Tác hại của sự khác VM Hardware version và cách hạ cấp version trong Data Center Virtualization


VMware đưa ra phương thức quản lý các máy ảo chạy trên các phiên bản vSphere từ cũ tới các phiên bản mới nhất, bằng cách gán

trên các Host cũng gán các phiên bản của ESXi host.

Và gán vào file cấu hình máy ảo [VM’s name].vmx các thẻ tag có số hiệu phiên bản

Version được ghi trong nội dung file .vmx

Vấn đề nằm ở chỗ, chúng ta phát triển các máy ảo trên nền VMware vsphere, vSphere Web client chỉ cho chúng ta các lựa chọn ngầm định khi tạo 1 máy ảo à

  1. VM Hardware là tương thích, tương ứng và thường chọn ngầm định phiên bản cao nhất.
  2. Nếu bạn sản xuất phần mềm hoặc máy ảo Appliance cho khách hàng, bạn phải điều chỉnh lại VM Hardware version thấp hơn để phù hợp với các vSphere 4.x, vSphere 5.x và vSphere 6.x
  3. Trong hạ tầng Doanh nghiệp của bạn lại có nhiều phiên bản vSphere khác nhau từ 4.x, 5.x tới 6.x thì khi có sự cố các VM cần vMotion sang nhau hoặc cần di chuyển chủ động làm DRS/HA.
  4. Các bạn cần Sao lưu/ khôi phục các VMs trên các hạ tầng Ảo hoá khác phiên bản, khác hệ thống ảo hoá (như từ vSphere sang Hyper-V, KVM …).

Tác hại của việc khác phiên bản, nó còn thể hiện ngay cả ở phần mềm khác nhau và rất khó chịu, mất thời gian:

  1. Dùng Veeam backup and replicate Free License for windows 9.5 không cài được trên windows server 2008 R2 Enterprise, Veeam yêu cầu phải nâng cấp windows 2008 R2 Server lên bản SP1 hoặc SP2.
  2. Khi dùng bản Veeam backup and Replication 9.5 add Server ESXi Host vSphere 6.7 thì được, Khôi phục (Restore các VM vào ESXi host 6.7 này) thì thành công nhưng khi Backup các VM trên đó lại báo lỗi không support:

“Error: Object reference not set to an instance of an object after manually deleting a replica VM”.

Lỗi trên có thể hiểu đơn giản là phải nâng cấp bản Veeam Backup and Replication từ 9.5 GA lên bản update 3a là support với vSphere 6.7.

  1. Khi nâng cấp Veeam backup and Replicate lên bản 9.5 update 3a, thì chúng ta lại sao lưu được các VM (có hardware version từ 13 /14) có trên vSphere 6.7, nhưng khi khôi phục các VMs đó sang các vSphere khác có Verison thấp hơn như: vsphere 5.5,6.0,6.5 thì lại gặp lỗi không hỗ trợ Restore:

“Error VM hardware version 13 is not supported by destination host (version 6.0) (System.Exception) “ .

Tham khảo:


  1. Build numbers and versions of VMware ESXi/ESX (2143832)
  2. Veeam Backup & Replication support for VMware vSphere

Giải pháp: ngược với nâng cấp phiên bản là hạ cấp phiên bản:

Đôi khi, bạn sẽ thấy mình cần phải dùng cách hạ cấp phiên bản phần cứng của máy ảo chỉ để giúp bạn có thể di chuyển phiên bản ESXi mới hơn sang phiên bản cũ hơn. Nâng cấp khả năng tương thích phần cứng của máy ảo cũng đơn giản như nhấp chuột phải vào nó và chọn tùy chọn, nhưng ngược lại không phải là cách dễ dàng.



Ví dụ: mình gặp phải các trường hợp y hệt như trên và mình sẽ sửa lại phiên bản của máy ảo của con cloudgateway:

Có 2 cách chính để hạ phiên bản (downgrade version hardware VMX-13 của VM trên vsphere 6.7) xuống VMX-10/11 cho vSphere 5.5/ vSphere 6.0 support:

Cách 1:
dùng VMware Converter để converter migration máy ảo từ Host có vSphere version cao (6.7).

Tỉ lệ thành công và thất bại ở cách 1 là ~ 85/15% và trong trường hợp của mình là thất bại bởi VM có Guest OS Linux Ubuntu 16.04

Cách 2: dùng cách sửa nội dung phiên bản của file cấu hình máy ảo .VMX

Lưu ý:

  • Khi bật VM lên thì VMDK lại dùng NVRAM sửa lại làm thay đổi nội dung trên file .VMX.
  • hoặc vCenter Inventory của ESXi host sẽ dùng DRS/HA để sửa thông tin của VMX khi có thay đổi cấu hình VM hoặc do vMotion làm thay đổi vị trí Host, Storage…

Do vậy, chúng ta sẽ làm theo 5 bước sau cho an toàn và nhanh gọn:

Bước 1: bật nguồn máy ảo.

