Hồi ký tuỳ bút–một ngày cuối năm 2009 nói về chữ “TẾT” của Dân tộc Việt Nam


Người italia, người tây ban nha, người Đức và người Pháp… mà trong cuộc đời tôi có dịp sống làm việc cùng họ ở liên hiệp quốc, FAO.
Họ đều hiểu văn hóa người Việt và họ đều nói rất rõ “Vietnamese new year” hoặc đơn giản là “Tết“.
Có nhiều điều lý giải cho sự đồng hóa “chiếm” lĩnh văn hóa, xóa bỏ lịch sử của nhiều Triều đại để làm cho các thế hệ sau nhầm lẫn.
(ví dụ: 40 – 50% thế hệ trẻ việt đều nói rằng họ xuất thân là gốc người hoa vì họ cho rằng họ biết lịch sự trung quốc tốt hơn lịch sử Việt nam. Vậy mà tôi đã từng đặt ra nhiều câu hỏi họ đã không trả lời được:
1. Lúa gạo, Trà ẩm thực ngày nay là những sản vật có nguồn gốc từ đất nước Trung hoa ?
2. Những ngày lễ hội như: 1/1, 3/3, 5/5, 7/7, 9/9,11/11 là những ngày gì ? chúng có liên quan gì với nền văn minh “Lúa nước” ?
3. Bạn có biết người Trung quốc cũng có những ngày lễ đó mặc dù không phải là thuộc nền văn hóa “Lúa nước“, các bạn biết tại sao không ?

Những thứ đó chưa bao giờ có nguồn gốc từ người Trung Quốc, mắc dù vậy họ vẫn cố công tạo dựng hình ảnh để thế giới tưởng nhầm rằng những thứ tuyệt tác đó là nguồn gốc của họ, làm cho Trung quốc có cái bong bóng vĩ đại.

Bôi nhọ, nói xấu Việt nam để Thế giới nghĩ rằng Việt nam nhỏ bé, không có nguồn gốc to đẹp, phụ thuộc vào “Bành trướng Bắc Kinh”, những kẻ chỉ giỏi mị dân, nói láo và làm nhiều điều độc ác, thất đức, sằng bậy.

Tóm lại, những câu hỏi trên thật đơn giản và thật khó bởi vì các nhà sử học, môn học lịch sử việt nam lại không viết một cách thực tế như vậy để con cháu người Việt hiểu mà chỉ toàn nêu sự kiện, văn học thì toàn đưa ra những lý giải thích dung dị khó chấp nhận làm cho văn hóa và sử học người Việt ngày càng mờ nhạt lẫn lộn với lịch sử Trung quốc, mặc dù 2 lịch sử, văn hóa hoàn toàn khác nhau.

Ngày nay, chúng ta lại đi cãi nhau về chuyện cái nào có trước, cái nào có sau. Hay phong tục đó là của người Trung quốc, văn hóa đó là của người Việt…  Rồi chuyện người Trung quốc làm sằng làm bậy ở đảo Hoàng xa, Trường xa, đưa mấy ngôi mộ giả theo kiểu kế “72 ngôi mộ giả của Tào Tháo”  rồi bảo với thiên hạ là ngôi mộ cổ của tổ tiên họ mới mọc ra ở đảo – lố bịch quá, bởi Trung quốc còn không có “ngày quốc giỗ” lấy đâu ra cái tôn quí những ngôi mộ cổ của tổ tiên, họ chỉ giỏi đào bới  mộ tổ tiên lên để lấy các vật cổ, giá trị.

Tôi rất hạnh phúc là người Việt, bởi vì đơn giản tôi có gốc tích người Việt cổ xưa, cũng thuộc 1 dòng họ “Đế vương” , tự hào và luôn cố gắng để thể hiện mình là con cháu Đế vương. Điếu đó cho thấy tôi hơn hẳn suy nghĩ của người khác cho dù đó là người Việt hay họ tự cho rằng họ là người Trung hoa.

Và cũng như bao người dân việt khác, toàn thể dân Việt tự hào hơn các dân tộc khác (kể cả người trung quốc hiện đại) vì chúng tôi là dân tộc có ngày thờ cúng tổ tiên “Ngày giỗ tổ“.

 (Các nước trên Thế giới, người Trung quốc và các dân tộc khác đông là thế, văn minh là vậy nhưng không có nổi ngày đó).

Tôi nói tất cả những điều này để hiểu đơn giản rằng:
– Tết cổ truyền của Dân tộc Việt nam hoàn toàn khác với tết trung quốc.
– Tết của người Việt có trước cả lễ hội của người Trung Quốc chỉ bởi đơn giản Lịch âm được tính theo lịch mặt trăng. Lịch mặt trăng được tính theo những ngày mùa làm ruộng của nền văn minh “Lúa nước“, Trung quốc không thuộc nền văn minh này, nên hiển nhiên họ không biết gì về lịch âm.

– Có trong sử sách Chiến tranh 1000 năm bắc thuộc, nhà Hán đã học được ở Cha ông người Việt chúng ta có ngày Tết dân tộc, để nhớ ơn công đức tổ tiên.
Từ đó người Trung quốc mới có những ngày lễ “Tết người trung quốc“.

– Thậm chí, những ngày tết nguyên tiêu hay tết thượng nguyên, là những ngày lễ được mùa của nền văn hóa “Lúa nước“, người Trung quốc cũng đem áp dụng và chép sử thành ngày lễ do họ nghĩ ra để ngụy tạo văn hóa. Sử gia Việt nam lại viết thành những tích truyện làm thế hệ chúng ta không thấy rõ giá trị nhân văn, đúng đắn và coi thường văn hóa cha ông mình.

– Tết của người Trung quốc tại sao không được nhà Hán gọi với tên như kiểu người Việt “Tết cổ truyền Trung Hoa” ? bởi vì người Trung quốc có nhiều dân tộc là gốc người Việt, và vì họ đón tết theo phong vị cổ truyền của người Việt, do đó Nhà Hán đã không thừa nhận ngày cuối âm lịch của họ là “ngày tết cổ truyền của người Trung quốc”.

 Trung quốc sợ mang tiếng là phụ thuộc vào văn hóa của người Việt.

