Lưu bút chuẩn bị đón Xuân 2013


Tiễn mùa Đông 2012

Những hình ảnh kỷ niệm Năm tháng đã qua của các Anh Chị người thân trong Đại gia đình Việt

 

Scanner_0005Scanner_0006Scanner_0007

Tiễn biệt Mùa Đông lạnh giá, xa xôi và đơn độc:

DSC_0074

Minh Trang, Mát-x-cơ-va, 2012

DSC00721

Anh Dzich, Hà-nội 2011

DSCF4123

Ngọc Hà, Luân-đôn, 2009

31012009_231012009_1

Đào miền bắc, Mai miền nam đang đợi nàng tiên Mùa Xuân trở về để kịp khoe sắc hương.

16 Điều tâm niệm trong cuộc đời làm người mà bạn luôn tu tập làm theo

1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.

2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là giả dối, dối trá.

3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự cao tự đại.

4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen ghét, ghen tỵ.

5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.

6. Tỗi lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu, bất trung.

7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty.

8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên khi đã từng bị vấp ngã.

9. Phá sản lớn nhất của đời người là Tuyệt vọng.

10. Tài sản lớn nhất của đời người là Sức khỏe và Trí tuệ.

11. Món nợ lớn nhất của đời người là Tình cảm.

12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

15. Thành công lớn nhất của đời người là không làm khổ người khác.

16. Hạnh phúc lớn nhất đời người là đem niềm vui đến cho mọi người.

 

Thơ năm 2011 Tân Mão:

Tiễn “Đông chí” đón “Xuân về”

Mong sao năm nay Tân Mão
Nhiều cái mới, cơ hội mới
Khó khăn thách thức vẫn vượt qua
Như truyền kỳ “Bát tiên quá hải”.

Đường đi mới, thấy chân trời sáng
Phía cuối đường hầm, bóng tối mờ dần
Sau những ngày lao động nghiên cứu miệt mài
Sẽ là tiền tài, lộc phát, niềm vui thành quả.

Năm mới đến, Đông sắp tàn, Xuân sắp về
Lòng này hướng tới Niềm tin “Ất Thái Lai”
Bao công sức quyết giữ gìn
Anh em đoàn kết quyết tiến lên Thắng lợi !

Đầu năm, Đông Chí – Tân Mão 2011.

我希望今年茅挞嗯
新事物,新机会
挑战依然克服
由于公共电视,“第一蝙蝠的习俗。“

新航线,看到明亮的视野
该隧道的尽头,消失在黑暗中
经过几天的辛勤劳动研究
将金钱,财富播放,娱乐性能。

新的一年,东方印染,明年春天
信托目的是请“佚来泰
包括保全工作
兄弟俩决定搬到团结的胜利!

今年早些时候,冬至谈呒熬2011年。

 

Chúc tết Xuân Canh Dần, 10/1/2010:

image

 

Mong Xuân Kỷ Sửu sớm trở về , 26/1/2009:

image

 

image

image

image

Bài thơ không nhan đề Tặng thầy cô giáo nhân ngày 20 – 11


Em vẫn nhớ những ngày cuối thu.

Mùi hoa sữa trên phố ngào ngạt hương.
Nhớ những ngày này, ngày nhà giáo Việt Nam
Bài “Công Cha, nghĩa Mẹ, ơn Thầy” vẫn như văng vẳng bên tai.

Dẫu bây giờ em mới biết làm chút thơ.
Đọc chữ O, viết chữ số 0 Cô dặn phải tròn trĩnh.
Mà sao khó viết lên lời !
Lỗi tại mùa hoa phượng, tiếng ve kêu.

Mải ruổi rong chơi nên chẳng thuộc lời Thầy Cô dặn.
Dường như Thầy Cô già đi mấy tuổi
Đến khi chúng em hiểu điều đơn giản ấy.
Cả cuộc đời Thầy Cô dõi bóng theo bước chúng em…

 

Lại những tháng ngày này

20.11 ngày để chúng em nhớ đến

Bao công lao âm thầm của các Thầy các Cô.

 

Kính chúc Thầy Cô luôn mạnh luôn khoẻ,

Gìn giữ Văn Hoá Việt như gương sạch sáng trong

Cho biết bao thế hệ Việt muôn đời.

 

Người sáng tác:
Tiến sĩ Vi sinh Lê Toàn Thắng
Tiến sĩ  Công nghệ thông tin

Vai trò của Tướng Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV


Hoàng Anh Tài

Tam quan đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xí

(xã Nghi Hợp, Nghi Lộc, Nghệ An). Ảnh: Thảo Nguyên

Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (1379-1465) sinh quán tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Trong cuộc đời 69 năm của Cương quốc công thì đã có 60 năm Ngài gắn bó với sự nghiệp triều Lê sơ, từ khi còn là một cậu thiếu niên đến lúc trở thành một công thần, rường cột của triều đình.

Nói về Nguyễn Xí, vua Lê Thánh Tông từng có nhận xét: “Nguyễn Xí: Khí chất cứng cỏi to tát, tính vốn trầm hùng, giúp Cao Hoàng khi mở nước trăm trận gian nan. Giúp Tiên khảo lúc thủ thành một lòng phò tá. Trong ngoài hết chức phận tướng văn, tướng võ, trước sau giữ trọn tiết làm tôi, làm con. Giữ mình có đạo hồn nhiên như viên ngọc không lộ sáng. Nghiêm sắc mặt ở triều, lẫm liệt như thanh kiếm mới tuốt. Các quân đều tưởng mộ phong thái, bốn biển đều trông thấy uy danh. Tiên đế mất trong khi đi tuần phương Nam, người ân cần nhận chiếu ký thác. Ta lên ngôi như mặt trời mới mọc, người bày tỏ hết mực mưu mô giúp rập. Tôn miếu xã tắc được yên vững, trung châu man di đều thuần phục…”(1)

Cùng với những công lao to lớn trên bình diện quốc gia đã được lịch sử dân tộc ghi nhận, Nguyễn Xí còn có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành nên nhiều làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ và trên địa bàn tỉnh Nghệ An ở thế kỷ thứ XV. Phạm vi bài báo này xin đề cập tới: Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành làng xã ở Nghệ An.