Bước 2. Mở Datastore browser và download file .VMX về máy PC.

 

Bước 3. Dùng Notepad để sửa được VMX.

Bước 4. Tiếp theo Un-register VM và vào xoá file VMX cũ.

Bước 5. Upload lại file VMX đã sửa, rồi Register lại VM

và bật nguồn cho máy ảo chạy

Tác dụng của việc hạ VM Hardware version từ 13/14 xuống version 10 là ta có thể dùng Veeam backup restore tới các vsphere 6.x/5.5 thành công :

Và khi đó các máy chủ ESXi Host vSphere 5.5/6.x đều vận hành được các VM có Hardware version 10

VM đã bật và chạy với VM version 10.

 

Chúc các bạn thành công vượt qua được các lỗi về không tương thích phiên bản Microsoft Windows, Veeam, VMware … !

Advertisements

Cách xuất các VM từ VirtualBox Machine sang VMware thành công


Chúng ta đã dùng khá nhiều VM trên các nền HĐH khác nhau, Virtual Box, MS Hyper-V cũng vậy, xong hầu hết xu hướng của người quản trị/ người dùng/ lập trình viên đều ,muốn quản lý chúng 1 cách tập trung, cần nhiều tài nguyên hơn để thử nghiệm, nâng cấp. Do vậy, chúng ta cần chuyển chúng sang vSphere Hypervisor VMware hoặc vSphere ESXi.

Các version software mà chúng ta dùng:

  • VirutualBox >= 4.3
  • vSphere Client >= 5.0
  • VMware ESXi Hypervisor >= 5.0
Xuất ra Vm từ Virtual Box:
Để xuất ra được VM, bạn phải shut down máy ảo và chọn menu  “File” > “Export Appliance”. Tiếp theo đặt tên máy ảo 

image

On the following screen, select a destination for the output file and choose the OVA format and choose “OVF 1.0” format from the drop down and check the write manifest file box.

image

Click “Next” and then click “Export”. Depending on the size of the machine this could take a while.

image

Preparing to Import the VM

image

Once the export is complete you can try deploy the OVA to ESXi but you will receive the following error, “The OVF package requires unsupported hardware. Details: Line 25: Unsupported hardware family ‘virtualbox-2.2’.”.

image

Cách 1:

Chủ động làm lại ổ cứng ảo VMDK, nếu có bộ cài iSO để cài lại trên chuẩn ổ cứng VMDK.

image

Lưu ý: do 1 số HĐH là cũ như Linux Kernel 2.2/2.4 32/64bit không tương thích với các giao thức mới (SATA/ SCSI) của Computer Machine, thường chỉ chạy với chuẩn cũ IDE

image

Hãy tắt các device không cần thiết như: audio, serial ports, usb, share folder:

image

image

image

image

Bước tiếp theo là stop máy VM và chọn Export Appliance

image

Bước cuối cùng cần sửa lại nội dung cho file OVF tương thích với việc Deploy vào ESXi Host:

Giải nén file OVA bằng 7z tạo thành thư mục chứa 2 files: ovf và vmdk, hãy mở nội dung file ovf bằng notepad++

image

Sửa tham số  virtualbox-2.2 thành  vmx-07.

Lưu ý: một số OS như: Linux OpenSuSe x64 thì chỉ có VMX-11 mới support. hoặc bạn sẽ phải chỉnh General trong Virtualbox cấu hình thành Other Linux x64 để khi sang vSphere chỉnh lại HĐH tương thích sau.

image

Lưu lại file OVF sau khi sửa:

image

Cuối cùng là mở vSphere ESXi và deploy VM bằng file ovf.

———————————————————-

Cách 2: cách cũ và hay bị phát sinh việc sửa cấu hình VM trong virtualbox

Dùng 7Zip” để giải nén “extract the OVA”. bấm “OK” để giải nén và bỏ qua các lỗi.

image

image

Tạo 1 bản sao lưu tránh sửa nhầm lệnh trong OVF file và dùng notepad++.

thay đổi dòng nội dung:

image

<vssd:VirtualSystemType>virtualbox-2.2</vssd:VirtualSystemType>

thành dòng:

<vssd:VirtualSystemType>vmx-07</vssd:VirtualSystemType>

Deploy VM trên vSphere client:

Hãy chọn file “Deploy OVF Template”.”đảm bảo là chọn OVF file không chọn OVA file”.

