lách, cuốn từ điển sống của tri thức, trình độ thuyết phục dẻo đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra…

Muốn kết luận được tài năng của bản thân lại cần đến những người xung quanh nhận xét về mình, mà thái độ của thiên hạ vô cùng đa dạng:

  1. Người dĩ hòa vi quý lúc nào chẳng gật gù, nắm tay lắc lắc,
  2. Người giữ xã giao mỉm cười, nhìn xa ngẫm nghĩ,
  3. Người không muốn biểu lộ thái độ thì quay đi chăm chú làm việc khác,
  4. Chỉ một thiểu số người vì lý do sâu xa nào đó sẽ tán thưởng nồng nhiệt khen ngợi hết lời, tấm tắc lắc lư thế là cơn bệnh ngộ nhận bắt đầu phát tác tự nhiên hơn cả ruồi.

Những người ngộ nhận thấy tự tin hơn, khi gặp gỡ đồng nghiệp và cấp trên rất đon đả, chững chạc, trong đầu họ lăm lăm một số ý tưởng, chủ đề thu phát được qua các tần số tán gẫu công cộng, chỉ đợi dịp là thao thao bất tuyệt.

Hệ quả: vậy là đã có nhiều sếp cứ ngỡ rất tình cờ tìm ra nhân tài bèn tin cậy giao việc cho mặc sức thể hiện và ung dung đợi kết quả như ý trong khi những tài năng này lo toát mồ hôi hột chạy vạy nhờ vả anh em, bạn bè giúp đỡ làm hộ, viết thuê để cốt sao thành quả thật hoành tráng tương xứng với năng lực mà bản thân và cấp trên cùng ngộ nhận.

Tác dụng phụ:

Không ít trường hợp đã biết rõ mình nhưng cố tình “hình tượng hóa bản thân – nặn tượng”  cao lồng lộng bằng cách lo lót bằng cấp này nọ, thuê làm luận văn để đại từ nhân xưng có thêm mấy tiền tố đáng nể hơn. Một số người khác còn bào chế những tuyệt chiêu bằng cách quảng cáo, khuếch trương những quan hệ ảo. Họ thường đưa ra vài đại từ nhân xưng thân mật hoặc danh từ riêng kiểu:  cái tay Nguyễn Văn X này, ông anh Minh Z ấy, sếp Trần Y chứ gì… với giọng điệu người nhà, thậm chí còn lấy điện thoại di động ra bấm số gọi ngay, sau một lúc lại thanh minh tiếc rẻ anh ấy, sếp ấy chắc đang bận họp nên tắt máy (thực tế đọc được mấy cái tên này trên báo chí hoặc nghe ai đó kể chuyện có quen biết, thế là coi như bạn người cũng là bạn mình, “thế giới đại đồng “).

Qua kịch bản biểu diễn của bệnh nhân ngộ nhận ấy mà khối người lác mắt, cung kính nhờ cậy việc này việc nọ…

Xét trên khía cạnh nhân văn, người nào ngộ nhận về bản thân thì bất lợi trên đường sự nghiệp. Lý do là mình tự kỷ ám thị đến mức theo chủ trương duy ngã độc tôn, coi thiên hạ yếu kém, mãi đến lúc sực tỉnh mới ngấm sự chán ngán, suy sụp. Hơn nữa, để người khác ngộ nhận về mình thì hậu quả xấu cho cả hai bên: người được ngộ nhận càng đắc ý uống thuốc mê quá liều khó tỉnh, người ngộ nhận thì thất vọng bởi không chọn đúng mặt gửi vàng, lại còn hoang mang vì trình độ bản thân không phân biệt được thật giả, hay dở. Có những người chưa từng hiểu lầm về bản chất và năng lực của mình nhưng do vài lần được khen thành tích nhỏ như ong mật thành con chim công, thế là vênh váo tự hào coi mình bắt đầu gia nhập thế hệ thiên tài mới. Tất nhiên không phải ai cũng cả tin với lời khen như vậy nhưng do được nhiều lời khen lấy lòng quá đâm ra sung sướng, tự thấy mỹ mãn với mình.