Ngay sau ngày đất nước đại định, triều Lê sơ đã thực thi việc bình xét công trạng đi liền với ban cấp lộc điền cho hoàng thân, quốc thích và các khai quốc công thần – những người đã có nhiều công lao giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, giải phóng đất nước. Việc làm này của Lê Lợi và vương triều Lê sơ còn nhằm gắn chặt trách nhiệm của quan lại đối với triều đình phong kiến trung ương tập quyền, đang là xu thế tiến bộ bấy giờ.

Cũng như nhiều vị khai quốc công thần thời Lê sơ, Nguyễn Xí đã được triều đình ban thưởng hàng nghìn mẫu ruộng lộc điền, mà phần lớn là thế nghiệp điền – loại ruộng đất được quyền sử dụng vĩnh viễn.

Tuy gia tộc Nguyễn Đình không còn lưu giữ được các sắc chỉ của triều Lê ban cấp ruộng đất cho Nguyễn Xí, nhưng nội dung Di huấn của Nguyễn Xí hiện còn lưu tại nhà thờ, gia phả dòng họ Nguyễn Đình ở Nghi Hợp và một số thư tịch cũ đã cho ta biết cụ thể số ruộng lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 5.135 mẫu ở rải rác từ Hải Dương đến Nghệ An, Hà Tĩnh, bao gồm 6 trấn, 25 huyện, 93 xã(2). Trong đó, tại trấn Nghệ An (bao gồm địa bàn hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), lộc điền của Nguyễn Xí có cả thảy 1009,5 mẫu, được phân bổ trên địa bàn của các phủ: Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và 5 huyện: Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương và Thiên Lộc.

Cùng với việc xác nhận số đất đai được ban cấp, Di huấn của Nguyễn Xí cũng nhắc nhở trách nhiệm của con cháu trong việc ghi nhớ công lao của tiền nhân: “Vua ra sắc lệnh ban cho Ta được hưởng ruộng đất lộc điền và Ta mới tương tậu thêm một số ruộng đất ở các xứ, phủ, huyện xã đều đặt làm sản nghiệp vĩnh viễn. Nay chúng mày được hưởng sự giàu sang, nhà đẹp, ruộng đất, nên nhớ lại khi Ta khó nhọc phát bụi, chặt gai. Thấy cảnh trí, ca nhi, vũ nữ, nên nghĩ đến lúc Ta chịu khổ gối gươm, nằm đất(3)

Ngoài hàng ngàn mẫu “lộc điền” được ban cấp, số đất ruộng do Nguyễn Xí tương tậu (mua) và tổ chức khai khẩn thêm còn có trên 765 mẫu, tập trung chủ yếu vùng xung quanh làng Thượng Xá quê hương Ngài.

Do bận việc quân cơ, triều chính, Nguyễn Xí không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình mà giao chủ yếu cho con cháu quản lý và thu hoa lợi. Thông thường mức địa tô mà người cày ruộng lộc điền phải nộp cho Nguyễn Xí trong khoảng 1/3 sản lượng, sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cần thiết. Mức thu này bằng, hoặc thấp hơn qui định của nhà nước; những năm mất mùa thì được miễn giảm tùy theo tình hình thực tế của mùa vụ.

Tuy nhiên, theo thời gian và sự biến động của lịch sử, số ruộng đất của Nguyễn Xí cũng bị thất thoát dần. Trong đó, một phần bị tư nhân hóa, một phần bị cường hào các địa phương chiếm đoạt; thậm chí do một số con cháu quá đói, buộc phải bán “ruộng họ”. Do đó, trong thực tế mức hoa lợi mà Nguyễn Xí cũng như con cháu thu được chỉ ở mức nhất định. Nhưng, việc khai thác, sử dụng ruộng đất của Nguyễn Xí đã góp phần đáng kể vào công cuộc mở mang kinh tế và quá trình hình thành nên nhiều làng xã ở nước ta trong thế kỷ thứ XV, mà chỉ tính riêng trên địa bàn Nghệ An thì đã có hàng chục làng xã thuộc 4 phủ, 5 huyện. Đây là một trong những đóng góp quan trọng nữa của Cương quốc công Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình rất cần được ghi nhận.

Theo Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở xã Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết: Nguyễn Xí đã giao cho Nguyễn Trọng Đạt (người con thứ 10) cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chàm, gồm các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp tiến hành khai khẩn đất đai tại vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc. Kết quả công cuộc khai khẩn ruộng đất đã hình thành nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng (nay thuộc địa bàn xã Nghi Hương và xã Nghi Thu, (thị xã Cửa Lò). Số hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử tử tế như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi những làng xã mới khai khẩn. Quá trình lao động và chung sống lâu đời, những nhóm người Chăm đó đã hoàn toàn hòa hợp với nông dân ngưòi Việt(5).Ngoài ra, Nguyễn Xí còn sử dụng bọn hàng binh nhà Minh, như Nguyễn Sĩ, Nguyễn Tiếp cùng dân địa phương khai hoang lập ra làng Phú Ích (nay thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc). Di huấn của Nguyễn Xí cũng ghi lại điều đó.

Đề cập đến vấn đề này, học giả người Pháp Hippolyte Le Breton trong cuốn An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh) được Tập san Đô thành hiếu cổ xuất bản lần đầu vào năm 1936 đã viết những dòng, như sau:

“Nguyễn Xí được cấp lãnh địa cả miền duyên hải nằm giữa Cửa Lò và Cửa Hội (Hội Thống) ngày nay. Trong số các đầm phá này có Bàu Ó, cái bàu mà theo các sách Dư địa chí thì gọi là hồ nước biển. Dọc theo bờ Bàu Ó, Nguyễn Xí lập nên làng Bàu Ó mà đất đai thì do một đám tù binh người Tàu mà Nguyễn Xí bắt được trong các cuộc chiến tranh ở An-Tĩnh (1418-1428) khai khẩn. Trên những đầm phá khác, Nguyễn Xí lập ra rất nhiều làng. Đất đai mới nổi lên đều do những người Chăm khai khẩn. Những người này do Nguyễn Xí bắt được trong cuộc đánh nhau với nước Chăm Pa năm Thái Hòa thứ 3, đời Nhân Tôn, tức năm Ất Sửu (1445)”.(5)

Tương truyền Làng Long Trảo (Móng Rồng), xưa thuộc làng Khánh Duệ, (nay thuộc xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc), là nơi được Nguyễn Xí chọn làm địa điểm tổ chức lễ mừng công sau ngày đất nước đại định. Lễ hội được tổ chức vào ngày mồng 01 tháng Hai âm lịch. Hàng năm đến ngày này, quan khách và con cháu khắp mọi miền đất nước kéo về đây dự lễ. Để có hàng hóa phục vụ lễ hội, Nguyễn Xí đã cho cưới chợ Sơn và giao làng thu thuế chợ nộp cho họ Nguyễn Đình mỗi năm 6 quan để góp vào việc tổ chức lễ hội mừng công. Chợ Sơn ra đời từ đó, mà người có công cưới chợ là Cương quốc công Nguyễn Xí.