Nếu bạn nhận được các lỗi sau: hardware error: “The OVF package requires unsupported hardware. Details: Line 74: OVF hardware element ‘ResourceType’ with instance ID ‘6’. No support for the virtual hardware device type ’35’.”

hardware error

Để fix lỗi này, mỡ lại file OVF file và xóa <item> có viết cả đoạn tham số XML liên quan tới sound card:

    <Item>
        <rasd:AddressOnParent>3</rasd:AddressOnParent>
        <rasd:AutomaticAllocation>false</rasd:AutomaticAllocation>
        <rasd:Caption>sound</rasd:Caption>
        <rasd:Description>Sound Card</rasd:Description>
        <rasd:ElementName>sound</rasd:ElementName>
        <rasd:InstanceID>6</rasd:InstanceID>
        <rasd:ResourceSubType>ensoniq1371</rasd:ResourceSubType>
        <rasd:ResourceType>35</rasd:ResourceType>
    </Item>

image

Còn lỗi message khác : Line 66: OVF hardware element ‘ResourceType’ with instance ID ‘5’: No support for the virtual hardware device type ’20’

Bạn vẫn phải mở lại file OVF và sửa lại nội dung ở item Instance 5:

<Item>
<rasd:Address>0</rasd:Address>
<rasd:Caption>sataController0</rasd:Caption>
<rasd:Description>SATA Controller</rasd:Description>
<rasd:ElementName>sataController0</rasd:ElementName>
<rasd:InstanceID>5</rasd:InstanceID>
<rasd:ResourceSubType>AHCI</rasd:ResourceSubType>
<rasd:ResourceType>20</rasd:ResourceType>
</Item>

Cần phải chuyển kiểu kết nối ổ cứng ảo SATA controllers, sang dạng SCSI (Instance Id needs to be unique for all the elements):

<Item>
     <rasd:Caption>scsiController0</rasd:Caption>
     <rasd:Description>SCSI Controller</rasd:Description>
     <rasd:InstanceId>12</rasd:InstanceId>
     <rasd:ResourceType>6</rasd:ResourceType>
     <rasd:ResourceSubType>lsilogic</rasd:ResourceSubType>
     <rasd:Address>1</rasd:Address>
     <rasd:BusNumber>1</rasd:BusNumber>
 </Item>

Hãy thay đổi kiểu kết nối ổ cứng ảo bằng ID của SCSI controller:

<Item>
     <rasd:Caption>disk1</rasd:Caption>
     <rasd:Description>Disk Image</rasd:Description>
     <rasd:InstanceId>11</rasd:InstanceId>
     <rasd:ResourceType>17</rasd:ResourceType>
     <rasd:HostResource>/disk/vmdisk1</rasd:HostResource>
     <rasd:Parent>12</rasd:Parent>
     <rasd:AddressOnParent>0</rasd:AddressOnParent>
 </Item

Sau khi đã sửa xong nội dung file OVF, bạn có thể chạy lại deploy vSphere client để cấu hình VM:

ovf import

Máy ảo của bạn sẽ trải qua 4 lần bấm Next:

  • Bấm “Next” nhập tên máy ảo

  • Bấm “Next” và định dạng đúng kiểu ổ Virtual Disk formatting bạn muốn

  • Bấm “Next” và kiểm tra mạng

  • Bấm “Next” và bấm “Finish”

Bạn sẽ cần vài phút để deploy VM, có thể bạn phải chỉnh Memory, CPU, Network để đảm bảo phù hợp tài nguyên cho VM.

adjust machine settings

Bây giờ thì các VM hoàn toàn có thể tắt trên VirtualBox, và hãy để chúng chạy trên vSphere VMware với sự tương thích của nhiều OS, chạy VM trên VMware là lợi thế của bạn,

Chúc bạn thành công và  tận dụng cơ hôi ảo hóa tập trung.

Cách chữa lỗi các phiên bản VDP 5.x,6.0 từ tháng 5 – 2015 không thể mở cấu hình thông qua web cổng 8543 trên IE


Trong thời gian từ năm 2010 đến 2015, thế giới đã chứng kiến nhiều vấn đề về bảo mật của mã nguồn mở và hệ thống thuật toán, thư viện mã hóa đã bị crack và lỗ hổng SSL/TLS version 1.0 bị lỗi, đặc biệt là OpenSSL trên nền mã hóa RSA 1 mà iOS của Apple là một trong số nạn nhân lớn.

vSphere VDP là 1 sản phẩm của VMware tính từ phiên bản version 5.0 đến trước tháng 5.2015 hầu hết đang chạy điều khiển rất ổn định, các trình duyệt vẫn mở web theo địa chỉ https://xxx.xxx.xxx.xxx(ip-vdp):8543/vdp-configure  

Nhưng chỉ sau tháng 5.2015 bổng nhiên hệ thống không thể cấu hình VDP qua trình duyệt web tới các máy chủ VDP 5.x thậm chí cả VDP 6.0.