Nguyên nhân bệnh thêm nặng:

Có thể kết luận rằng: khen ngợi không trung thực chính là nguyên nhân khiên cho bệnh ngộ nhận phát tác. Tăng bốc phỉnh nịnh là liều thuốc độc cực mạnh giết chết nhận thức chân chính. Ngỡ rằng đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh sẽ có thuốc chữa trị, nhưng giời ạ, khó lắm! Làm gì có loại cân đo vi chính xác để xác định lời khen nào thật, giả? Có ai thừa nhận rằng những lời mình vừa nói là tâng bốc? Cho nên danh ngôn mới chua rằng: lời nói như tên, đã cắm vào tai ai, không tài nào rút ra được. Tất nhiên, cần có ngoại lệ cho những câu nói khiến cho người ta ngộ nhận, đó là những mũi tên vô hình tẩm mật ong rừng! Ngọt ngào lắm ai ơi!

 

Phương pháp chữa:

Rất ít thuốc để chữa, thuốc rất đắng tùy thuộc cấp độ bệnh nhẹ hay nặng và quan trọng “Tự vấn lương tâm và tự giác ngộ”:

  • Có thấy sai không ?
  • Có thấy cần quay đầu lại để làm lại mà không hối tiếc không ?
  • Có tự vấn lương tâm chua sót trước khi trở thành người có “Đạo đức giả” không ?

 

Thuốc chữa chỉ có tác dụng hiệu quả:

  • Khi thấy cảnh đời con người đau khổ, chỉ có cảm thông sâu sắc, chia sẻ với họ thật lòng, các bạn à: “sống trong đời sống cần có tấm lòng cao thượng  biết hy sình vì gia đình, người thân, bạn bè” mới không bao giờ còn cái bệnh Quỉ quái đó.
  • Trong lời ăn tiếng nói phải tử tế, trân thành và biết trân trọng mọi người

(từ cái nhỏ nhất đừng có văng tục chửi thề, ngay cả từ viết tắt chửi tục cũng vậy – vì cái tâm của bạn nó nghe được, nó cũng sẽ nhớ được, nó thành quen ở mồm “Khẩu thiệt” thì nó cũng có thể dẫn đến ở ý thức, nhận thức và hành động của bạn “nó là Vô thức ý” rồi dẫn tới hành sử thực tế của bạn. Đậy gọi là “NGHIỆP DẪN Ý” nhiều tai họa, tính mạng hiểm nguy chỉ bởi lời ăn tiếng nói, câu viết như vậy đó).

  • Đừng lười suy nghĩ, đừng lười lao động chân tay hay trí óc, hãy vận động để sáng tạo hãy học hỏi thay vì ngồi chỗ “Chém gió”, hãy làm việc cho dù “Chó cứ sủa đoàn người cứ đi”.
  • Không phải vì bạn đóng góp cho ai, cho xã hội nào, cho công ty nào được nhiều giá trị là vinh quang đâu, đừng lầm tưởng nay có thể là như thế này mai thế khác nhưng Lao động là vinh quang.
  • Hạn chế “Chém gió” khi có thể là tiết kiệm thời gian dành cho Lao động hoặc chỉ đúng với mục đích tôn cao giá trị của “Lao động là vinh quang”.

 

Chúc Cô gì, chú bác, anh chị em và tất thẩy Trời – người – các loài vật không mắc bệnh “NGỘ NHẬN” !

 

Trích báo:  Hà nội ngàn năm văn hiến.

P.S: Bài này không có trong báo sức khỏe & đời sống.