Về sau, vào ngày 16 tháng 6 âm lịch hàng năm, tại chợ Sơn, dòng họ Nguyễn còn tổ chức tiểu lễ (lễ nhỏ) để tri ân những người có công với nhà Lê, với Nguyễn Xí, nhưng chưa được ban thưởng mà đã chết. Tại lễ này, Nguyễn Xí hoặc con cháu thay mặt Ngài tạ lỗi với những oan hồn đã bỏ xác trong các cuộc binh đao…Việc làm này, nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đó là sự biểu hiện của tình cảm “uống nước, nhớ nguồn“ – tấm lòng nhân văn cao cả của Cương quốc công Nguyễn Xí và gia tộc Nguyễn Đình.

Nguyễn Xí có 15 người con trai, 8 người con gái. Tất cả 15 người con trai đã noi gương thân phụ, đều hết lòng trung quân, ái quốc; trong 15 người thì có 7 người giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình và 8 người điều khiển chỉ huy 8 đạo quân trấn thủ các vùng xung yếu của nước Đại Việt. Nhiều người trong số họ đã được phong tước Hầu, hoặc Quận công; có người được phong làm Quốc công. Còn 8 người con gái đều lấy chồng thuộc các gia đình quí tộc. Quá trình khai thác và sử dụng ruộng đất của con cháu Nguyễn Xí cũng góp phần mở mang kinh tế và hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn nước ta.

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết: Thái úy Nguyễn Sư Hồi – con trai cả của Cương quốc công Nguyễn Xí là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành làng Vạn Lộc – tiền thân của phường Nghi Tân, (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài ngót 5 cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc kinh dinh của Nguyễn Sư Hồi ở thế kỷ thứ XV.

Tương truyền: Chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng Vạn Lộc. Đến thế kỷ thứ XIX đã trở thành một trong số 10 chợ lớn của huyện Chân Lộc(6).

Đền thờ Nguyễn Sư Hồi trên địa bàn phường Nghi Tân vẫn trường tồn đến tận ngày nay cùng đôi câu đối ca ngợi công đức của Người “một thuở mang gươm đi mở cõi”:

“Dẹp giặc, yên dân, nghĩa khí ngàn năm ghi nhớ,

Khai cơ, lập nghiệp, công ơn muôn thuở lưu truyền.”

Trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, dọc sông Mai Giang đến núi Tùng Lĩnh có một giải đất với diện tích trên 5 mẫu, dân địa phương gọi là cánh đồng Dần. Truyền rằng do Ngọc Linh Vệ quản lệnh Nguyễn Đình Dần (con thứ 13 của Cương quốc công Nguyễn Xí) khai phá từ thế kỷ thứ XV(7).

Có thể dẫn ra nhiều ví dụ nữa cho thấy lộc điền và các loại đất ruộng của Nguyễn Xí và dòng họ Nguyễn Đình đã tạo những tiền đề vật chất cho việc hình thành nên nhiều làng xã trên địa bàn Nghệ An, góp phần quan trọng vào việc mở mang kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, đưa Nghệ An từ vùng đất trại, từng bước hòa nhập vào sự phát triển chung của quốc gia Đại Việt.

Tài liệu tham khảo:

(1) Lê Quí Đôn Toàn tập, tập III (Đại Việt Thông sử) Nxb KHXH, H.1978, tr.181.

(2) Đỗ Danh Gia, Luận án tốt nghiệp khoa Sử, K11, Hà Nội, 1976.

(3) Di huấn của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí.

(4) Lịch sử Nghệ – Tĩnh, Tập I, Nxb Nghệ Tĩnh, 1984, tr.181.

(5) Hippolyte Le Breton, An – Tĩnh cổ lục (Le vieux An – Tĩnh), Nxb Nghệ An, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005; tr.99.

(6) Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh – quá trình hình thành và phát triển, tr.24.

(7) Hoàng Anh Tài, Quỳnh Xuân xưa và nay

Nguồn: Tập san KHXH &NV Nghệ An

Hồi ký tuỳ bút–một ngày cuối năm 2009 nói về chữ “TẾT” của Dân tộc Việt Nam


Người italia, người tây ban nha, người Đức và người Pháp… mà trong cuộc đời tôi có dịp sống làm việc cùng họ ở liên hiệp quốc, FAO.
Họ đều hiểu văn hóa người Việt và họ đều nói rất rõ “Vietnamese new year” hoặc đơn giản là “Tết“.
Có nhiều điều lý giải cho sự đồng hóa “chiếm” lĩnh văn hóa, xóa bỏ lịch sử của nhiều Triều đại để làm cho các thế hệ sau nhầm lẫn.
(ví dụ: 40 – 50% thế hệ trẻ việt đều nói rằng họ xuất thân là gốc người hoa vì họ cho rằng họ biết lịch sự trung quốc tốt hơn lịch sử Việt nam. Vậy mà tôi đã từng đặt ra nhiều câu hỏi họ đã không trả lời được:
1. Lúa gạo, Trà ẩm thực ngày nay là những sản vật có nguồn gốc từ đất nước Trung hoa ?
2. Những ngày lễ hội như: 1/1, 3/3, 5/5, 7/7, 9/9,11/11 là những ngày gì ? chúng có liên quan gì với nền văn minh “Lúa nước” ?
3. Bạn có biết người Trung quốc cũng có những ngày lễ đó mặc dù không phải là thuộc nền văn hóa “Lúa nước“, các bạn biết tại sao không ?

Những thứ đó chưa bao giờ có nguồn gốc từ người Trung Quốc, mắc dù vậy họ vẫn cố công tạo dựng hình ảnh để thế giới tưởng nhầm rằng những thứ tuyệt tác đó là nguồn gốc của họ, làm cho Trung quốc có cái bong bóng vĩ đại.