Nguyên nhân không được giải thích rõ ràng từ các hãng vì sản phẩm VDP vẫn chạy ổn định trên VMware vSphere, nhiều doanh nghiệp còn không chạy Update version nên hiển nhiên lỗi trên thuộc Client Windows, Ubuntu (các phần mềm HĐH hoặc trình duyệt đã update công nghệ vá lỗi bảo mật SSL/TLS verion 2.0, hoặc OpenSSL RSA-2).

image

Các bước sửa lỗi không dùng IE truy cập cổng 8543 của VDP như sau:

Bước 1. Dùng WINSCP và PuTTy kết nối tới máy chủ ảo VDP qua cổng SSH 22.

image

Bước 2. Download và upload lên thư mục máy chủ ảo VDP /root/tmp/ file 2111900_VDPHotfix.SHA2.sh.zip

image

Bước 3.

  1. Mở PuTTy
  2. Gõ lệnh chuyển con trỏ tới thư mục : cd /root/tmp  image
  3. Gõ lệnh tiếp theo để giải nén: unzip 2111900_VDPHotfix.SHA2.sh.zip  image
  4. Gõ lệnh chuyển con trỏ tới thư mục vừa giải nén: cd /root/tmp/2111900_VDPHotfix.SHA2.sh  image
  5. Gõ lệnh để định dạng lại quyền executive của file lệnh:  chmod a+x VDPHotfix_SHA2.sh  image
  6. Gõ lệnh ngoại trú gọi file chạy :    ./VDPHotfix_SHA2.sh 

image

 

Script sh tự động ký lại SSL theo RSA-2

image

image

Sau khi chạy file .sh, chúng ta sẽ cần gõ lệnh reboot trên màn hình PuTTy cho hệ thống VDP 5.5.1 khởi động lại máy chủ trong vòng vài phút.

image

Sau khi reboot, ta có thể truy cập lại trang web https://ip-vdp-server:8543/vdp-configure

bằng trình duyệt IE version 9,10,11

image

image

image

Mật khẩu theo quy định VDP5.x chỉ được dài 9 ký tự, không có ký tự đặc biệt.

image

Chúc các bạn thành công !

Cách 1: Làm thế nào để làm cho kích thước giảm của ổ đĩa ảo trên VM vSphere 6 ?


Sử dụng VMware Converter để thay đổi kích thước file đĩa ảo

Thay đổi kích thước file đĩa ảo cho phép các quản trị ảo hóa để sử dụng công suất máy chủ lưu trữ hiệu quả hơn. Bài viết này cung cấp các bước theo bước hướng dẫn về cách sử dụng VMware Converter và các vmkstools lệnh để thay đổi kích thước file đĩa ảo.

Ngoài ra, ảo hóa của VMware dành khả năng dễ dàng thay đổi phần cứng ảo. Bạn có thể dễ dàng thêm hoặc loại bỏ các CPU, Bộ nhớ, USB, CD/DVD, card mạng (NIC) bất cứ lúc nào bằng cách tắt các máy ảo (VM) xuống, hoặc thay kiểu Hot-plug, Hot-Add và thay đổi thiết lập của máy VM.

Nhưng làm thế nào để bạn tăng hoặc giảm kích thước đĩa ảo đã tồn tại ? Trong bài viết này Tôi sẽ giới thiệu một số phương pháp để tái thiết lập kích cỡ đĩa cứng ảo của bạn.

VMware Converter: giống như một phân vùng làm ảo hóa, chuyển từ Vật lý sang máy ảo
– Khám phá ra các tập tin đĩa ảo mà bạn đã tạo cho VM của bạn không còn đủ lớn là một vấn đề thường xuyên, phổ biến.

– Không gian đĩa nhiều hơn có thể luôn rễ đạt được bằng cách thêm một đĩa cứng bổ sung ảo, nhưng sau đó bạn sẽ kết thúc với một phân vùng đĩa và ổ thứ 2 chuyên lưu data, documents, email có thể không được mong muốn. Bạn cũng có thể thấy rằng các tập tin trên đĩa mà bạn tạo ra cho máy ảo quá lớn.

Như vậy, bạn sẽ muốn thu nhỏ nó để lấy lại không gian trên máy chủ lưu trữ của bạn cho máy ảo khác có thể sử dụng thêm.

Một trong những phương pháp đơn giản nhất để tăng hoặc giảm kích thước của một đĩa ảo hiện là sử dụng miễn phí tiện ích VMware Converter. Khi bạn chạy tiện ích nó mang lại cho bạn tùy chọn để chỉnh lại kích thước các ổ đĩa hiện có do vậy chúng hoặc là lớn hơn hoặc nhỏ hơn hơn so với đĩa gốc. Chuyển đổi không sửa đổi các tập tin đĩa gốc; thay vì nó tạo ra một máy ảo mới với ổ đĩa ảo có kích thước bạn chỉ định và sao chép dữ liệu từ máy ảo ban đầu vào máy ảo mới được tạo ra. Sau khi bạn xác nhận rằng các máy ảo mới được làm việc, bạn có thể xóa các VM ban đầu.