– Nói về chiến tranh biên giới việt nam và trung quốc từ 1979, không có một người lính nào có gốc tích từ sông trường giang đổ xuống phía nam tham gia cuộc chiến, vì sao vậy ? thật đơn giản: nhà cầm quyền Bắc kinh quá biết những người đó có gốc Việt, họ sẵn sàng đảo chính hoặc không phục tùng vì lẽ nào họ giết hại chính dân tộc mình. Cũng may là chúng ta đã ngừng được chiến tranh vì, Người Việt cha ông là những người vĩ đại và yêu tổ quốc, hiểu được sử nước Việt.

– Năm nay là năm thứ 4 tôi dậy con tôi về sử Việt nam, con tôi đã thích thú với việc đọc 4 tập “Sử ký” của Cha tôi tặng tôi hồi còn nhỏ, và tôi cũng hiểu rằng những cuốn đó có từ thời xa xưa, có lẽ có từ thời dòng họ “Vua cha Lê” .

Trên tất thẩy mọi thứ mong ước:

Một ngày đầu xuân, chúc toàn thể dân Việt “Hạnh phúc, An khang, thịnh vượng”, chúc các bạn trên toàn thế giới hiểu người Việt và cũng sẽ được hưởng hạnh phúc, thái bình như những người con đất Việt.

 Mùa xuân và Tết nguyên đán “Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam”.

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 

===========================================================================
Italians, Spaniards, Germans and French … that in my life have the opportunity to work with them living in United Nations, FAO.
They understand Vietnamese culture and they all say very clearly “Vietnamese new year” or simply “New Year” or Tet.
There is much justification for the assimilation of “constitute” cultural domains, delete the history of many Dynasty to make the next generation confusion.
(e.g: 40-50% the young Vietnamese have said that they came body is the root of chinese because they think they know Chinese history better than history Vietnam.
So I have had many questions they posed were not answered:    
1. Rice, tea production materials are derived from Chinese country?
2. The festivals such as: 1/1, 3/3, 5/5, 7 / 7, 9 / 9, 11/11 on what’s date ? they related to civilization “Rice water”?
3. You also know the Chinese holidays, although it is not the culture of “Rice water“, do you know why? )

In short, these questions are simple and very difficult because historians, historical subjects Vietnam not write such a practice to the Vietnamese children out only if all events, literature shall make all reasonable explanation difficult to accept locally made and cultural historian of Vietnamese increasingly faint confused with Chinese history, although the two different history, different cultures.

Today, we take an argument about which one is first, which one is later. Tradition of the Chinese, the culture of the Vietnamese…

I am very happy that the Vietnamese, because I have a simple analysis of Vietnamese ancient origin, and a family of “kingly” proud and always trying to express themselves as descendants kingly. This shows that I think superior to others even the Vietnamese people or they themselves think they are Chinese.

And how well as other Vietnamese people, all Vietnamese people are proud than other peoples (including Chinese modern) because we are a nation on ancestor worship “The King Day on the hero. (Chinese people and peoples that almost no).

I say all this is simple to understand that:
– New Year traditional Vietnamese people completely different  Chinese new year.
– Year of the Vietnamese is the first festival of the Chinese Lunar simply just by the lunar calendar. Lunar calendar are the days of the season farming civilization “Rice water“, not the Chinese civilization is so obvious they do not know about lunar calendar.

– The war in history in 1000 in the north, the Han Dynasty have learned in his father we have on the Vietnamese Tet nation, grateful to the ancestral faith.
Since then the Chinese have holidays “Year of China“.

– Even the original title on Tet or Tet Thuong Nguyen, holidays are the season of culture “Rice water“, the Chinese also provide application and copy of the holidays because they think that in order to disguise the literature chemical. Vietnam historians write the story of how systems analysis we can not clearly see the value of humanity and right and generally considered his father his culture.

– Why Year of China in the Han Dynasty is not known to the Vietnamese-style names like “traditional Chinese New Year“? because many Chinese ethnic groups of Vietnamese origin, and because they welcomed the New Year are traditional style of the Vietnamese, so Han Dynasty did not recognize the end of their lunar calendar “Year of the Traditional Chinese country“, they bring fear is dependent on the free culture of the Vietnamese.

– Talking about war borders Vietnam and China since 1979, a soldier does not have the original area from the Yangtze River down south join the war, why so? simple: the authorities said Beijing so that the original Vietnamese, they are ready coup or fail to obey reason they killed the peoples themselves. Fortunately, we have stopped the war because, Vietnamese people his father and the great love of country, understand the history of Vietnam.

– This year the 4th I use up my child in Vietnam, my children enjoy reading the fourth episode “Histories” of the gift I asked my father as a child, and I also understand that from the book ancient, perhaps even longer time before the family “Father of King Le“.

On everything:
One day in spring, wish all of Vietnam “Happiness, lucky, prosperity, wish you the world understand the Vietnamese and will enjoy happiness and peace as children Vietnam.

TET, SPRING and Vietnamese New year.

HAPPY NEW YEAR

Những bài luyện tập của học sinh lớp 5


Ý định:”

Bạn đã bao giờ nghĩ tới truyện lưu lại hết hoặc một số bài văn hay, bài toán, bài tiếng anh… của mình hoặc của con mình chưa ? khá thú vị đấy.

Tư tưởng:

Tôi luôn nghĩ tới việc lưu bút lại cho hậu thế cũng như những Bậc tiền bối có tầm đầu óc chiến lược như Lê lợi , nguyễn trãi đã từng làm.

Cơ hội:

Đơn giản mà lại hóa phức tạp, chỉ nhờ chút may mắn là có các hệ thống như Scanner and Printer MP280 cháu ruột đáng yêu của tôi đã mua tặng tôi năm 8/2011  (Stephan Phúc) Smile.

Trở ngại:

Nhưng quả thật vấn đề vấp phải là nhận dạng tiếng Việt, một thứ quá khó khi không có thư viện hỗ trợ định nghĩa các ngôn từ chuẩn hóa như: Anh, Đức, Pháp, Tây ban nha.

Nhận định:

Nhưng điều đó không có nghĩa là Tiếng Việt không làm được, không nhận dạng được ?

Quyết tậm:

Sau 4 tiếng đồng hồ vật lộn với vấn đề xác định ngôn ngữ tiếng Việt khi được vec-tơ bằng BMP/TIFF images, tôi đã làm được đống tài liệu cũ của con gái Hà Lan và đống tài liệu của tôi đã mất file điện tử.

Tìm tòi:

Vậy là cơ hội mới lại đến với tôi. Nhận dạng đống tài liệu tiếng Việt, ngoại ngữ … đã trở lên dễ dàng hơn rất nhiều.