Bôi nhọ, nói xấu Việt nam để Thế giới nghĩ rằng Việt nam nhỏ bé, không có nguồn gốc to đẹp, phụ thuộc vào “Bành trướng Bắc Kinh”, những kẻ chỉ giỏi mị dân, nói láo và làm nhiều điều độc ác, thất đức, sằng bậy.

Tóm lại, những câu hỏi trên thật đơn giản và thật khó bởi vì các nhà sử học, môn học lịch sử việt nam lại không viết một cách thực tế như vậy để con cháu người Việt hiểu mà chỉ toàn nêu sự kiện, văn học thì toàn đưa ra những lý giải thích dung dị khó chấp nhận làm cho văn hóa và sử học người Việt ngày càng mờ nhạt lẫn lộn với lịch sử Trung quốc, mặc dù 2 lịch sử, văn hóa hoàn toàn khác nhau.

Ngày nay, chúng ta lại đi cãi nhau về chuyện cái nào có trước, cái nào có sau. Hay phong tục đó là của người Trung quốc, văn hóa đó là của người Việt…  Rồi chuyện người Trung quốc làm sằng làm bậy ở đảo Hoàng xa, Trường xa, đưa mấy ngôi mộ giả theo kiểu kế “72 ngôi mộ giả của Tào Tháo”  rồi bảo với thiên hạ là ngôi mộ cổ của tổ tiên họ mới mọc ra ở đảo – lố bịch quá, bởi Trung quốc còn không có “ngày quốc giỗ” lấy đâu ra cái tôn quí những ngôi mộ cổ của tổ tiên, họ chỉ giỏi đào bới  mộ tổ tiên lên để lấy các vật cổ, giá trị.

Tôi rất hạnh phúc là người Việt, bởi vì đơn giản tôi có gốc tích người Việt cổ xưa, cũng thuộc 1 dòng họ “Đế vương” , tự hào và luôn cố gắng để thể hiện mình là con cháu Đế vương. Điếu đó cho thấy tôi hơn hẳn suy nghĩ của người khác cho dù đó là người Việt hay họ tự cho rằng họ là người Trung hoa.

Và cũng như bao người dân việt khác, toàn thể dân Việt tự hào hơn các dân tộc khác (kể cả người trung quốc hiện đại) vì chúng tôi là dân tộc có ngày thờ cúng tổ tiên “Ngày giỗ tổ“.

 (Các nước trên Thế giới, người Trung quốc và các dân tộc khác đông là thế, văn minh là vậy nhưng không có nổi ngày đó).

Tôi nói tất cả những điều này để hiểu đơn giản rằng:
– Tết cổ truyền của Dân tộc Việt nam hoàn toàn khác với tết trung quốc.
– Tết của người Việt có trước cả lễ hội của người Trung Quốc chỉ bởi đơn giản Lịch âm được tính theo lịch mặt trăng. Lịch mặt trăng được tính theo những ngày mùa làm ruộng của nền văn minh “Lúa nước“, Trung quốc không thuộc nền văn minh này, nên hiển nhiên họ không biết gì về lịch âm.

– Có trong sử sách Chiến tranh 1000 năm bắc thuộc, nhà Hán đã học được ở Cha ông người Việt chúng ta có ngày Tết dân tộc, để nhớ ơn công đức tổ tiên.
Từ đó người Trung quốc mới có những ngày lễ “Tết người trung quốc“.

– Thậm chí, những ngày tết nguyên tiêu hay tết thượng nguyên, là những ngày lễ được mùa của nền văn hóa “Lúa nước“, người Trung quốc cũng đem áp dụng và chép sử thành ngày lễ do họ nghĩ ra để ngụy tạo văn hóa. Sử gia Việt nam lại viết thành những tích truyện làm thế hệ chúng ta không thấy rõ giá trị nhân văn, đúng đắn và coi thường văn hóa cha ông mình.

– Tết của người Trung quốc tại sao không được nhà Hán gọi với tên như kiểu người Việt “Tết cổ truyền Trung Hoa” ? bởi vì người Trung quốc có nhiều dân tộc là gốc người Việt, và vì họ đón tết theo phong vị cổ truyền của người Việt, do đó Nhà Hán đã không thừa nhận ngày cuối âm lịch của họ là “ngày tết cổ truyền của người Trung quốc”.

 Trung quốc sợ mang tiếng là phụ thuộc vào văn hóa của người Việt.

– Nói về chiến tranh biên giới việt nam và trung quốc từ 1979, không có một người lính nào có gốc tích từ sông trường giang đổ xuống phía nam tham gia cuộc chiến, vì sao vậy ? thật đơn giản: nhà cầm quyền Bắc kinh quá biết những người đó có gốc Việt, họ sẵn sàng đảo chính hoặc không phục tùng vì lẽ nào họ giết hại chính dân tộc mình. Cũng may là chúng ta đã ngừng được chiến tranh vì, Người Việt cha ông là những người vĩ đại và yêu tổ quốc, hiểu được sử nước Việt.

– Năm nay là năm thứ 4 tôi dậy con tôi về sử Việt nam, con tôi đã thích thú với việc đọc 4 tập “Sử ký” của Cha tôi tặng tôi hồi còn nhỏ, và tôi cũng hiểu rằng những cuốn đó có từ thời xa xưa, có lẽ có từ thời dòng họ “Vua cha Lê” .

Trên tất thẩy mọi thứ mong ước:

Một ngày đầu xuân, chúc toàn thể dân Việt “Hạnh phúc, An khang, thịnh vượng”, chúc các bạn trên toàn thế giới hiểu người Việt và cũng sẽ được hưởng hạnh phúc, thái bình như những người con đất Việt.

 Mùa xuân và Tết nguyên đán “Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam”.

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 

===========================================================================
Italians, Spaniards, Germans and French … that in my life have the opportunity to work with them living in United Nations, FAO.
They understand Vietnamese culture and they all say very clearly “Vietnamese new year” or simply “New Year” or Tet.
There is much justification for the assimilation of “constitute” cultural domains, delete the history of many Dynasty to make the next generation confusion.
(e.g: 40-50% the young Vietnamese have said that they came body is the root of chinese because they think they know Chinese history better than history Vietnam.
So I have had many questions they posed were not answered:    
1. Rice, tea production materials are derived from Chinese country?
2. The festivals such as: 1/1, 3/3, 5/5, 7 / 7, 9 / 9, 11/11 on what’s date ? they related to civilization “Rice water”?
3. You also know the Chinese holidays, although it is not the culture of “Rice water“, do you know why? )

In short, these questions are simple and very difficult because historians, historical subjects Vietnam not write such a practice to the Vietnamese children out only if all events, literature shall make all reasonable explanation difficult to accept locally made and cultural historian of Vietnamese increasingly faint confused with Chinese history, although the two different history, different cultures.