Thực hiện theo các bước sau để sử dụng VMware Converter chỉnh lại kích thước ổ đĩa của bạn:

Bước 1: Tải về và cài đặt Converter trên các máy ảo mà bạn muốn chỉnh lại kích thước. Ngoài ra, bạn có thể chạy Chuyển đổi từ một máy điều khiển từ xa nếu bạn có phiên bản Enterprise.

Bước 2:  Hãy chọn loại nguồn của bạn, hoặc là “máy vật lý,” nếu bạn đang chạy nó trực tiếp trên máy ảo VM Workstation hoặc “ESX Server hoặc máy ảo Virtual Center,” nếu bạn đang chạy nó bằng một máy điều khiển từ xa.

Bước 3: Trên màn hình Nguồn Login chọn một trong hai “Máy tính Local – ” nếu bạn đang chạy nó trực tiếp trên máy ảo, hoặc đăng nhập máy chủ ESX / VC của bạn nếu bạn đang chạy nó từ xa. Có thể chọn nguồn VM nếu bạn đang chạy nó từ xa.

Bước 4: Khi màn hình Data Source xuất hiện nó sẽ hiển thị tất cả các ổ đĩa mà máy ảo đã được gán cho nó. Đây là nơi bạn có thể thay đổi kích thước các ổ đĩa của bạn, lựa chọn để chọn kích thước và sau đó chọn một trong các tùy chọn, (tức là ‘Loại Kích thước trong GB) và nhập kích thước mới. Nếu bạn đang làm giảm kích thước của đĩa bạn phải nhập một giá trị lớn hơn thì tổng số lượng không gian đĩa mà hiện nay đang được sử dụng trên các đĩa. Ví dụ nếu bạn có 8GB bộ dữ liệu trên một đĩa 24GB trên máy chủ ban đầu của bạn, bạn phải nhập một giá trị lớn hơn sau đó 8GB cho kích thước mới.

image

Bước 5: Tiếp theo, chọn một Destination host ESX mà thường sẽ được các máy chủ tương tự như nguồn VM vừa chọn. Sau đó gán một tên cho máy ảo (tên phải khác VM nguồn, bạn có thể đổi tên nó sau khi bạn xóa các máy chủ nguồn), sau đó chọn một lưu trữ dữ liệu để đưa các máy ảo trên một mạng cho máy ảo và cuối cùng nhấn Finish để bắt đầu quá trình chuyển đổi này.

Bước 6: Thời gian cần để hoàn thành sẽ khác nhau dựa vào số lượng dữ liệu được lưu trữ trên máy chủ nguồn. Một khi nó hoàn tất, bạn có thể tắt điện nguồn của máy VM nguồn, bật điện trên máy ảo mới được tạo ra và xác minh rằng nó đang làm việc một cách chính xác. Sau đó bạn có thể xóa các VM gốc và đổi tên VM mới để phù hợp với tên VM ban đầu.

 

Chúc các bạn thành công !

Paypal đang chuyển hướng xây dựng các sản phẩm đóng gói trong nội bộ theo hướng PaaS như thế nào ?


“PayPal now builds products on its internal PaaS” là có thật và các Doanh nghiệp chúng ta cần biết về điều này như là một sự thay đổi đầy thử thách và xu thế tất yếu.

PaaS – Platform as a Service đã nhận được rất nhiều sự chú ý từ các nhà lập trình, phát triển hạ tầng và kiến trúc giải pháp cũng như An ninh hệ thống. Họ coi việc tìm kiếm các các thức dễ dàng hơn để xây dựng và chạy được các ứng dụng kết nối tới mạng thanh toán của PayPal, Amazon Web Service trên các nền tảng mới như “Điện toán đám mây công cộng” mạng thanh toán Xã hội công cộng… Và rủi ro của các mạng công cộng khi tương thích, tích hợp.

PayPal đang nhìn thấy được rất nhiều giá trị từ việc áp dụng mô hình PaaS để vượt qua được các rào cản kỹ thuật, rủi ro.

Việc đưa mạng thanh toán kết nối với các mạng xã hội, điện toán đám mây công cộng như: Google Cloud, Office 365 cloud, vCloudCOM, PABXCloud, FaxCloud, BizTalk 360, Auto Desk 360, TelecomCloud, Game Cloud… như hiện nay không khác gì đem máy rút tiền ATM Digital đặt ở giữa ngã ba đường và không cần đèn chiếu vậy thay vì đặt chúng ở ngay trong hoặc cạnh hội sở Ngân hàng và có người bảo vệ, bật đèn chiếu, bật cả hệ thống điều khiển ACL cho người dùng vậy.

PayPal thay đổi concept ? Thay vì chạy các ứng dụng kết nối thanh toán trên các cơ sở hạ tầng dùng chung, chúng được chọn làm các modules, ứng dụng Plug-in, resource cho các nhà phát triển đễ dàng hơn “cài/ cấy” trên các PaaS theo lời giải thích của Ryan Granard –Phó chủ tích Kỹ thuật của Paypal tại Hội nghị Cơ cấu GigaOM hôm thứ năm.