Củng cố tình thần:

Tôi đã kịp tham khảo cả phần mềm AABBYY FineReader v11.0.102.48 đúng là phần mềm đáng kính nể, chất lượng không kém gì tôi mong muốn và vượt xa so với HP OCR VnDocr / google docr…

Kết quả thực hiện:

Hãy thử xem bản quét trên ảnh từ máy scanner Canon MP280:

 

IMG_0002

IMG_0003

IMG_0004

Khoe mẽ đôi chút thành công:

Hãy xem kết quả sau khi nhận dạng chúng bằng OCR của tôi:

Thứ .. ngày …tháng năm 2011

Lớp: 5 PHIẾU LUYỆN TOÁN – số 3

( Các bài toán về phân số )

Bài 1: Ba người thợ chia nhau tiền công. Người thứ nhất được 2/9 tổng số tiền công.

Người thứ hai được 3/8 tổng số tiền công. Người thứ ba được hơn người thứ hai 30000 đồng. Hỏi mỗi người được bao nhiêu tiền?

Bài 2: Có 3 rổ đựng cam. Rổ một đựng được 2/9 số cam. Rổ hai đựng được 1/7 số cam.

Rổ ba đựng được nhiều hơn rổ hai 62 quả cam. Hỏi mỗi rổ đựng được bao nhiêu quả cam?

Bài 3: Học sinh tự đặt đề toán tương tự và giải.

Bài 4: Một cửa hàng buổi sáng bán được 2/9 tấm vải, buổi chiều bán được 2/5 tấm vải ấy. Phần vải bán buổi chiều nhiều hơn phần vải bán buổi sáng là 8m. Hỏi mỗi buổi cửa
hàng đó bán được bao nhiêu mét vải?

Bài 5: Một cửa hàng buổi sáng bán được 3/8 số gạo, buổi chiều bán được 1/4 số gạo ấy.

Số kilôgam gạo bán buổi sáng nhiều hơn số kilôgam gạo bán buổi chiểu là 35kg. Hỏi
mỗi buổi cửa hàng đó bán được bao nhiêu kilôgam gạo?

Bài 6: Học sinh tự đặt đề toán tương tự và giải

Bài 7: Người ta lấy nước mắm từ một thùng ra để bán. Lần thứ nhất lấy ra 1/4 số nước

mắm; lần thứ hai lấy ra 2/5 số nước mắm. Lần thứ ba lấy ra bằng 3/7 tổng số hai lần

trước. Trong thùng còn lại 8 lít nước mắm. Hỏi lúc đầu thùng đó có bao nhiêu lít nước
mắm?

Bài 8: Người ta lấy dầu từ một thùng ra để bán. Lần thứ nhất lấy ra 1/5 số dầu; lần thứ

hai lấy ra 3/7 số dầu. Lần thứ ba lấy ra bằng 5/11 tổng số hai lần trước. Trong thùng còn lại
12 lít dầu. Hỏi lúc đầu thùng đó có bao nhiêu lít dầu? Tính số lít dầu bán ra mỗi lần?

Bài 9: Học sinh tự đặt đề toán tương tự và giải.

————

Thứ ngày tháng năm 2011

Họ và tên:

Lớp: 5 PHIẾU LUYỆN TOÁN – số 2

( Các bài toán về phân số)

Bải 1: Một lớp học có 18 học sinh nữ và 27 học sinh nam. Hỏi:

a) Số học sinh nữ bằng bao nhiêu phần số học sinh nam?

b) Số học sinh nữ bằng bao nhiêu phần số học sinh cả lớp?

c) Số học sinh nam bằng bao nhiêu phần số học sinh cả lớp?

Bài 2: Lớp 5A có 50 học sinh. Cuối năm học, số học sinh đạt loại khá chiếm 3/5 số học

sinh cả lớp. Số học sinh giỏi chiếm 1/2 số học sinh khá, còn lại là học sinh trung bình.
Hỏi lớp có bao nhiêu học sinh trung bình?

Bài 3: Tổng kết năm học, lớp 5A có 1/3 số học sinh đạt loại giỏi, 4/9 số học sinh đạt loại

khá, còn lại 10 học sinh trung bình. Hỏi:

a. Số học sinh trung bình chiếm bao nhiêu phần số học sinh lớp 5A?

b. Tính số học sinh của lớp 5 A?

c.Tính số học sinh giỏi, số học sinh khá của lớp 5A?

Bài 4: Trong kho có 1/5 tổng số kg là lạc; 2/3 tổng số kg là đỗ, còn lai 64 kg là ngô.

a. Hỏi trong kho có tất cả bao nhiêu kg lạc, đỗ và ngô?

b. Tính số kg lạc, số kg đỗ?

Bài 5: Tổng kết năm học khối 4 có 1/4 số học sinh đạt loại giỏi, 2/3 số học sinh đạt loại

khá, còn lại là 15 học sinh trung bình.

a) Tính số học sinh của khối 4?

b) Tính số học sinh giỏi, học sinh khá của khối 4?

Bài 6: Một đội công nhân sửa một quãng đường trong 3 ngày. Ngày thứ nhất đội đó sửa được 2/5 quãng đường. Ngày thứ hai đội đó sửa được – quãng đường. Ngày thứ ba sửa được 96 mét đường. Hỏi:

c) Ngày thứ ba đội đó còn phải sửa bao nhiêu phần của quãng đường?

d) Cả ba ngày đội đó phải sửa bao nhiêu mét đường?

Bài 7: Một cửa hàng bán nước mắm. Lần 1 người ta xuất ra 1/6 số lít nước mắm. Lần 2 người ta xuất ra 3/7 số lít nước mắm thì trong kho còn lại 85 lít nước mắm. Hỏi lúc đầu
trong kho có bao nhiêu lít nước mắm?

Bài 8: Một cửa hàng bán gạo. Lần thứ nhất bán được 1/7 số kg gạo; lần thứ hai bán được 2/5 số kg gạo thì trong kho còn lại 128 kg gạo. Hỏi lúc đầu trong kho có tất cả
bao nhiêu kg gạo? Tính số gạo cửa hàng bán lần 1, lần 2?