Today, we take an argument about which one is first, which one is later. Tradition of the Chinese, the culture of the Vietnamese…

I am very happy that the Vietnamese, because I have a simple analysis of Vietnamese ancient origin, and a family of “kingly” proud and always trying to express themselves as descendants kingly. This shows that I think superior to others even the Vietnamese people or they themselves think they are Chinese.

And how well as other Vietnamese people, all Vietnamese people are proud than other peoples (including Chinese modern) because we are a nation on ancestor worship “The King Day on the hero. (Chinese people and peoples that almost no).

I say all this is simple to understand that:
– New Year traditional Vietnamese people completely different  Chinese new year.
– Year of the Vietnamese is the first festival of the Chinese Lunar simply just by the lunar calendar. Lunar calendar are the days of the season farming civilization “Rice water“, not the Chinese civilization is so obvious they do not know about lunar calendar.

– The war in history in 1000 in the north, the Han Dynasty have learned in his father we have on the Vietnamese Tet nation, grateful to the ancestral faith.
Since then the Chinese have holidays “Year of China“.

– Even the original title on Tet or Tet Thuong Nguyen, holidays are the season of culture “Rice water“, the Chinese also provide application and copy of the holidays because they think that in order to disguise the literature chemical. Vietnam historians write the story of how systems analysis we can not clearly see the value of humanity and right and generally considered his father his culture.

– Why Year of China in the Han Dynasty is not known to the Vietnamese-style names like “traditional Chinese New Year“? because many Chinese ethnic groups of Vietnamese origin, and because they welcomed the New Year are traditional style of the Vietnamese, so Han Dynasty did not recognize the end of their lunar calendar “Year of the Traditional Chinese country“, they bring fear is dependent on the free culture of the Vietnamese.

– Talking about war borders Vietnam and China since 1979, a soldier does not have the original area from the Yangtze River down south join the war, why so? simple: the authorities said Beijing so that the original Vietnamese, they are ready coup or fail to obey reason they killed the peoples themselves. Fortunately, we have stopped the war because, Vietnamese people his father and the great love of country, understand the history of Vietnam.

– This year the 4th I use up my child in Vietnam, my children enjoy reading the fourth episode “Histories” of the gift I asked my father as a child, and I also understand that from the book ancient, perhaps even longer time before the family “Father of King Le“.

On everything:
One day in spring, wish all of Vietnam “Happiness, lucky, prosperity, wish you the world understand the Vietnamese and will enjoy happiness and peace as children Vietnam.

TET, SPRING and Vietnamese New year.

HAPPY NEW YEAR

Lịch làm việc tại THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI


 

Giờ mở cửa

NỘI QUI CƠ QUAN

  1. Mọi người đến liên hệ với cơ quan phải xuất trình giấy tờ và theo sự hướng dẫn của nhân viên bảo vệ.
  2. Tôn trọng tài sản của thư viện như: Nhà cửa, sách báo và các rtang thiết bị, không tự tiện sử dụng hệ thống thông tin, điện, nước.
  3. Nghiêm cấm mang các chất nổ, chất dễ cháy và khí vào thư viện.
  4. Chú ý tắt động cơ xe máy, tôn trọng sự yên lặng của các bạn đọc khác.
  5. Khi đọc, mượn sách báo ở các phòng chuyên môn phải theo sự hướng dẫn của cán bộ thư viện, không được tự tiện mang sách, báo ra khỏi các phòng đọc nếu không được sự đồng ý của cán bộ thư viện.
  6. Thực hiện nếp sống văn minh giữ trật tự, vệ sinh chung, không hút thuốc lá trong thư viện.
  7. Giờ làm việc hàng ngày: Từ ngày 01/01/2012, Thư viện Thủ đô Hà Nội thực hiện giờ mở cửa các phòng Phục vụ bạn đọc như sau:

Lịch làm việc từ Thứ 2 đến Thứ 6

Tên Phòng

Giờ mở cửa

Phòng Báo – Tạp chí

Sáng: 08h00 – 12h00

Chiều: 13h30 – 17h00

Phòng Khiếm Thị

Phòng đọc tự chọn

Phòng đọc Thiếu nhi

Phòng mượn Thiếu nhi

Phòng mượn người lớn

Từ 08h00 đến 19h30

Phòng đọc Tổng hợp – Ngoại văn

(Chiều thứ 5 của tuần thứ nhất và tuần thứ ba hàng tháng nghỉ vệ sinh kho sách)

Lịch làm việc ngày Thứ 7

Tên Phòng

Giờ mở cửa

Phòng Báo – Tạp chí

Sáng: 08h00 – 12h00

Chiều: 13h30 – 17h00

Phòng mượn người lớn

Phòng Thiếu nhi (đọc và mượn)

Phòng đọc Tổng hợp – Ngoại văn

Các phòng phục vụ nghỉ ngày chủ nhật.

THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THỂ LỆ PHÒNG LÀM THẺ THƯ VIỆN HÀ NỘI

Gồm 3 loại thẻ:

  • THẺ ĐỌC NGƯỜI LỚN
  • THẺ MƯỢN NGƯỜI LỚN
  • THẺ THIẾU NHI

    Ngày làm thẻ: thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bẩy.

    (Thẻ được cấp trong ngày)

    Thời gian:

    • Sáng 8h30 đến 11h00.
    • Chiều 13h30 đến 16h00.

    THẺ ĐỌC NGƯỜI LỚN

    Đối tượng: Các em học sinh PTTH trong thành phố Hà Nội. Sinh viên các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; Cán bộ công nhân viên đang công tác tại các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh, lực lượng vũ trang trên địa bàn thành phố, người lao động và người nghỉ hưu tại Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Chứng minh thư nhân dân. (Công an T.p Hà Nội cấp). Nếu người ngoại tỉnh phải có giấy chứng nhận đang tạm trú tại Hà Nội.
    • 2 ảnh 3 x 4 cm.
    • Lệ phí 20.000đ/ thẻ/năm.