Bài sám hối trước tượng phật Ngài Quán thế âm Bồ tát


Quì trước Tượng Quán thế âm Bồ tát

1 Bát nước trong vắt 9 hạt gạo thơm

Cúi đầu chấp tay

Con xin lay phật

Lòng con thành thật

Chí nguyêh theo Ngài

Lãnh cõi trần ai

Mong về Tịnh độ

Thấy đời thật khổ

Lắm kẻ điêu tàn

Sống kiếp lầm than

Vì chưa giác ngộ

Nay con đã rõ

Dù trễ hơn không

Cố sức gắng công

Xả thân cầu đạo

Lánh vòng phiền não

Núp bóng từ bi

Mạn tham sân si

Con nguyện từ khước

Lỗi lầm từ trước

Vì tánh còn mê

Nay con xin thề

Thành tâm sám hối

Lấy công chuộc tội

Quyết chí tu hành

Lánh dữ theo lành

Vun trồng cội phúc

Nước nay tuy đục

Lọc mãi phải trong

Con nguyện hết lòng

Bồ đề kiên cố

Lợi danh cám dỗ

Chẳng chút động tâm

Bụi tục bụi trần

Con nguyện dũ sạch

Cho lòng thanh bạch

Cho chí thanh bình

Chánh niệm quang minh

Cầu xin chư Phật

khi con nhắm mắt

Xin phóng đạo hào quang

Tiếp dẫn cho con

Nương về Tịnh độ

Nguồn mê bể khổ

Nghiệp chướng luân hồi

Nay đã dứt rồi

Con xin thệ nguyện

Nguyện thành chánh giác

Nguyện độ chúng sinh

Nguyện thành Phật đạo

 

HỒI HƯỚNG

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ a di đà phật.

 

Nguyên tác: Đệ tử Phùng Thị Thơm

Hiệu Pháp Danh: Cư sĩ Diệu âm : Diệu Hương

 

Chế tác: Đệ tử Lê Toàn Thắng

Hiệu Pháp danh: Đàm Hiếu

 

Trái cây cho người đái tháo đường


Sức Khoẻ và Đời Sống

(Nguồn Glycemic Index Foundation)

BS.CKI. NGUYỄN THANH HẢI – SKDS

Người đái tháo đường (ĐTĐ) nên chọn loại trái cây có nhiều chất xơ, lượng đường fructose cao, chỉ số đường huyết thấp và nên ăn đúng suất theo nhu cầu năng lượng của mình.

Trái cây là nguồn cung cấp nhiều dưỡng chất quý báu như:

– Các loại vitamin A, B, C…

– Muối khoáng như Ca++, Mg++, K+…

– Đường và nhiều chất xơ.

– Các hóa chất sinh học như polyphenol, resveratrol và quercetin, pectin… giúp cho cơ thể chống lại bệnh ung thư, bệnh tim mạch và béo phì…

Với những tính năng có lợi cho sức khỏe như thế thì không có lý do gì nghiêm cấm người đái tháo đường (ĐTĐ) ăn trái cây mỗi ngày. Vấn đề mà người ĐTĐ lo ngại khi ăn trái cây là họ sợ “chất ngọt có trong trái cây sẽ làm cho đường huyết của mình gia tăng và trở nên khó kiểm soát”. Các mối quan ngại khác: không biết nên ăn loại trái cây nào, ăn bao nhiêu và khi nào ăn thì tốt…

– Từ trái cây tươi, người ta có thể đem sấy hay phơi khô để dùng quanh năm, làm sinh tố hoặc ép lấy nước uống, bảo quản lạnh, đóng lon, ướp đường… rất đa dạng.

Một số khái niệm cần biết

– Chất xơ: có nhiều ở lớp vỏ, lớp dưới vỏ, phần xơ thịt và hạt. Chất xơ có khả năng làm chậm quá trình hấp thu đường, tránh hiện tượng tăng đường huyết quá nhiều sau ăn. Các loại trái cây giàu chất xơ (kể cả lớp vỏ): táo (2,5%), lê (2,1%), mơ (2,1%), trái kiwi (2,1%), quả lựu (3,4%) và trái bơ (6,7%)…

– Chất đường: hai loại đường có nhiều trong trái cây là glucose và fructose. Ăn trái cây chứa nhiều đường glucose sẽ không có lợi cho người ĐTĐ vì nó sẽ làm tăng đường huyết và tăng nhu cầu sử dụng insulin. Khác với glucose, quá trình hấp thu và chuyển hóa đường fructose không đòi hỏi sự hiện diện của insulin. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn loại trái cây nào có nhiều fructose và ít glucose (tỷ lệ fructose/glucose lớn hơn 2) như: táo, lê, ổi và xoài…