Các doanh nghiệp lớn nhỏ đều đã ít nhiều xác định các khái niệm, phân tích và có nhu cầu nhảy lên những đám mây điện toán (đặc biệt sai lầm là lại bỏ qua khái niệm tiền đề về PaaS – bản chất sâu sắc nhất của vấn đề này là gì ? )

Điện toán đám mây công cộng “Public Cloud” là con đường sai lầm cho những ai ảo tưởng về mạng thanh toán an toàn ?

– Tại sao điện toán đám mây công cộng lại gặp phải mức độ bảo mật cảnh báo cao ?

– Nỗi sợ hãi ám ảnh việc mất an ninh  trên mạng điện toán đám mây công cộng là thêu rệt hay hiện hữu ? các số liệu kinh tế, tài chính của Công ty, Doanh nghiệp, tổ chức nhà nước chắc chắn không bao giờ lên Mây công cộng. Đây là câu trả lời chắc chắn của nhiều CEO/CIO/CTO/CCO/CFO trên thế giới.

– Các rào cản kỹ thuật khi phát triển, xây dựng các ứng dụng thanh toán trên mạng điện toán đám mây công cộng nhằm tuân thủ các quy định và các tiêu chuẩn gọi là “Vendor lock-in” hoặc các hộp đen mã / giải mã để kiểm soát mã nguồn lập trình code ví dụ: SharePoint Online có sandbox. Chính những rào cản kỹ thuật trên lại làm hạn chế đi khả năng phát triển mạnh mẽ của các ứng dụng chạy trên Public Cloud.

Tóm lại: Mặc dù vẫn những nỗi sợ hãi đó, mọi người vẫn đem nó tới các hội nghị và là một phần của các cuộc đối thoại về việc làm thế nào để đưa các ứng dụng đó chạy trên một cơ sở hạ tầng công cộng “Public cloud”.

 

PayPal thay đổi định hướng như thế nào ?

– PaaS tồn tại được bởi vấn đề Điện toán đám mây cá nhân “Private Cloud” là mô hình ngược lại của điện toán đám mây công cộng “Public Cloud”, hay còn gọi cách hiểu khác là điện toán đám mây Doanh nghiệp – người dùng cá nhân, mà đây mới là giá trị đích thực mà PayPal, Amazon đang và sẽ tiếp tục đầu tư sinh lãi, tránh rủi ro.

 

Mô hình hệ thống cũ:

image

 

làm thế nào mà PayPal có thể hướng tới mục tiêu này ?

Nó được chạy bởi Red Hat OpenShift trong hệ thống nội bộ “On-Premise” PaaS để nhằm xây dựng ra các sản phẩm cho PayPal như hiện nay và tương lai sau này.

 

Mô hình mới của PayPal:

image

Với phương pháp này, “Một nhà phát triển lập trình có thể lựa chọn một sản phẩm để có thể làm việc triển khai, đấu nối trong vài phút , PayPal lúc đó giống cái tổng đài PABX”

Lúc đó, Doanh nghiệp đã có bạn “PayPal PaaS”  và chạy trong một cái hộp/thùng chứa đầy đủ các chuẩn kết nối, bảo mật , mã hóa, ACL… với nguồn lực Cơ sở hạ tầng bàn giao và vận hành ngay lập tức.

 

Lợi ích từ việc xây dựng PaaS trên nền tảng VMware cho Danh nghiệp:

Phát triển không cần phải lo lắng về việc liệu những nguồn lực đang được quản lý trong một công cụ VMware hay với OpenStack, cả hai đều được sử dụng trong nội bộ PayPal, Granard nói.

Dưới đây là mô hình mà PayPal PaaS gợi ý cho các Doanh nghiệp có mạng lưới thanh toán chuẩn hạ tầng VMware:

image

 

Câu chuyện thực tế bây giờ là PayPal đang ngồi ngay trong mạng thanh toán nội bộ của những Doanh nghiệp nào biết ảo hóa VMware ?

Doanh nghiệp nào biết ảo hóa ứng dụng và hạ tầng nội bộ bằng VMware chính là lợi thế số 1.

Robusta sẽ giúp các bạn việc trang bị kiến thức ảo hóa toàn bộ hạ tầng và ứng dụng để xây dựng PaaS hay IaaS đặc biệt là vApp và Desktop.