    THẺ MƯỢN NGƯỜI LỚN

    Đối tượng: Tất cả công dân từ 16 tuổi trở lên đang sống và làm việc thường xuyên tại Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Chứng minh thư nhân dân. (Công an T.p Hà Nội cấp). Nếu người ngoại tỉnh phải có giấy chứng nhận đang tạm trú tại Hà Nội.
    • Lệ phí: 40.000đ/ thẻ/năm.
    • 02 ảnh 3x4cm
  • Tiền cược sách: 100.000đ/thẻ.
  • Thẻ Mượn người lớn: sử dụng cho cả phòng đọc và phòng mượn người lớn

    THẺ THIẾU NHI

    Đối tượng: Các em học sinh PTTH, THCS và tiểu học trong Thành phố Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Sổ hộ khẩu (phô tô).
    • 02 ảnh 3x4cm
  • Lệ phí: 20.000đ/thẻ/năm
  • Cược sách thẻ thiếu nhi: 30.000đ/thẻ.

Chú ý: Đề nghị bạn đọc giữ biên lai tiền cược sách cẩn thận. Nếu mất thư viện sẽ không trả lại tiền cược đó. Khi đổi thẻ không có biên lai cũ phải nộp lại tiền cược sách như làm thẻ mới.

Hà Nội có những tên gọi nào khác?


Thăng Long – Hà Nội là kinh đô lâu đời nhất của Việt Nam. Kể cả những tên gọi chính thức và không chính thức, theo dòng lịch sử, Hà Nội có rất nhiều tên gọi khác nhau…

Thăng Long, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, được ghi trong Đại Việt sử ký, không chỉ là “Rồng bay lên”, mà còn có nghĩa “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đây là một tên gọi hoàn toàn do người Việt sáng tạo.

Thăng Long – Hà Nội là Kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tùy (581-618), Đường (618-907) của phong kiến phương Bắc. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long – Hà Nội có nhiều tên gọi. Chúng tôi xin chia các tên gọi ấy thành hai loại: Chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:

Tên chính quy

Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:

1. Long Đỗ.

– Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 đắp Thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là Thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời Kinh đô về đất An Tôn, Phủ Thanh Hóa. Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời Kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có Núi Tản Viên, có Sông Lô Nhị (tức Sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi”. Điều đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

2. Tống Bình.

– Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tùy (581 – 618), Đường (618 – 907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống Bình.

3. Đại La.

– Đại La hay Đại La Thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh đô. Theo kiến trúc xưa, Kinh đô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm Thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi Vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La Thành. Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La Thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là Thành Đại La. Trong Chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “… Huống chi Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất…”

4. Thăng Long.

– Về ý nghĩa tên gọi Thăng Long, chúng ta vẫn thường giải thích rằng: Thăng là bay lên, Thăng Long tức là rồng bay. Thực ra, ở trong Hán tự có nhiều cách viết và giải thích chữ “thăng”. Với cách viết thứ nhất, chữ “thăng” có nghĩa là “đi lên cao, tiến lên”, bên cạnh nghĩa đầu tiên của nó là cái thưng, một dụng cụ đo lường dung tích (từ văn học: “đẩu thăng: đấu thưng”). Cách viết thứ hai: có chữ Nhật đặt lên trên chữ Thăng mang ý nghĩa là Mặt trời lên cao và cũng có nghĩa là “đi lên cao”, như chữ “Thăng” ở cách viết thứ nhất. Thăng Long, Kinh đô mới của Lý Công Uẩn được ghi trong Đại Việt sử ký, với chữ “Thăng” ở bộ Nhật, và do đó bao hàm hai nghĩa: “Rồng bay lên”, và “Rồng (bay) trong ánh Mặt trời lên cao”. Đặt tên Thăng Long với cách viết như trên, vừa ghi lại sự kiện Vua Lý Thái Tổ thấy rồng xuất hiện trên đất được chọn làm Kinh đô mới, đồng thời có sức mạnh kỳ diệu và tốt lành của giống Rồng, rất gần gũi với dân Việt, vẫn tự cho mình là “con Rồng cháu Tiên”.

Có điều đáng chú ý là các từ điển thông dụng Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải (Từ nguyên – xuất bản 1947, Từ hải – xuất bản 1967, chưa rõ những kỳ xuất bản sau có khác không), không thấy ghi từ Thăng Long ở cả 2 dạng viết chữ Thăng. Riêng Trung văn đại từ điển (tập 5, Đài Bắc 1967, trang 208), ở chữ “Thăng” là “Thưng” dạng viết thứ nhất nói trên, có từ kép “Thăng Long” nhưng là danh từ chung và được giảng là “rồng bay lên”. Như vậy, có thể thấy tên gọi Thăng Long với cách viết ghi trên sử cũ là một địa danh hoàn toàn do người Việt sáng tạo.

5. Đông Đô.

– Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô” Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sứ thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô”.

6. Đông Quan.

– Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của nước ta, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở Thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408) Giản Định Đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh Thành Đông Quan thì chắc phá được chúng” .

7. Đông Kinh.

– Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427),Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở Thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15 Vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là Thành Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi Thành Thăng Long là Đông Kinh”

8. Bắc Thành.

– Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ – Quang Trung 1787 – 1802), vì Kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc Thành (Nguyễn Vinh Phúc – Trần Huy Bá – Đường phố Hà Nội).

9. Thăng Long.

– (Thịnh vượng lên). Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi Kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyển làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong dân gian cả nước, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ “Long” là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà Vua, nay Vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu – Chủ biên. Lịch sử Thủ đô Hà Nội). Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó Vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ Hoàng thành cũ, vì Vua không đóng đô ở Thăng Long, mà Hoàng thành Thăng Long lại rộng lớn quá.