——————-

Thứ………………………………… ngày.. tháng năm 2011

Họ và tên:

Lớp: 5 PHIẾU LUYỆN TOÁN – số 1

( Các bài toán về phân số)

Bài 1: Một lớp học có 1/4 số học sinh là học sinh giỏi, 3/5 số học sinh là học sinh khá, còn

lại là học sinh trung bình. Tìm phân số chỉ số học sinh trung bình của lớp đó.

Bài 2: Lớp 5A có 42 học sinh, trong đó 3/7 số học sinh đạt loại giỏi, 1/3 số học sinh đạt loại khá, còn lại là học sinh trung bình. Hỏi:

a) Lớp 5 A có bao nhiêu học sinh giỏi, bao nhiêu học sinh khá?

b) Lớp 5A có bao nhiêu học sinh trung binh?

Bài 3: Một cửa hàng có 200kg gạo. Buổi sáng cửa hàng bán được 1/4 số gạo đó, buổi chiều
cửa hàng bán được 4 số gao còn lại. Hỏi cửa hàng đó còn lại bao nhiêu ki – lô – gam gạo?

Bài 4: Tổng kết năm học, lớp 58 có 1/4 số học sinh đạt loại giỏi, số học sinh đạt loai khá,

còn lại 14 học sinh trung bình.

a. Số học sinh trung bình chiếm bao nhiêu phần số học sinh lớp 5B?

b. Tính số học sinh của lớp 5B?

c. Tính số học sinh giỏi, học sinh khá mỗi loai?

Bài 5: Mẹ có 56 quả táo, mẹ cho Hồng 2/8 số táo, sau đó cho Lan 3/7 số táo còn lại. Hỏi
Hồng, Lan mỗi bạn nhận được bao nhiêu quả táo?

Bài 6: Người ta chia 72 lít dầu vào 3 thùng. Thùng thứ nhất chứa 1/6 số lít dầu, thùng thứ

hai chứa 3/8 số lít dầu, thùng thứ ba chứa số lít dầu còn lại. Hỏi thùng thứ ba chứa bao nhiêu lít dầu?

Bài 7: Một đội công nhân sửa được 3km đường trong ba ngày. Ngày đầu đội đó sửa được

1/3 quãng đường, ngày thứ hai đội đổ sửa được 4 quãng đường. Hỏi:

a. Ngày thứ ba đội đó sửa được bao nhiêu phần của quãng đường?

b. Tính số mét đường đội đó đã sửa trong mỗi ngày.

Bài 8: Trong kho có 120 lít nước mắm. Lần thứ nhất người ta bán được 3/5 số nước mắm

đó. Lần thứ hai người ta bán được 1/6 số nước mắm còn lai.

a. Tính số lít nước mắm người ta bán lần 1, lần 2?

b. Tính số lít nước mắm còn lại sau hai lần bán.

Bải 9: Một người đi xe máy từ tỉnh A đến tỉnh B mất 3 giờ. Giờ thứ nhất người đó đi được

2/5 quãng đường, giờ thứ hai người đó đi được 1/3 quãng đường, giờ thứ ba đi được 44 km.
Hỏi quãng đường từ tỉnh A đến tỉnh B dài bao nhiêu kilômét?

Bài 10: Một công nhân mỗi tháng sử dụng 1/2 số tiền lương để ăn, sử dụng 1/6 số tiền lương

để trả tiền nhà, sử dụng 1/5 số tiền lương để chi trả các khoản khác, thì mỗi tháng còn để

dành được 240000 đồng. Hỏi mỗi tháng người công nhân đó lãnh được bao nhiêu tiền lương?

—————————-

Họ tên:

Thứ..ngày tháng

PHIẾU LUYỆN TIẾNG VIỆT – số 1

I. LUYỆN Từ VÀ CÂU:

1. Trong mỗi nhóm từ dưới đây, từ nào không cùng nghĩa với các từ trong nhóm:

a. Tổ quốc, tổ tiên, đất nước, giang sơn, sông núi, nước nhà, non sông, nước non, non nước.

b. Quê hương, quê quán, quê cha đất tổ, quê hương, bản quán, quê mùa, quê hương xứ sở, nơi
chôn rau cắt rốn.

2. Tìm và điền tiếp các từ đồng nghĩa vào mỗi nhóm từ dưới đây và chỉ ra nghĩa chung của
từng nhóm:

a) Cắt, thái, .

b) to, lớn,

c) chăm, chăm chỉ,

3. Tìm từ ngữ đồng nghĩa trong mỗi đoạn thơ sau. Viết đoạn văn nêu rõ tác dụng của cách sử
dụng các từ đồng nghĩa này.

a) Mình về với Bác đường xuôi

Thưa dùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!

Tố Hữu

b) Hoan hô anh giải phóng quân!

Kính chào Anh, con người đẹp nhất
Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất
Sống hiên ngang, bất khuất trên đời
Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi.

Tố Hữu

4. Chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh từng câu dưới đây:

a) Câu văn cần được (đẽo, gọt, gọt giũa, vót, bào) cho trong sáng và súc tích.

b) Trên sân trường, mấy cây phượng vĩ nở hoa (đỏ au, đỏ bừng, đỏ đắn, đỏ hoe, đỏ gay, đỏ
chói, đỏ lòm, đỏ quạch, đó tía, đỏ ửng)

c) Dòng sông chảy rất (hiền lành, hiền từ, hiền hoà, hiền hậu) giữa hai bờ xanh mướt lúa ngô.

5. Xếp các từ sau thành 3 nhóm từ đồng nghĩa: phân vân, se sẽ, quyến luyến, do dự, nhè nhẹ,
quấn quýt.

6. Lựa chọn từ trong nhóm từ đồng nghĩa ở cột phải để viết 3 câu văn có sử dụng biện pháp
nhân hoá tả đối tượng được nêu ở cột trái.

a) Những cánh cò chấp chới, rập rờn, phân vân, bay lả bay la

b) Giọt mưa xuân se sẽ, nhẹ nhàng, nhè nhẹ, dịu dàng

c) Hoa cỏ may quấn quýt, mắc vào, vướng vào.

7. Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau rồi đặt 2 câu với 2 từ tìm được: thật thà, giỏi giang, cứng cỏi,
hiền lành, nhỏ bé, nông cạn, sáng sủa, thuận lợi, vui vẻ, cao thượng, cẩn thận, siêng năng, nhanh
nhảu, đoàn kết.

II. CẢM THỤ:

Đoạn vãn dưới đây có thành công gì nổi bật trong cách dùng từ? Điều đó đã góp phần miêu tả
nội dung sinh động như thế nào?