SharePoint nâng cao: Phần 7 – Bổ sung cấu trúc hệ thống MySite trong SharePoint


Tại sao có rất nhiều hệ thống Cổng thông tin Doanh nghiệp lại được gọi là “Facebook cho Doanh nghiệp”

và bộ sưu tập trang web cá nhân cung cấp cho mỗi người sử dụng với khả năng lưu trữ thông tin cá nhân và công cộng như văn bản, hình ảnh, cập nhật trạng thái, v.v. dễ dàng và hiệu quả. Các trang web của cá nhân trong SharePoint 2010 đều được thiết kế theo mô hình mạng xã hội thu nhỏ trong hoạt động của Doanh nghiệp. Microsoft đã nhìn thấy sự cần thiết phải tiếp tục đầu tư và tăng cường khả năng kết nối mạng xã hội trong SharePoint, và như công nghệ web 2.0 tiếp tục ngổn ngang trên tất cả các trang web đang vận hành trên thế giới, Microsoft đã một lần nữa thiết lập thành công các nhãn hiệu, thẻ văn bản, meta data chuẩn bị trong Sharepoint Enterprise bằng cách giới thiệu một loạt các tính năng mạng xã hội để tăng cường sự hợp tác, lầm việc tương tác giữa những người dùng trong SharePoint 2010.

Tôi xin giới thiệu cấu hình ứng dụng dịch vụ Xã hội cho SharePoint 2010 triển khai tại Labs của chúng tôi, hồ sơ người dùng, trong đó cung cấp cho chúng ta một vị trí trung tâm để lưu trữ các chi tiết thông tin người dùng mà sau này sẽ được nhập từ một nguồn nội dung như Active Directory vào.

image

 

My Site host là gì ?
Bạn chỉ có thể sử dụng My Site host Template từ khu vực dành cho người quản trị bởi vì nó tạo ra
một nơi cho phép lưu trữ tất cả các Site cá nhân khác. Bạn chỉ nên sử dụng Template này cho mổi
User Profile Service Application khi cần.
Một khi bạn tạo ra My Site host thì người dùng cá nhân có thể tạo ra các trang chủ My Site dành cho
họ để theo dõi các tin tức mới trong Site mà họ quan tâm, tạo ra các trang nội dung và thư viện tài
liệu cá nhân. Dĩ nhiên một trong những lợi thế quan trong khác của việc lưu trữ các tập tin trên thư
viện My Site hơn là lưu trữ trên ổ cứng cá nhân là các dữ liệu của My Site sẽ được sao lưu một cách
thường xuyên.

 

Các bước tạo My Site Web Application

Mở Central Administration / Application Management / Web Applications bấm nút New

image

Authentication: chọn kiểu Claims hoặc Classic  (tôi sẽ chọn “Classic”).

IIS Web Site: Tạo 1 IIS web site mới (nhập tên theo ý của mình).

image

Authentication Provider: chọn phương thức xác thực.

Public URL: nhập địa chỉ web làm địa chỉ URL truy cập My Sites của tôi.

image

Application Pool: Tạo thêm mới  Application Pool.

Thông thường ở chế độ bảo mật, chúng ta nên tạo 1 account domain user trên AD server và cấp quyền duy nhất để có thể start/stop 1 web application pool (ví dụ: được quyền điều khiển  My Site Application Pool ).  Lưu ý: Account này phải được khởi tạo trong Active Directory trước và chỉ thuộc quyền Domain Users (DOMAIN\sp_mysite).

image

Click OK

image

Database Name and Authentication: tên máy chủ Database SQL sẽ chứa dữ liệu Site Content Collection DB.

Failover Server: Tên máy chủ SQL cái ở chế độ failover server (nếu bạn có cấu hình và sử dụng SQL Server database mirroring).

image

bấm “OK”.

image

Bước tiếp theo:

Tạo “SharePoint – My Site” Web Application và click  General Settings. 

Ta chỉnh lại Default Time Zone.

image

Tạo My site theo “My Site Host Site Collection”:

image

Ta sẽ nhận được thông báo xác nhận việc tạo My Site:

image

Thiết lập cấu hình My Site:

Mở Central Administration / Application Management / Manage service applications.

Bấm User Profiles, bấm chọn Setup My Sites located trong mục My Site Settings

image

image

image

bấm “OK”.

Thêm Managed Path:

Mở Central Administration / Application Management / Manage Web Applications.

bấm vào My Site Web Application và bấm chọn “Managed Paths” có trên bộ nút “Ribbon”

image

Nhập thêm “personal” chọn kiểu “Wildcard inclusion”, sau đó bấm “Add Path” và bấm “OK”

image

Cấu hình cho phép người dụng đăng ký có thể tự tạo Mysite page:

Mở Central Administration / Application Management / Manage Web Applications.

bấm “My Site Web Application” và bấm chọn “Self-Service Site Creation”

image

Chọn On và bấm “OK”.

image

Bây giờ thì chúng ta có thể truy cập MySite

image

Lần đầu tiên khởi tạo MySite Content hệ thống SharePoint sẽ cần thời gian xử lý:

image

Và sau ít phút chúng ta đã có My Site của từng cá nhân đăng nhập vào Mysite

image

 

Các nhà Quản trị hệ thống SharePoint hoặc các nhóm lập trình development có thể tiếp tục công việc

cấu hình phần quyền, đẩy các Web Part, Web Application Solution hoặc SharePoint Solution cho từng người hoặc nhóm, hoặc vào các Sites

để người dùng có thể dễ dàng sử dụng các tính năng, chức năng mở rộng, mới trong công việc hàng ngày.

 

Chúc các bạn thành công trong công cuộc tái cấu trúc lại hệ thống Cổng thông tin Doanh nghiệp bằng SharePoint !

SharePoint nâng cao – Phần 6: Phát triển Development Dashboard trên máy chủ SharePoint 2010


1. Giới thiệu:

SharePoint 2010 Developer Dashboard là một màn điều khiển trực quan viết bằng giải pháp jQuery-based giúp các lập trình viên có thể mở rộng phương thức tối ưu tốc độ

load các code “Developer Dashboard by plotting” có biểu đồ tương tác với dữ liệu trên màn “Developer Dashboard” cho bạn biết các thông tin **instant** các dấu hiệu

thắt cổ chai trong các đoạn code của bạn.

image

Lần đầu khi chúng ta viết code trong  SharePoint 2010, chúng ta hay bị nhầm lẫn, sai code, hàm…  Số các đoạn code bị dùng nặp đi nặp lại, kết quả thấy rõ ở việc load times bằng  “”ms, 

dường như không thể chính xác 100% các yêu cầu là có thể kiểm soát được trong quá trình code và debug.

Về cơ bản là nó chỉ ra rằng có những “kẽ hở” mà không được giám sát, đó chính là lý do tại sao tổng thời gian thực hiện cho một tập hợp các nút con “hàm thủ tục con” trong danh sách thường không phù hợp với thời gian thực hiện của Class gốc. Điều này là do mô hình SPMonitoredScope. (Tham khảo: mô hình SPMonitoredScope ).

Mỗi nút trong danh sách đại diện cho một SPMonitoredScope đã được tạo ra, hoặc trong mã SharePoint OOTB hoặc trong mã mà bạn đã tự viết cho mình. Khi một SPMonitoredScope thứ hai được tạo ra trước khi tiến trình của người đầu tiên gửi yêu cầu được xử lý, SPMonitoredScope thứ hai sẽ được đối xử như một phạm vi của người truy cập đầu tiên. Trong bối cảnh của một trang sharepoint web nhận được yêu cầu truy xuất, phạm vi cấp cao nhất được khởi tạo trong SPRequestModule. Giới hạn mà bạn nhận được có khả năng sẽ trở thành phạm vi áp dụng cho hầu hết các phạm vi con “Child scope – phạm vi yêu cầu con”.

Một ví dụ cho một WebPart tùy chỉnh để có thể tạo ra phạm vi giới hạn riêng.

1: protected void VisualWebPart1_Load(object sender, EventArgs e)

2: {

3: using (SPMonitoredScope mainScope = new SPMonitoredScope(“VisualWebPart1_Load mainScope”))

4: {

5: Thread.Sleep(5000); // some processing that is not inside a subscope

6: 

7: using (SPMonitoredScope subScope1 = new SPMonitoredScope(“VisualWebPart1_Load subScope1”))

8: {

9: Thread.Sleep(1000);

10: }

11: 

12: using (SPMonitoredScope subScope2 = new SPMonitoredScope(“VisualWebPart1_Load subScope2”))

13: {

14: Thread.Sleep(1000);

15: }

16: 

17: using (SPMonitoredScope subScope3 = new SPMonitoredScope(“VisualWebPart1_Load subScope3”))

18: {

19: Thread.Sleep(1000);

20: }

21: }

22: }

Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào kết quả đầu ra Bảng điều khiển phát triển “Developer Dashboard”.

image

 

 

2. Triển khai:

Using STSADM command

a. On Mode

STSADM –o setproperty –pn devdashboard_v2 –pv On

image

b. Off Mode

STSADM –o setproperty –pn devdashboard_v2 –pv Off

c. OnDemand Mode

STSADM –o setproperty –pn devdashboard_v2 –pv ‘OnDemand’

d. The last stsadm command will display the Developer Dashboard if one or more counters are exceeded:

STSADM –o setproperty –pn devdashboard_v2  –pv expensiveoperationsonly

 

2. Using PowerShell commands

a. On Mode

$DevDashboardSettings = [Microsoft.SharePoint.Administration.SPWebService]::ContentService.DeveloperDashboardSettings;

$DevDashboardSettings.DisplayLevel = ‘On’;

$DevDashboardsettings.Update()

image

b. Off Mode

$DevDashboardSettings = [Microsoft.SharePoint.Administration.SPWebService]::ContentService.DeveloperDashboardSettings;

$DevDashboardSettings.DisplayLevel = ‘Off’;

$DevDashboardsettings.Update()

c. OnDemand

$DevDashboardSettings = [Microsoft.SharePoint.Administration.SPWebService]::ContentService.DeveloperDashboardSettings;

$DevDashboardSettings.DisplayLevel = ‘OnDemand’;

$DevDashboardsettings.Update()