10. Hà Nội

– So với tên gọi Thăng Long với ý nghĩa chủ yếu có tính cách lịch sử (dù chỉ đưới dạng truyền thuyết: ghi lại sự kiện có rồng hiện lên khi Vua tới đất Kinh đô mới), thì tên gọi Hà Nội có tính cách địa lý, với nghĩa “bên trong sông”. Nhưng nếu xét kỹ trên bản đồ thì chỉ có Sông Nhị là địa giới Tỉnh Hà Nội cũ về phía Đông, còn Sông Hát và Sông Thanh Quyết không là địa giới, như vậy có bộ phận Tỉnh Hà Nội không nằm bên trong những con sông này. Và khi Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, tên gọi lại càng không tương xứng với thực địa…

Trung văn đại từ điển, tập 19 (Đài Bắc- 1967) cho biết Hà Nội là tên một quận được đặt từ đời Hán (202 Tr.CN – 220 S.CN) nằm phía Bắc Sông Hoàng Hà. Tên Hà Nội từng được ghi trong Sử ký của Tư Mã Thiên (hạng Vũ Kỷ), kèm lời chú giải: “Kinh đô đế vương thời xưa phần lớn ở phía Đông Sông Hoàng Hà, cho nên gọi phía Bắc Sông Hoàng Hà là Hà Ngoại”. Rất có thể Minh Mạng đã chọn tên gọi Hà Nội, một tên hết sức bình thường để thay tên gọi Thăng Long đầy gợi cảm, nhưng tên gọi mới Hà Nội này lại có thể được giải thích là “đất Kinh đô các đế vương thời xưa”, để đối phó với những điều dị nghị. Chính cách đặt tên đất “dựa theo sách cũ” đã lại được thực thi, sau này, năm 1888 Thành Hà Nội và phụ cận trở thành nhượng địa của thực dân Pháp, tỉnh lỵ Hà Nội phải chuyển tới Làng Cầu Đơ (thuộc Huyện Thanh Oai, Phủ Hoài Đức), cần có một tên tỉnh mới. Người ta đã dựa vào một câu trong sách Mạnh Tử : “Hà Nội mất mùa, thì đưa dân đó về Hà Đông, đưa thóc đất này về Hà Nội, Hà Đông mất mùa cũng theo phép đó”. Dựa theo câu trên, người ta đặt tên tỉnh mới là Hà Đông, tuy rằng tỉnh này nằm ở phía Tây Sông Nhị, theo thực địa phải đặt tên là Hà Tây mới đúng.

Tên không chính quy

Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ… dùng để chỉ Thành Thăng Long – Hà Nội.

1. Trường An – (Tràng An) :

Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 Tr. CN – 8 S.CN) và Đường (618 – 907). Do đó, được các nhà Nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ Kinh đô. Từ đó, cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ Kinh đô Thăng Long.

Thí dụ:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.

Rõ ràng chữ Trường An ở đây là để chỉ Kinh đô Thăng Long.

2. Phượng Thành (Phụng Thành)

-Vào đầu Thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú Nôm rất nổi tiếng: Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa Xuân ở Thành Phượng).

Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa Xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ Thành Thăng Long.

3. Long Biên.

– Là nơi quan lại nhà Hán, Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều (Thế kỷ III, IV, V, và VI) đóng trụ sở ở Giao Châu (tên nước ta thời ấy). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long – Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 – 1877), ghi lại bài thơ của Vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

Long Biên tài hướng Phượng Thành hồi Triệu đối do hy vĩnh biệt thôi!


Dịch nghĩa:

Nhớ người vừa tự Thành Long Biên về tới Phượng Thành Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi vào triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay!


Thành Long Biên ở đây, Vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877, Vua Tự Đức triệu ông về Kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

4. Long thành.

– Là tên gọi tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa – Ngọc Hồi của Vua Quang Trung. Sau chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài “Long Thành quang phục kỷ thực” (Ghi chép việc khôi phục Long Thành).

5. Hà Thành.

– Là tên gọi tắt của Thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai(?)…

6. Hoàng Diệu.

– Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đôi khi trong các báo chí của ta, chúng ta sử dụng tên này để chỉ Hà Nội. (Thành Hoàng Diệu).

Ngoài ra, trong cách nói dân gian còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long – Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ – Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất Kinh Đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ Kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh); Kinh Kỳ, tên này nói đất có Kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến); Và đôi khi chỉ dùng một từ như “Ăn Bắc, mặc Kinh”. Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ Kinh đô Thăng Long.

Loại tên không chính quy của Thăng Long – Hà Nội còn nhiều, được người đời sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao… kể ra đây chưa hết…

Theo Wikimapia Việt Nam

Cách sử dụng các dấu câu trong tiếng Việt !


Tài liệu tham khảo bao gồm:
– Ngữ pháp tiếng Việt – NXB Khoa học xã hội – 1983;
– Tiếng Việt thực hành (dùng cho sinh viên không chuyên ngữ) – NXB Giáo dục – 1997;
– Ngữ văn các lớp 6,7,8,9 – NXB Giáo dục – 2006

Dấu câu là một trong những phương tiện ngữ pháp (thay cho ngữ điệu khi nói). Nó có tác dụng làm cho nội dung của câu văn mạch lạc, khúc chiết; ngăn cách các thành phần trong cấu tạo câu.

Dùng dấu câu không chuẩn xác hoặc dùng dấu câu không phù hợp trong văn bản sẽ làm cho câu sai hoặc có nội dung mơ hồ.

Trong tiếng Việt có các dấu câu sau đây:

1. Dấu chấm

Dấu chấm dùng để kết thúc câu tường thuật (câu kể) trên văn bản.
VD: Anh ấy nói rằng: “Sẽ tới một ngày ta đòi nợ non sông!”.

2. Dấu chấm hỏi

Dấu chấm hỏi dùng trong câu nghi vấn (câu hỏi) nhất là trong trường hợp đối thoại.
VD:
– Bạn có biết gì về tình hình Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay?
– Tôi không biết. Còn bạn?

Cần chú ý:
a/ Dấu chấm hỏi có thể dùng trong câu tường thuật, đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị sự nghi ngờ.
VD:
– Chúng ta đã mất Trường Sa (?)
– Chúng ta vẫn còn giữ được một số đảo!

b/ Không dùng dấu chấm hỏi trong trường hợp có từ nghi vấn trong cấu tạo của câu ghép với nghĩa nêu lên một tiền đề cho ý kiến tiếp theo.
VD: Trung Quốc là nước như thế nào, ai cũng biết.

c/ Nếu muốn tỏ thái độ khinh bỉ, mỉa mai, đồng thời hoài nghi thì dùng dấu chấm than và dấu hỏi trong một ngoặc đơn.
VD: Người ta đồn rằng hắn là kẻ lừa đảo (!?).

3. Dấu chấm than

Dấu chấm than thường được đặt cuối câu cảm thán, câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh.
VD:
– Câu cảm thán: Trời! Biển đảo Tổ quốc ta đẹp quá!
– Câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh: Việt Nam ơi xin nắm chặt tay!