– Chỉ số đường huyết-CSĐH (glycemic index- GI): chỉ số phản ánh tốc độ gia tăng đường trong máu sau khi dùng một loại thực phẩm nào đó. Người ta lấy bánh mì trắng hoặc glucose làm chuẩn (GI=100) để phân chia CSĐH của thực phẩm thành ba mức: cao (GI từ 70 trở lên), trung bình (GI từ 55-69), thấp (GI từ dưới 55). Nếu ăn trái cây có CSĐH cao sẽ làm cho đường huyết tăng cao ngay sau ăn. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn ăn loại trái cây có CSĐH càng thấp càng tốt.

Điều cần nên lưu ý là CSĐH không tương ứng với vị ngọt. Có nghĩa là không nên dựa vào độ ngọt khi nếm một loại trái cây nào đó để suy ra CSĐH của nó. Trái cây ngọt không đồng nghĩa là nó có CSĐH cao; và ngược lại trái cây lạt không có nghĩa là có CSĐH thấp.

– Suất trái cây: là khối lượng của một loại trái cây hay nước ép nào đó mà sau khi ăn vào có khả năng cung cấp 15g chất đường, tương đương 60Kcalo.

– Trong chế độ ăn hàng ngày, không phải lúc nào cũng có thể cân đo đong đếm chính xác được. Vì thế, ta chỉ có thể ước lượng trung bình một suất trái cây khoảng bao nhiêu mà thôi.

Nên ăn mấy suất trái cây mỗi ngày?

Mỗi ngày người ĐTĐ có thể ăn từ 2 – 4 suất trái cây tùy theo nhu cầu năng lượng trong ngày.

Những người có nhu cầu năng lượng 1.200 – 1.600 Kcalo/ngày: 2 suất.

Đó là các đối tượng sau:

– Phụ nữ tầm vóc nhỏ con hoạt động nhiều.

– Phụ nữ tầm vóc nhỏ đến trung bình muốn giảm cân.

– Phụ nữ tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.

Những người có nhu cầu năng lượng 1.600 – 2.000Kcalo/ ngày: 3 suất.

– Phụ nữ tầm vóc to muốn giảm cân.

– Nam giới nhỏ con có cân nặng bình thường theo chiều cao.

– Nam tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.

– Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con muốn giảm cân.

Những người có nhu cầu năng lượng 2.000 – 2.400Kcalo/ngày: 4 suất.

– Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con vận động hoặc lao động nhiều.

– Nam lớn con có cân nặng phù hợp chiều cao.

– Phụ nữ tầm vóc trung bình đến lớn con phải vận động hoặc lao động nhiều.

Nên ăn vào lúc nào cho tốt?

– Theo nghiên cứu ở Mỹ, ăn trái cây một giờ trước bữa ăn có tác dụng giảm béo và giúp tiêu hóa hiệu quả.

– Nếu ăn cơm no rồi mà ăn thêm trái cây, lượng đường tổng cộng trong bữa ăn sẽ tăng, đường huyết tăng cao và nhanh không có lợi cho sức khỏe, nhất là người bị ĐTĐ.

– Nên ăn vào thời điểm giữa hai bữa ăn, khoảng cách giữa hai lần ăn trái cây nên cách nhau 6 giờ.

Lưu ý:

Chọn loại trái cây tươi tốt hơn là loại khô, đông lạnh hay nước ép. Nếu đường huyết trong giai đoạn tăng khó kiểm soát thì nên hạn chế ăn trái cây.

Hãy biết lắng nghe cơ thể nói, bởi vì thụ cảm của mỗi người không giống nhau. Chẳng hạn, có người chỉ ăn một trái cam nhỏ cũng làm đường huyết tăng cao. Trái lại, có người có thể ăn 2 – 3 trái chuối mà không hề hấn gì, mặc dù người ta biết là chuối có CSĐH cao hơn cam.