Vai kĩu kịt, tay vung vẩy, chân bước thoăn thoắt. Tiếng lợn eng éc, tiếng gà chíp chíp, tiếng
vịt cạc cạc, tiếng người nói léo xéo. Thỉnh thoảng lại điểm những tiếng ăng ẳng của con chó bị lôi
sau sợi dây xích sắt, mặt buồn rầu, sợ sệt…

Ngô Tất Tố

————————

Họ tên:……………… Thứ…… ngày.. tháng. năm……

LUYỆN TIẾNG VIỆT – số 2

1. Luyện từ và câu:

1. Gạch bỏ 1 từ không thuộc các nhóm từ đồng nghĩa sau:

a) Lóng lánh, lấp lánh, lung lay, lấp loá.

b) oi ả, oi nồng, ồn ã, nóng nực.

c) ỉ eo, ca thán, ê a, kêu ca.

2. Tìm từ trái nghĩa với từ “hồi hộp ”, “vắng lặng

3. Đặt 1 câu có cặp từ trái nghĩa “khô héo – tươi mát ” nói vê cây cối trước và sau cơn mưa.

4. Phân biệt nghĩa của những cụm từ đồng âm trong các cụm từ sau:

a) đậu tương – đất lành chim đậu – thi đậu.

b) bò kéo xe – hai bò gạo – cua bò lổm ngổm.

c) cái kim sợi chỉ – chiếu chỉ – chỉ đường – một chỉ vàng

5. Đặt câu đê phân biệt các từ đông âm: “chiếu, kén, mọc”

M: – Mặt trời “chiếu” sáng

– Bà tôi trải “chiếu ” ra sân.

6. a) Mỗi câu dưới đây có mấy cách hiểu? Hãy diễn đạt cho rõ nghĩa từng cách hiểu ấy
(có thể thêm một vài từ)

– Mời các anh chị ngồi vào bàn.

– Hoa mua ở bên đường.

b) Viết lại cho rõ nội dung từng câu dưới đây (có thể thêm một vài từ)

– Đầu gối đầu gối.

– Vôi tôi tôi tôi.

7. Dòng nào dưới đây chỉ gồm các từ trái nghĩa với từ “điềm đạm

a. Bình tĩnh, giận dữ, điềm nhiên.

b. Hấp tấp, nóng nảy, giận dữ.

c. Điềm tĩnh, hấp tấp, nóng nảy.

II. Tập làm văn.

1. Chọn một từ chỉ đối tượng và một từ chỉ màu sắc điền vào chỗ trống cho câu văn mở đầu rồi viết tiếp 3-4 câu để đoạn văn tả màu sắc của một cảnh vật mà em yêu thích.

………. hôm nay như một ngày hội của màu….

2. Hãy viết một đoạn văn tả vườn hoa hoặc vườn rau mà em yêu thích trong đó có sử dụng những từ gợi tả màu sắc khác nhau.

======================================

Một số lưu ý khi thất bại cần cảnh giác:

1. Quét thì tốt khi làm đúng tiêu chuẩn OCR, nhưng nhận dạng số thập phân là khó có kết quả nhận dạng.

2. Quét thì tốt kể cả có màu văn bản, nên chọn màu xám là chuẩn tốt nhất cho OCR, nhưng các ký hiệu toán học, biểu thức, công thức có căn, tích phân, vi phân, giai thừa … là khó có kết quả nhận dạng tốt. Hãy biến chúng thành ảnh nếu có thể.

3. Đừng viết bút chì hặc bút bi nên văn bản cần nhận dạng, nếu không khi nhận dạng sẽ cho nhiều kết quả nhận dạng linh tinh, phải mất thời gian xác nhận định dạng. kết quả thực rất tồi.

Trân trọng cảm ơn

 

Chúc thành công ngày đầu Tháng 6, 2012

Lịch làm việc tại THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI


 

Giờ mở cửa

NỘI QUI CƠ QUAN

  1. Mọi người đến liên hệ với cơ quan phải xuất trình giấy tờ và theo sự hướng dẫn của nhân viên bảo vệ.
  2. Tôn trọng tài sản của thư viện như: Nhà cửa, sách báo và các rtang thiết bị, không tự tiện sử dụng hệ thống thông tin, điện, nước.
  3. Nghiêm cấm mang các chất nổ, chất dễ cháy và khí vào thư viện.
  4. Chú ý tắt động cơ xe máy, tôn trọng sự yên lặng của các bạn đọc khác.
  5. Khi đọc, mượn sách báo ở các phòng chuyên môn phải theo sự hướng dẫn của cán bộ thư viện, không được tự tiện mang sách, báo ra khỏi các phòng đọc nếu không được sự đồng ý của cán bộ thư viện.
  6. Thực hiện nếp sống văn minh giữ trật tự, vệ sinh chung, không hút thuốc lá trong thư viện.
  7. Giờ làm việc hàng ngày: Từ ngày 01/01/2012, Thư viện Thủ đô Hà Nội thực hiện giờ mở cửa các phòng Phục vụ bạn đọc như sau:

Lịch làm việc từ Thứ 2 đến Thứ 6

Tên Phòng

Giờ mở cửa

Phòng Báo – Tạp chí

Sáng: 08h00 – 12h00

Chiều: 13h30 – 17h00

Phòng Khiếm Thị

Phòng đọc tự chọn

Phòng đọc Thiếu nhi

Phòng mượn Thiếu nhi

Phòng mượn người lớn

Từ 08h00 đến 19h30

Phòng đọc Tổng hợp – Ngoại văn

(Chiều thứ 5 của tuần thứ nhất và tuần thứ ba hàng tháng nghỉ vệ sinh kho sách)

Lịch làm việc ngày Thứ 7

Tên Phòng

Giờ mở cửa

Phòng Báo – Tạp chí

Sáng: 08h00 – 12h00

Chiều: 13h30 – 17h00

Phòng mượn người lớn

Phòng Thiếu nhi (đọc và mượn)

Phòng đọc Tổng hợp – Ngoại văn

Các phòng phục vụ nghỉ ngày chủ nhật.

THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THỂ LỆ PHÒNG LÀM THẺ THƯ VIỆN HÀ NỘI

Gồm 3 loại thẻ:

  • THẺ ĐỌC NGƯỜI LỚN
  • THẺ MƯỢN NGƯỜI LỚN
  • THẺ THIẾU NHI

    Ngày làm thẻ: thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bẩy.