Dấu chấm than còn có thể đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị thái độ mỉa mai hay dùng cùng với dấu chấm hỏi trong ngoặc đơn để vừa biểu thị thái độ mỉa mai, vừa hoài nghi.
VD: Hắn tự hào vì người ta không tìm được hắn (!)

4. Dấu chấm lửng

Khi nói, dấu chấm lửng được thay thế bằng từ vân vân. Khi viết cũng có thể dùng từ này (viết tắt “v.v…”) hoặc dùng 3 dấu chấm (…). Dấu chấm lửng dùng để:

a. Đặt cuối câu khi người nói không muốn nói hết ý mình.
VD: Sự thể là vậy nhưng hắn nào có muốn…

b. Đặt cuối đoạn liệt kê khi người nói không muốn liệt kê hết sự vật, hiện tượng,… trong một chủ đề.
VD: Câu trên cũng là 1 ví dụ.

VD khác: Năm nay, các loại rau cỏ như: rau muống, mồng tơi, su hào, bắp cải,… đều lên giá.

c. Đặt sau từ, ngữ biểu thị lời nói đứt quãng.
VD: Tôi… không… còn… đủ… sức… nữa!

d. Đặt sau từ tượng thanh để biểu thị sự kéo dài âm thanh.
VD: Phù… Thế là xong!

e. Đặt sau đoạn biểu thị sự châm biếm, hài hước.
VD: Đẹp trai không bằng… chai mặt.

5. Dấu hai chấm

Dấu hai chấm dùng để:

a/ Liệt kê thành phần vị ngữ của câu đơn có động từ là hoặc trong thành phần vị ngữ có các từ biểu thị sự liệt kê ở sau các từ: sau đây, như sau, để,…

VD: Một số yêu cầu khi viết bài trên diễn đàn là:
– Viết đúng chính tả;
– Trình bày dễ nhìn;
– Không sử dụng các ngôn từ thiếu văn hóa.

b/ Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh cho một phần trước đó

VD: Cầu vồng có bảy màu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.

c/ Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay với lời đối thoại (dùng với dấu gạch ngang)

VD:
Bạn tôi hỏi:
– Cậu rảnh hay sao mà lại tham gia vô mấy cái rắc rối đó?
Tôi đáp:
– Tôi không rảnh lắm nhưng tranh thủ chút thời gian vì tôi thấy mình cần phải làm một cái gì đó cho Hoàng Sa Trường Sa, cho đất nước.

6. Dấu gạch ngang

Dấu gạch ngang dùng để:

a/ Chỉ ranh giới của thành phần chú thích

VD: Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã – một người đã giành cả đời để nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa – sắp tới sẽ phát hành một cuốn sách mới

b/ Đặt trước những lời đối thoại

VD:
– Anh đi đâu thế?
– Tôi đi loanh quanh đây thôi.

c/ Đặt ở đầu những thành phần liệt kê

VD:Thi đua yêu nước để:
– Diệt giặc đói;
– Diệt giặc dốt;
– Diệt giặc ngoại xâm.

d/ Đặt giữa hai, ba, bốn tên riêng, hay ở giữa hai con số ghép lại để chị một diên danh, một liên số

VD: Cầu truyền hình Hà Nội – Huế – TP. HCM đã sẵn sàng.
Văn học Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945 có nhiều tác phẩm đáng để đọc.

e/ Dùng trong trường hợp phiên âm tiếng nước ngoài

VD: Lê-nin, pô-li-me,…

7. Dấu ngoặc đơn

a. Dùng để ngăn cách thành phần chú thích với từ ngữ trong thành phần chính của câu.

VD: Tôi quen anh (rất tình cờ) qua một người bạn thân.

b. Sự khác nhau giữa dấu gạch ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ. Theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia đối với thành phần chú thích. Tuy vây, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu này có sự khác nhau như sau:

– Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùng dấu ngoặc đơn.

VD: Chồng chị – anh Nguyễn Văn Dậu – tuy mới hai mươi sáu tuổi nhưng đã học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.
(Ngô Tất Tố)

Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên (Có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
(Giang Nam)

– Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để giải nghĩa cho một từ hoặc một yếu tố ngôn ngữ không thông dụng.

VD: – Italia (Ý), Hàn Quốc (Nam Triều Tiên)
– Tiếng trống của phìa (lý trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rĩ.
(Tô Hoài)

8. Dấu ngoặc kép

a/ Dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp. Trước dấu ngoặc kép, trong trường hợp này, thường dùng dấu hai chấm.

VD: Thiếu úy Trần Văn Phương đã hô: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”.

b/ Dùng để trích dẫn một danh ngôn, một khẩu hiệu. Trong trường hợp này không dùng dấu hai chấm trước đó. Chữ cái đầu âm tiết của từ trong danh ngôn, tục ngữ, lời dẫn… cần được viết hoa.

VD: Câu “Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ” là có ý khuyên người ta cẩn trọng trong ăn ở, đừng để tiếng xấu ở đời.

c/ Dùng để biểu thị thái độ mỉa mai, chế diễu của người viết hoặc trích dẫn từ, ngữ của người khác hoặc đánh dấu một từ được dùng với nghĩa đặc biệt, khác với nghĩa thông thường..

VD: Xem chừng các anh chị ở đây đều theo chiều hướng “trăm năm cô đơn” hết cả rồi!

Khoảng cách sau các dấu câu bao giờ cũng là một (1) khoảng trắng, sau đó bắt đầu đến ký tự đầu tiên của câu (vế) tiếp theo.
Sau dấu chấm câu thì viết ký tự in hoa. Sau dấu phẩy ( , ), dấu chấm phẩy ( ; ) ngăn cách các vế của một câu thì không viết hoa.
Đầu mối câu viết hoa ký tự đầu tiên. Tên riêng thì viết in hoa ký tự đầu.
Các dấu bỏ ngay sau ký tự cuối cùng của câu (vế) mà không có khoảng cách.

Tuy nhiên, hiện nay, trong các văn bản được in ấn thì người ta vẫn để khoảng trắng trước các dấu sau đây:
– Dấu chấm hỏi;
– Dấu chấm than;
– Dấu hai chấm;
– Dấu gạch ngang;
– Dấu chấm phẩy.
Nhưng đó chỉ là quy ước bất thành văn của các văn bản.

Các bạn có thể tham khảo thêm tại:
Các dấu câu trong tiếng Việt (NgonNgu.Net)
Cẩm nang về văn phong (Wikipedia)