Các xét nghiệm cần làm trong bệnh đái tháo đường


SKĐS – Khi bị đái tháo đường (ĐTĐ), đường trong máu sẽ cao và có thể gây ra nhiều biến chứng (mắt, tim, thận…) nếu không được điều trị đúng.

Để điều trị thường cần làm một số xét nghiệm để kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường. Sau đây là những xét nghiệm cần làm cho bệnh nhân đái tháo đường.

cac-xet-nghiem-dai-thao-duong

Xét nghiệm đường huyết mao mạch

Những xét nghiệm cần làm cho bệnh nhân đái tháo đường

Đường huyết

Đường huyết (ĐH) tĩnh mạch (phải làm ở phòng xét nghiệm). ĐH mao mạch (lấy một giọt máu ở đầu ngón tay, có thể tự thử ở nhà).

Đường niệu, HbA1c; ceton huyết, niệu; tổng phân tích nước tiểu, lipid máu.

Theo dõi ĐH lúc đói (trước ăn sáng), ĐH trước bữa ăn (trưa, tối), ĐH 2 giờ sau ăn. HbA1c mỗi 3 tháng 1 lần. Lipid máu lúc đói lúc chẩn đoán ĐTĐ nếu bình thường thì đo hàng năm. Đạm niệu mỗi năm một lần.

ĐH như thế nào thì gọi là ĐTĐ?

Để xác định có đái tháo đường, cần phải thử ĐH tĩnh mạch. Ở người bình thường: ĐH tĩnh mạch lúc đói 70 – 100mg/dl (được gọi là đói khi nhịn ăn ít nhất 8 giờ trước khi lấy máu). Người bị ĐTĐ khi ĐH lúc đói hơn hay bằng 126mg/dl (ít nhất 2 lần thử vào 2 ngày khác nhau).

Chú ý: không được dùng kết quả ĐH đo bằng máy thử ĐH ở đầu ngón tay để chẩn đoán ĐTĐ.

Khi điều trị ĐTĐ, ĐH bao nhiêu thì tốt?

Bảng dưới đây là mức ĐH cần phải đạt được khi điều trị.

Với một số người dễ bị hạ ĐH (người cao tuổi, rối loạn tri giác, ăn uống kém) không nên cố gắng đạt tới mức ĐH lý tưởng, chỉ cần giữ ở mức chấp nhận được.

Có cần phải thử đường trong nước tiểu hay không?

Hiện nay, thử đường niệu không còn được dùng phổ biến để theo dõi đái tháo đường nữa, vì nó có nhược điểm là không đánh giá được trường hợp ĐH không cao nhiều (từ 120 -180mg/dl). Thử đường niệu cũng không phát hiện được tình trạng hạ ĐH. Que thử đường niệu có ưu điểm là giá rẻ. Cách tốt nhất để tự theo dõi ĐH hiện nay là dùng máy đo ĐH ở đầu ngón tay. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn có thể dùng que thử đường trong nước tiểu để theo dõi tình trạng bệnh ĐTĐ nếu không có điều kiện mua máy đo ĐH.

Lời khuyên cho bệnh nhân đái tháo đường thử đường huyết tại nhà

Có thể thử ĐH ở nhà hay không?

Ở nhà có thể dùng máy thử ĐH ở đầu ngón tay để tự theo dõi ĐH. Đây là cách theo dõi điều trị ĐTĐ thuận tiện và thường được dùng hiện nay, nó giúp đánh giá tình trạng ĐTĐ tốt hay xấu. Kết quả được đo tại nhà nhanh sẽ giúp cho bác sĩ điều trị ĐTĐ tốt hơn cho người bệnh.

Nếu có máy thử ĐH ở nhà, nên thử ĐH mấy lần trong ngày và thử vào lúc nào?