    (Thẻ được cấp trong ngày)

    Thời gian:

    • Sáng 8h30 đến 11h00.
    • Chiều 13h30 đến 16h00.

    THẺ ĐỌC NGƯỜI LỚN

    Đối tượng: Các em học sinh PTTH trong thành phố Hà Nội. Sinh viên các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; Cán bộ công nhân viên đang công tác tại các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh, lực lượng vũ trang trên địa bàn thành phố, người lao động và người nghỉ hưu tại Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Chứng minh thư nhân dân. (Công an T.p Hà Nội cấp). Nếu người ngoại tỉnh phải có giấy chứng nhận đang tạm trú tại Hà Nội.
    • 2 ảnh 3 x 4 cm.
    • Lệ phí 20.000đ/ thẻ/năm.

    THẺ MƯỢN NGƯỜI LỚN

    Đối tượng: Tất cả công dân từ 16 tuổi trở lên đang sống và làm việc thường xuyên tại Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Chứng minh thư nhân dân. (Công an T.p Hà Nội cấp). Nếu người ngoại tỉnh phải có giấy chứng nhận đang tạm trú tại Hà Nội.
    • Lệ phí: 40.000đ/ thẻ/năm.
    • 02 ảnh 3x4cm
  • Tiền cược sách: 100.000đ/thẻ.
  • Thẻ Mượn người lớn: sử dụng cho cả phòng đọc và phòng mượn người lớn

    THẺ THIẾU NHI

    Đối tượng: Các em học sinh PTTH, THCS và tiểu học trong Thành phố Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Sổ hộ khẩu (phô tô).
    • 02 ảnh 3x4cm
  • Lệ phí: 20.000đ/thẻ/năm
  • Cược sách thẻ thiếu nhi: 30.000đ/thẻ.

Chú ý: Đề nghị bạn đọc giữ biên lai tiền cược sách cẩn thận. Nếu mất thư viện sẽ không trả lại tiền cược đó. Khi đổi thẻ không có biên lai cũ phải nộp lại tiền cược sách như làm thẻ mới.

Hà Nội có những tên gọi nào khác?


Thăng Long – Hà Nội là kinh đô lâu đời nhất của Việt Nam. Kể cả những tên gọi chính thức và không chính thức, theo dòng lịch sử, Hà Nội có rất nhiều tên gọi khác nhau…

Thăng Long, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, được ghi trong Đại Việt sử ký, không chỉ là “Rồng bay lên”, mà còn có nghĩa “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đây là một tên gọi hoàn toàn do người Việt sáng tạo.

Thăng Long – Hà Nội là Kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy (581-618), Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long – Hà Nội có nhiều tên gọi. Chúng tôi xin chia các tên gọi ấy thành hai loại: Chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:

Tên chính quy

Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:

1. Long Đỗ.

– Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp Thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là Thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ Thanh Hóa. Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi”. Điều đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

2. Tống Bình.

– Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy (581 – 618), Đường (618 – 907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình.

3. Đại La.

– Đại La hay Đại La Thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh đô. Theo kiến trúc xưa, Kinh đô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm Thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi Vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La Thành. Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La Thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là Thành Đại La. Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “… Huống chi Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất…”

4. Thăng Long.

– Về ý nghĩa tên gọi Thăng Long, chúng ta vẫn thường giải thích rằng: Thăng là bay lên, Thăng Long tức là rồng bay. Thực ra, ở trong Hán tự có nhiều cách viết và giải thích chữ “thăng”. Với cách viết thứ nhất, chữ “thăng” có nghĩa là “đi lên cao, tiến lên”, bên cạnh nghĩa đầu tiên của nó là cái thưng, một dụng cụ đo lường dung tích (từ văn học: “đẩu thăng: đấu thưng”). Cách viết thứ hai: có chữ Nhật đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết thứ nhất. Thăng Long, Kinh đô mới của Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử ký, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, và do đó bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đặt tên Thăng Long với cách viết như trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ thấy rồng xuất hiện trên đất được chọn làm Kinh đô mới, đồng thời có sức mạnh kỳ diệu và tốt lành của giống Rồng, rất gần gũi với dân Việt, vẫn tự cho mình là “con Rồng cháu Tiên”.

Có điều đáng chú ý là các từ điển thông dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải (Từ nguyên – xuất bản 1947, Từ hải – xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất bản sau có khác không), không thấy ghi từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ Thăng. Riêng Trung văn đại từ điển (tập 5, Đài Bắc 1967, trang 208), ở chữ “Thăng” là “Thưng” dạng viết thứ nhất nói trên, có từ kép “Thăng Long” nhưng là danh từ chung và được giảng là “rồng bay lên”. Như vậy, có thể thấy tên gọi Thăng Long với cách viết ghi trên sử cũ là một địa danh hoàn toàn do người Việt sáng tạo.

5. Đông Đô.

– Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô” Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sứ thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô”.

6. Đông Quan.

– Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của nước ta, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở Thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408) Giản Định Đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh Thành Đông Quan thì chắc phá được chúng” .

7. Đông Kinh.

– Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427),Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15 Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là Thành Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông Kinh”

8. Bắc Thành.

– Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ – Quang Trung 1787 – 1802), vì Kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc Thành (Nguyễn Vinh Phúc – Trần Huy Bá – Đường phố Hà Nội).

9. Thăng Long.

– (Thịnh vượng lên). Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi Kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyển làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian cả nước, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ “Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay Vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu – Chủ biên. Lịch sử Thủ đô Hà Nội). Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó Vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ Hoàng thành cũ, vì Vua không đóng đô ở Thăng Long, mà Hoàng thành Thăng Long lại rộng lớn quá.

10. Hà Nội

– So với tên gọi Thăng Long với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử (dù chỉ đưới dạng truyền thuyết: ghi lại sự kiện có rồng hiện lên khi Vua tới đất Kinh đô mới), thì tên gọi Hà Nội có tính cách địa lý, với nghĩa “bên trong sông”. Nhưng nếu xét kỹ trên bản đồ thì chỉ có Sông Nhị là địa giới Tỉnh Hà Nội cũ về phía Đông, còn Sông Hát và Sông Thanh Quyết không là địa giới, như vậy có bộ phận Tỉnh Hà Nội không nằm bên trong những con sông này. Và khi Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, tên gọi lại càng không tương xứng với thực địa…

Trung văn đại từ điển, tập 19 (Đài Bắc- 1967) cho biết Hà Nội là tên một quận được đặt từ đời Hán (202 Tr.CN – 220 S.CN) nằm phía Bắc Sông Hoàng Hà. Tên Hà Nội từng được ghi trong Sử ký của Tư Mã Thiên (hạng Vũ Kỷ), kèm lời chú giải: “Kinh đô đế vương thời xưa phần lớn ở phía Đông Sông Hoàng Hà, cho nên gọi phía Bắc Sông Hoàng Hà là Hà Ngoại”. Rất có thể Minh Mạng đã chọn tên gọi Hà Nội, một tên hết sức bình thường để thay tên gọi Thăng Long đầy gợi cảm, nhưng tên gọi mới Hà Nội này lại có thể được giải thích là “đất Kinh đô các đế vương thời xưa”, để đối phó với những điều dị nghị. Chính cách đặt tên đất “dựa theo sách cũ” đã lại được thực thi, sau này, năm 1888 Thành Hà Nội và phụ cận trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, tỉnh lỵ Hà Nội phải chuyển tới Làng Cầu Đơ (thuộc Huyện Thanh Oai, Phủ Hoài Đức), cần có một tên tỉnh mới. Người ta đã dựa vào một câu trong sách Mạnh Tử : “Hà Nội mất mùa, thì đưa dân đó về Hà Đông, đưa thóc đất này về Hà Nội, Hà Đông mất mùa cũng theo phép đó”. Dựa theo câu trên, người ta đặt tên tỉnh mới là Hà Đông, tuy rằng tỉnh này nằm ở phía Tây Sông Nhị, theo thực địa phải đặt tên là Hà Tây mới đúng.

Tên không chính quy

Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ… dùng để chỉ Thành Thăng Long – Hà Nội.

1. Trường An – (Tràng An) :

Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 Tr. CN – 8 S.CN) và Đường (618 – 907). Do đó, được các nhà Nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ Kinh đô. Từ đó, cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ Kinh đô Thăng Long.

Thí dụ:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Rõ ràng chữ Trường An ở đây là để chỉ Kinh đô Thăng Long.

2. Phượng Thành (Phụng Thành)

-Vào đầu Thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú Nôm rất nổi tiếng: Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa Xuân ở Thành Phượng).

Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa Xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ Thành Thăng Long.

3. Long Biên.

– Là nơi quan lại nhà Hán, Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều (Thế kỷ III, IV, V, và VI) đóng trụ sở ở Giao Châu (tên nước ta thời ấy). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long – Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 – 1877), ghi lại bài thơ của Vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

Long Biên tài hướng Phượng Thành hồi Triệu đối do hy vĩnh biệt thôi!


Dịch nghĩa:

Nhớ người vừa tự Thành Long Biên về tới Phượng Thành Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi vào triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay!


Thành Long Biên ở đây, Vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877, Vua Tự Đức triệu ông về Kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

4. Long thành.

– Là tên gọi tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa – Ngọc Hồi của Vua Quang Trung. Sau chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài “Long Thành quang phục kỷ thực” (Ghi chép việc khôi phục Long Thành).

5. Hà Thành.

– Là tên gọi tắt của Thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai(?)…

6. Hoàng Diệu.

– Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đôi khi trong các báo chí của ta, chúng ta sử dụng tên này để chỉ Hà Nội. (Thành Hoàng Diệu).

Ngoài ra, trong cách nói dân gian còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long – Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ – Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất Kinh Đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ Kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh); Kinh Kỳ, tên này nói đất có Kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến); Và đôi khi chỉ dùng một từ như “Ăn Bắc, mặc Kinh”. Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ Kinh đô Thăng Long.

Loại tên không chính quy của Thăng Long – Hà Nội còn nhiều, được người đời sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao… kể ra đây chưa hết…

Theo Wikimapia Việt Nam

Cách sử dụng các dấu câu trong tiếng Việt !


Tài liệu tham khảo bao gồm:
– Ngữ pháp tiếng Việt – NXB Khoa học xã hội – 1983;
– Tiếng Việt thực hành (dùng cho sinh viên không chuyên ngữ) – NXB Giáo dục – 1997;
– Ngữ văn các lớp 6,7,8,9 – NXB Giáo dục – 2006

Dấu câu là một trong những phương tiện ngữ pháp (thay cho ngữ điệu khi nói). Nó có tác dụng làm cho nội dung của câu văn mạch lạc, khúc chiết; ngăn cách các thành phần trong cấu tạo câu.

Dùng dấu câu không chuẩn xác hoặc dùng dấu câu không phù hợp trong văn bản sẽ làm cho câu sai hoặc có nội dung mơ hồ.

Trong tiếng Việt có các dấu câu sau đây:

1. Dấu chấm

Dấu chấm dùng để kết thúc câu tường thuật (câu kể) trên văn bản.
VD: Anh ấy nói rằng: “Sẽ tới một ngày ta đòi nợ non sông!”.

2. Dấu chấm hỏi

Dấu chấm hỏi dùng trong câu nghi vấn (câu hỏi) nhất là trong trường hợp đối thoại.
VD:
– Bạn có biết gì về tình hình Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay?
– Tôi không biết. Còn bạn?

Cần chú ý:
a/ Dấu chấm hỏi có thể dùng trong câu tường thuật, đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị sự nghi ngờ.
VD:
– Chúng ta đã mất Trường Sa (?)
– Chúng ta vẫn còn giữ được một số đảo!

b/ Không dùng dấu chấm hỏi trong trường hợp có từ nghi vấn trong cấu tạo của câu ghép với nghĩa nêu lên một tiền đề cho ý kiến tiếp theo.
VD: Trung Quốc là nước như thế nào, ai cũng biết.

c/ Nếu muốn tỏ thái độ khinh bỉ, mỉa mai, đồng thời hoài nghi thì dùng dấu chấm than và dấu hỏi trong một ngoặc đơn.
VD: Người ta đồn rằng hắn là kẻ lừa đảo (!?).

3. Dấu chấm than

Dấu chấm than thường được đặt cuối câu cảm thán, câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh.
VD:
– Câu cảm thán: Trời! Biển đảo Tổ quốc ta đẹp quá!
– Câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh: Việt Nam ơi xin nắm chặt tay!

Dấu chấm than còn có thể đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị thái độ mỉa mai hay dùng cùng với dấu chấm hỏi trong ngoặc đơn để vừa biểu thị thái độ mỉa mai, vừa hoài nghi.
VD: Hắn tự hào vì người ta không tìm được hắn (!)

4. Dấu chấm lửng

Khi nói, dấu chấm lửng được thay thế bằng từ vân vân. Khi viết cũng có thể dùng từ này (viết tắt “v.v…”) hoặc dùng 3 dấu chấm (…). Dấu chấm lửng dùng để:

a. Đặt cuối câu khi người nói không muốn nói hết ý mình.
VD: Sự thể là vậy nhưng hắn nào có muốn…

b. Đặt cuối đoạn liệt kê khi người nói không muốn liệt kê hết sự vật, hiện tượng,… trong một chủ đề.
VD: Câu trên cũng là 1 ví dụ.

VD khác: Năm nay, các loại rau cỏ như: rau muống, mồng tơi, su hào, bắp cải,… đều lên giá.

c. Đặt sau từ, ngữ biểu thị lời nói đứt quãng.
VD: Tôi… không… còn… đủ… sức… nữa!

d. Đặt sau từ tượng thanh để biểu thị sự kéo dài âm thanh.
VD: Phù… Thế là xong!

e. Đặt sau đoạn biểu thị sự châm biếm, hài hước.
VD: Đẹp trai không bằng… chai mặt.

5. Dấu hai chấm

Dấu hai chấm dùng để:

a/ Liệt kê thành phần vị ngữ của câu đơn có động từ là hoặc trong thành phần vị ngữ có các từ biểu thị sự liệt kê ở sau các từ: sau đây, như sau, để,…

VD: Một số yêu cầu khi viết bài trên diễn đàn là:
– Viết đúng chính tả;
– Trình bày dễ nhìn;
– Không sử dụng các ngôn từ thiếu văn hóa.

b/ Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh cho một phần trước đó

VD: Cầu vồng có bảy màu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.

c/ Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay với lời đối thoại (dùng với dấu gạch ngang)

VD:
Bạn tôi hỏi:
– Cậu rảnh hay sao mà lại tham gia vô mấy cái rắc rối đó?
Tôi đáp:
– Tôi không rảnh lắm nhưng tranh thủ chút thời gian vì tôi thấy mình cần phải làm một cái gì đó cho Hoàng Sa Trường Sa, cho đất nước.

6. Dấu gạch ngang

Dấu gạch ngang dùng để:

a/ Chỉ ranh giới của thành phần chú thích

VD: Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã – một người đã giành cả đời để nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa – sắp tới sẽ phát hành một cuốn sách mới

b/ Đặt trước những lời đối thoại

VD:
– Anh đi đâu thế?
– Tôi đi loanh quanh đây thôi.

c/ Đặt ở đầu những thành phần liệt kê

VD:Thi đua yêu nước để:
– Diệt giặc đói;
– Diệt giặc dốt;
– Diệt giặc ngoại xâm.

d/ Đặt giữa hai, ba, bốn tên riêng, hay ở giữa hai con số ghép lại để chị một diên danh, một liên số

VD: Cầu truyền hình Hà Nội – Huế – TP. HCM đã sẵn sàng.
Văn học Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945 có nhiều tác phẩm đáng để đọc.

e/ Dùng trong trường hợp phiên âm tiếng nước ngoài

VD: Lê-nin, pô-li-me,…

7. Dấu ngoặc đơn

a. Dùng để ngăn cách thành phần chú thích với từ ngữ trong thành phần chính của câu.

VD: Tôi quen anh (rất tình cờ) qua một người bạn thân.

b. Sự khác nhau giữa dấu gạch ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ. Theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia đối với thành phần chú thích. Tuy vây, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu này có sự khác nhau như sau:

– Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùng dấu ngoặc đơn.

VD: Chồng chị – anh Nguyễn Văn Dậu – tuy mới hai mươi sáu tuổi nhưng đã học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.
(Ngô Tất Tố)

Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên (Có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
(Giang Nam)

– Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để giải nghĩa cho một từ hoặc một yếu tố ngôn ngữ không thông dụng.

VD: – Italia (Ý), Hàn Quốc (Nam Triều Tiên)
– Tiếng trống của phìa (lý trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rĩ.
(Tô Hoài)

8. Dấu ngoặc kép

a/ Dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp. Trước dấu ngoặc kép, trong trường hợp này, thường dùng dấu hai chấm.

VD: Thiếu úy Trần Văn Phương đã hô: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”.

b/ Dùng để trích dẫn một danh ngôn, một khẩu hiệu. Trong trường hợp này không dùng dấu hai chấm trước đó. Chữ cái đầu âm tiết của từ trong danh ngôn, tục ngữ, lời dẫn… cần được viết hoa.

VD: Câu “Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ” là có ý khuyên người ta cẩn trọng trong ăn ở, đừng để tiếng xấu ở đời.

c/ Dùng để biểu thị thái độ mỉa mai, chế diễu của người viết hoặc trích dẫn từ, ngữ của người khác hoặc đánh dấu một từ được dùng với nghĩa đặc biệt, khác với nghĩa thông thường..

VD: Xem chừng các anh chị ở đây đều theo chiều hướng “trăm năm cô đơn” hết cả rồi!

Khoảng cách sau các dấu câu bao giờ cũng là một (1) khoảng trắng, sau đó bắt đầu đến ký tự đầu tiên của câu (vế) tiếp theo.
Sau dấu chấm câu thì viết ký tự in hoa. Sau dấu phẩy ( , ), dấu chấm phẩy ( ; ) ngăn cách các vế của một câu thì không viết hoa.
Đầu mối câu viết hoa ký tự đầu tiên. Tên riêng thì viết in hoa ký tự đầu.
Các dấu bỏ ngay sau ký tự cuối cùng của câu (vế) mà không có khoảng cách.

Tuy nhiên, hiện nay, trong các văn bản được in ấn thì người ta vẫn để khoảng trắng trước các dấu sau đây:
– Dấu chấm hỏi;
– Dấu chấm than;
– Dấu hai chấm;
– Dấu gạch ngang;
– Dấu chấm phẩy.
Nhưng đó chỉ là quy ước bất thành văn của các văn bản.

Các bạn có thể tham khảo thêm tại:
Các dấu câu trong tiếng Việt (NgonNgu.Net)
Cẩm nang về văn phong (Wikipedia)