Nên thử ĐH ở nhà tại những thời điểm sau đây:

ĐH lúc đói (trước ăn sáng), ĐH trước bữa ăn (trưa, tối), ĐH 2 giờ sau ăn (sau khi bắt đầu ăn), ĐH lúc đi ngủ (10 – 11g đêm).

Với ĐTĐ týp 1: có thể thử mỗi ngày từ 2 – 4 lần tùy trường hợp. Cần phải thử nhiều lần trong ngày khi đang cần điều chỉnh liều tiêm insulin để kiểm soát tốt ĐH.

Với ĐTĐ týp 2: không cần thường xuyên như ĐTĐ typ 1 mà chỉ cần 2 – 3 lần/tuần.

Với bệnh nhân ĐTĐ nói chung, cần thử ĐH khi có biểu hiện hạ ĐH (hồi hộp, vã mồ hôi, chân tay lạnh…), gọi là hạ ĐH khi chỉ số ĐH < 60mg/dl.

Huyết sắc tố A1c (HbA1c) là gì? Bao lâu thì phải thử lại?

Đường glucose trong máu sẽ gắn vào huyết sắc tố (Hb) trong hồng cầu. Đo HbA1c cho biết ĐH trung bình trong vòng 2 – 3 tháng trước đó. Bình thường thì HbA1c khoảng 4 -6% của tổng số Hb trong máu. Nếu HbA1c tăng cao hơn bình thường chứng tỏ ĐH không kiểm soát tốt trong thời gian 2 – 3 tháng trước khi đo. Chỉ cần đo HbA1c 3 tháng 1 lần, vì đời sống hồng cầu là 2 – 3 tháng mới thay hồng cầu mới.

Khi nào thì cần phải thử ceton trong máu và nước tiểu?

Nếu ĐTĐ không được điều trị tốt, ĐH tăng cao thì trong cơ thể có thể sinh ra ceton. Thể ceton mang tính acid sẽ có hại cho cơ thể. Tình trạng này cho biết trong cơ thể người bệnh đang thiếu insulin, bệnh nhân cần phải đến gặp bác sĩ để được điều trị gấp. Nên dùng que thử ceton niệu khi gặp các tình huống sau đây: bị cảm cúm hay sốt; ĐH cao >250mg/dl, buồn nôn, nôn, đau bụng; có thai.

Có cần thử đạm niệu không?

Khi bệnh nhân ĐTĐ có nhiều đạm trong nước tiểu là dấu hiệu cho biết thận đã bị tổn thương. Có hai mức độ tiểu ra đạm (albumin): tiểu albumin vi lượng là lượng albumin trong nước tiểu ít từ 30 – 300mg/24 giờ. Tiểu đạm đại lượng là lượng đạm trong nước tiểu nhiều > 300mg/24 giờ. Khi có đạm niệu, bệnh nhân cần được bác sĩ chuyên khoa điều trị theo dõi để tránh bị suy thận.

Dùng phương pháp nào đo đạm niệu?

Đo đạm niệu tại bệnh viện hay các trung tâm xét nghiệm sẽ cho biết chính xác lượng đạm trong nước tiểu hàng ngày để đánh giá tiểu đạm nhiều hay ít (chú ý không đo đạm niệu khi mới vận động, nhiễm toan ceton, sốt, nhiễm trùng vì kết quả đo sẽ không chính xác).

Tại sao bị ĐTĐ mà phải thử mỡ trong máu?

Bệnh nhân ĐTĐ thường hay có mỡ trong máu tăng cao. Khi mỡ trong máu tăng cao sẽ làm bệnh nhân dễ mắc bệnh tim mạch: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

Thử mỡ máu khi nào? Cần phải nhịn đói trước khi đi thử mỡ máu.

Thử những chỉ số gì? Thường có 4 yếu tố cần phải đo gồm: lipid máu, HDL – cholesterol, LDL – cholesterol, triglycerid .

ThS.BS. TRẦN QUANG NAM

https://medlatec.vn/chi-tiet/goi-kham-tai-nha/-goi-xet-nghiem-tai-nha-danh-cho-nam-nu-tren-50-tuoi-123-5811.aspx

%d bloggers like this: