Cách cấu hình vSAN 6 cho hệ thống các ESXi Host 6 chỉ có DAS (SSD và SATA)


Bước 1. Kiểm tra các ổ cứng SSD, cần phải bỏ Host cache, VM cache trong từng ESXi Host, mục Configuration

image

Bước 2. Phải backup hết các VMs đã có bằng VEEAM Backup Free v9 sang hệ thống lưu trữ khác, Migration các VM sang hệ thống Host khác nằm ngoài 3 ESXi định xây dựng VSAN.

Bước 3. Đẩy các ổ SSD và HDD sẽ làm vSAN Storage (xóa khỏi mục Storage của ESXi host để trở về định dạng RAID 0, không có định dạng VMFS3/5/5.1 của VMware).

image

Bước 4. Mở Web Sphere Client và mở mục Cluster, kéo thả hoặc thêm 3 ESXi Host vừa xử lý ổ cứng SSD và HDD nói trên vào Cluster.

Bước 5. Bấm phải chuột mục Edit Setting của Cluster để Turn on vSAN

image

Bước 6. Claim disk để kiểm tra và thêm nhóm ổ đĩa gồm: ít nhất 1 Flash SSD/ 1 host + ít nhất 1 HDD / 1 Host) và gộp chọn đủ 3 Host.

image

Bước 7. Phân hoạch nhóm ổ đĩa:

Sau khi đã đưa các nhóm đĩa (1 SSD + 1/nhiều ổ HDD) vào thành 1 vSAN Storage Pool

image

thì các ổ cứng Local còn lại trên các Host sẽ là các ổ đã được Format theo VMFS có sẵn phân vùng HĐH để boot Linux SuSe Enterprise x64 cho ESXi Host.

Bước 8. Ta chỉ có thể Add Disk cho phép dùng lại tài nguyên đó cho từng Host hoặc cho vào Cluster Datastorage để sử dụng cho các VMs khác.

image

image

image

Như vậy, mỗi ESXi Host sẽ thêm được ít nhất 1 forrmat VMFS có phân vùng Boot của Linux Suse Enterprise x64 ESXi làm dung lượng lưu trữ VM khác.

image

image

Nhận xét cơ bản:

– lúc này, phân vùng vSAN Storage đã trở thành Virtual Disk Pool và chạy theo hình thức Share Storage cho 3 ESXi host hoặc nhiều hơn, tốc độ được chạy hỗ trợ bởi SSD ~ 600mbps + số HDD pool gộp kích thước, phần mạng truy cập được hỗ trợ bởi RAID 0 controller, SATA 2/3, và Card NIC 2 teaming MTU 9000.

Thêm mẹo: cách xóa tên các files/ thư mục quá dài

How to delete a file with a path too long to be deleted [duplicate]

image

Bạn hãy cố tình tạo 1 file zip từ màn hình windows Explorer

image

Sau đó bấm tạo file và mở bằng Windows Zip hoặc tốt nhất là 7z Manager

image

Mở file zip bằng 7z Manager và dùng trình điều khiển này để xóa, sửa file tên dài.

Tặng thêm các bạn 1 lỗi sau:

After a purple diagnostic screen failure, ESXi host reports the warning: No coredump target has been configured. Host core dumps cannot be saved. (2088669)

Symptoms
  • After an ESXi 5.x host fails with a purple diagnostic screen, no diagnostic information is collected.
  • The ESXi host displays the warning:
    No coredump target has been configured. Host core dumps cannot be saved.
Cause

This issue occurs when the core dump target is not configured and the VMkernel host core dumps cannot be saved.

Resolution

To resolve this issue, configure a coredump location for the ESXi host.

Link: https://kb.vmware.com/selfservice/search.do?cmd=displayKC&docType=kc&docTypeID=DT_KB_1_1&externalId=2004299 

– Creating and activating a diagnostic coredump partition on disk

Mở PuTTy gõ lệnh sau:

esxcli system coredump partition list
You see output similar to:
Name                   Path                Active  Configured
---------------------  ------------------  ------  ----------
mpx.vmhba2:C0:T0:L0:7  /vmfs/devices/....   false       false

gõ tiếp lệnh sau:

esxcli system coredump partition set --enable true –smart

sau đó gõ lại lệnh:

esxcli system coredump partition list
You see output similar to:
Name                   Path                Active  Configured
---------------------  ------------------  ------  ----------
mpx.vmhba2:C0:T0:L0:7  /vmfs/devices/....    true        true

ví dụ:

image

Như vậy ESxi Host 80 đã hết lỗi.

 

Chúc các bạn thành công !

Advertisements

Phương pháp đo tốc độ VMs trong hạ tầng VDI truy xuất ổ cứng trên Storage SAN/NAS


Nhiều bạn thắc mắc về vấn đề kiểm soát tốc độ truy cập ổ cứng của các VMs hoặc đưa ra khá nhiều câu hỏi như:

  1. Mức độ chịu tải truy cập của 1 ổ cứng SSD, HDD, IDE, SATA I/II/III trên hệ thống Share Storage , NAS, SAN được tính toán như thế nào ?
  2. Làm thế nào biết được có bao VMs chạy được cùng đồng thời trên các ổ cứng SSD, IDE, SAS, SATA ?
  3. Làm thế nào đo được mức độ tối ưu “Performance Virtual disk” khi triển khai các máy ảo trên hạ tầng VDI ?

Để trả lời cho các câu hỏi dạng tính toán tối ưu nói trên rất phức tạp, thậm chí là khó chính xác, xong để đi tới tận cùng của đáp án, chúng ta phải bắt đầu tư logic căn bản nhất, đó là sử dụng công cụ tính toán mô phỏng và ra đáp số cho từng câu hỏi trên.

Tôi xin giới thiệu công cụ tính toán mô phỏng giữa lý thuyết và thực hành để giải đáp phần nào các câu hỏi của các bạn, thực tế nó cũng chính là những bước làm việc nghiên cứu căn bản trước khi triển khai VDI của chúng tôi.

1. Mô hình tính toán tốc độ và tối ưu hệ thống VDI:

Công cụ cung cấp tính toán đo lường được hiệu suất VDI, nó chính là chìa khóa để hiểu

I/O thực hiện khi tạo cấu trúc VDI.

– Iometer được coi là công cụ tiêu chuẩn khi bạn muốn kiểm tra tải trọng trên một hệ thống lưu trữ. Trong khi có rất nhiều công cụ có sẵn, cân bằng giữa khả năng sử dụng của Iometer và chức năng đo lường. Tuy nhiên, Iometer có phương pháp mô phỏng rất nhanh gọn và dễ dùng và tôi xin viết ngắn gọn để hiển thị một cách chính xác làm thế nào bạn nên sử dụng Iometer để có được kết quả tốt nhất, đặc biệt là khi thử nghiệm cho các môi trường VDI.

Ngoài ra, Tôi cũng sẽ cho bạn thấy làm thế nào để ngăn cản khả năng một ai đó đang cố tình sử dụng Iometer để đưa ra các kết quả đánh lừa bạn.

Iometer không đòi hỏi cơ sở hạ tầng ngoài 2 phần mềm chạy trên OS, bạn có thể sử dụng nó để nhanh chóng xác định hiệu suất hệ thống lưu trữ. Trong trạng thái cài đặt và chạy ngay lập tức trên một máy tính để bàn (thuộc hệ thống VDI hoặc RDS).

– Thông tin phân tích về  I/O sẽ được tính trên hai thông số chính R/W tức là tốc độ đọc/ghi của ổ cứng  (khoảng 80% /20% ghi / đọc; 80%/20% ngẫu nhiên / tuần tự và cuối cùng là thông tin về khối kích thước của đọc / viết sẽ được tính trong khối 4k/8k tương đương như xem phim Full HD 4K / 8k của youtube). Kích thước khối trong một cửa sổ khối lượng công việc thực hiện khác nhau giữa 512B và 1MB, nhưng phần lớn sẽ được ở 4K/8K.

– Nhưng Iometer không cho phép một kích thước khối hỗn hợp trong quá trình thử nghiệm, nên tôi sẽ sử dụng một dạng khối 4K liên tục (không dùng 8K hoặc hơn).

Tóm lại: Điều đó cho thấy rằng, khi dùng Iometer là tốt cho việc phân tích hiệu suất hệ thống lưu trữ, nếu bạn cần mô phỏng một khối lượng công việc lớn hơn trong thực tế cho môi trường VDI của bạn, tôi khuyên bạn nên sử dụng công cụ này được cài đặt tương thích trong Login VSI hoặc DeNamik.

2. Sơ đồ Thực nghiệm:

Tắc nghẽn “thắt cổ chai” cho ra phép tính hiệu suất trong VDI

Iometer thường được chạy từ bên trong một cửa sổ của máy trạm được cài “sử dụng ổ cứng”  trên những hệ thống lưu trữ như: DAS, NAS, SAN thông qua các giao thức như: FC, FCoE, iSCSI, NFS, SMB. Điều này có nghĩa rằng có rất nhiều lớp giữa nó và lưu trữ như chúng ta thấy dưới đây:

image

Nếu chúng ta muốn kiểm tra hiệu năng của việc lưu trữ, lưu trữ phải là nút cổ chai. Điều này có nghĩa là phải có nguồn lực đủ lớn “dạng lũ ống” trong tất cả các lớp khác để xử lý lưu lượng truy cập.

Tác động hiệu quả của “Công nghệ tự định hướng và đề xuất” giúp đo lường Hiệu suất lưu trữ

Nếu máy ảo VM của bạn được cấp quyền sử dụng thông qua công nghệ ảo Citrix Provisioning Services (PVS), Citrix máy Dịch vụ kiểm soát (MCS) hoặc VMware View Clones Link, bạn sẽ nhận được phương pháp thực nghiệp “bottlenecked” bằng “công nghệ tự đề xuất” mà tôi đang nói đến.

– Bạn thử nghiệm với Iometer so sánh trên chính các ổ Virtual Disk cài OS bootable ví dụ: C: ổ đĩa của một máy ảo được cung cấp duy nhất, bạn sẽ không có được cái nhìn đầy đủ về hiệu suất lưu trữ khi các lượng lưu trữ thay đổi hoặc có các I/O Workload được xử lý.

Bạn không thể đo lượng IOPS tối đa từ một máy ảo duy nhất, hoặc 1 ổ cứng bootable OS duy nhất trên 1 VM vì ngoài tham số trực tiếp trên 1 VM bạn sẽ gặp các vấn đề về tranh chấp tài nguyên giữa các VM khi chúng cùng cố gắng để lưu trữ “stress-test”.

– Tôi sẽ luôn luôn thêm một ổ đĩa thứ hai vào máy ảo và kiểm tra Iometer chống lại một ổ đĩa cứng thứ hai như thể sẽ có khả năng by-passes qua được các vấn đề áp dụng cho PVS / MCS / VMware view Linked Clones.

Tóm lại: Trong 99% các trường hợp tôi sẽ thực sự kiểm nghiệm chứ không phải kiểm tra đối phó để tìm ra kết quả thông thường trên VM có OS Windows 7. Bởi điều này có nghĩa là một máy ảo mới được cài đặt từ đầu, không join domain và chỉ có các công cụ hypervisor thích hợp cài đặt như: VMware Tool Installer, VM Hyper-V Tool.

Hãy nhớ rằng, Iometer được thiết kế để kiểm tra lưu trữ. Bằng cách kiểm tra với một VM nằm trong môi trường ảo VDI, bạn sẽ có đường cơ sở phân tích hiệu suất lõi của VDI. Từ đó bạn có thể vào thử nghiệm một máy ảo cấu hình đầy đủ; và bây giờ bạn có thể hiểu được tác động của các trình điều khiển lọc AV, được cung cấp bởi các dòng liên kết, hoặc phần mềm / agent/ plug-in khác v.v.  nhằm xác định chính xác hiệu suất lưu trữ.

3. Sử dụng Iometer để thử nghiệm VDI: lợi thế và nhược điểm

Trước khi chúng ta chuyển sang các thiết lập cấu hình thực tế bằng Iometer, tôi muốn nói một chút về các tập tin thử nghiệm mà Iometer tạo để tạo “lũ ống” cho I/O. Tập tin này được gọi là iobw.tst và là lý do tại sao tôi khoái cũng là ghét Iometer. Nó là nguồn gốc để hình thành lên Iometers, lỗi lớn nhất và cũng là lợi thế lớn nhất của nó.

1. Lợi thế: Iometer có thể tạo ra bất kỳ kích thước của tập tin thử nghiệm mà bạn thích để đại diện cho các kịch bản thử nghiệm mà bạn cần. Khi chúng ta nói về một hệ thống VDI duy nhất có 100 máy ảo Win 7, hoặc 8 máy chủ ảo dòng  RDS, kích thước của các I/O ‘làm việc thiết lập “phải là ở mức tối thiểu, kích thước tổng thể của các bộ nhớ phân trang pagefiles: vì đây sẽ là một tập hợp các dữ liệu duy nhất mà luôn được sử dụng.

Vì vậy, nếu 1 VDI có 100 máy ảo Win 7 có cấu hình 1GB RAM, kiểm tra tập tin này sẽ có ít nhất 100GB và  cộng thêm 8 máy chủ ảo RDS có cấu hình 10GB RAM, nó sẽ có ít nhất 80GB.

Các thiết lập làm việc thực tế của dữ liệu có thể sẽ cao hơn nhiều so với điều này, nhưng tôi chỉ xin nói về mức tối thiểu.

Điều này có nghĩa rằng nó sẽ rất khó khăn cho một Storage array hoặc RAID để giữ làm việc thiết lập trong bộ nhớ cache.

Iometer cho phép chúng ta thiết lập các tập tin thử nghiệm với một kích thước bất kỳ sẽ bắt chước như một thiết lập làm việc bình thường. Trong thực tế, tôi đã tìm thấy rằng một tập tin thử nghiệm 10-20GB là đủ để bắt chước một cách chính xác lưu lượng trên máy VDI duy nhất. Nếu bạn vẫn cần nhận được kết quả lớn hơn từ lưu trữ của bạn, chúng ta hoàn toàn có thể tăng kích thước của tập tin thử nghiệm này.

2. những bất lợi: iobw.tst có thể bị lỗi. Nếu bạn thay đổi kích thước các tập tin mà không xóa, nó không thay đổi kích thước (nó chưa có lỗi) và nếu bạn xóa các tập tin mà không đóng “Close Iometer”, Iometer sẽ bị treo.

Ngoài ra, nếu bạn không chạy Iometer as administrator, Windows 7 sẽ đặt các tập tin iobw.tst trong hồ sơ cá nhân “user profile data” thay vì thư mục gốc của C :. OK, đó không phải là về mặt kỹ thuật lỗi căn bản của Iometer, nhưng nó vẫn còn gây phiền nhiễu nếu bạn không làm đúng quỳ trình.

 

4. Cấu hình khuyến cáo dùng Iometer tính toán VDI:

image

 

Số lượng Workers chủ yếu là số lượng các threads được sử dụng để tạo ra các yêu cầu I/O, tuyển thêm Workers sẽ bổ sung độ trễ, nó cũng sẽ bổ sung thêm một lượng nhỏ amount trong tổng số I/O. Chúng ta chỉ xem xét 4 works để có sự cân bằng tốt nhất giữa độ trễ và IOPS.

Chọn máy tính có nghĩa là tất cả các Workers đều được cấu hình cùng một lúc, bạn có thể kiểm tra xem các Workers được cấu hình một cách chính xác bằng cách chọn từng workers riêng lẻ để kiểm tra.

Các ổ đĩa thứ hai nên được sử dụng để tránh các vấn đề với trình điều khiển lọc AV / dự phòng v.v. trên ổ C: (mặc dù Iometer luôn luôn nên được chạy trong một cấu hình cài đặt ngầm định).

Số lượng các thành phần cung cấp cho bạn kích thước của tập tin thử nghiệm, điều này là cực kỳ quan trọng như được đề cập ở trên. Bạn có thể sử dụng các trang web sau đây để xác định các chuẩn kích thước GB sectors:

http://www.unitconversion.org/data-storage/blocks-to-gigabytes-conversion.html

Các kích thước được sử dụng trong ví dụ để có được 10-20GB là 21.943.040  – 41.943.040 sectors.

Lý do cho việc cấu hình vượt  trên 16 I/O tương tự như số lượng Workers  tăng I/O sẽ làm tăng độ trễ trong khi tăng nhẹ IOPS. Như với việc tăng Workers, tôi nghĩ rằng 16 là một sự thỏa hiệp tốt. Bạn cũng có thể tham khảo bài viết sau đây liên quan đến con số I/O ngon lành: http://communities.vmware.com/docs/DOC-3961

Network Target Tab: không có gì thay đổi.

Thông số truy cập:

image

Để cấu hình một khối lượng công việc bắt chước một máy tính để bàn, chúng ta cần phải tạo ra một đặc điểm kỹ thuật mới.

image

Các thông số kỹ thuật truy cập mới cần phải có các cài đặt sau. Điều này đảm bảo rằng các mô hình thử nghiệm là thống nhất và phù hợp nhất có thể trong một khối lượng workload của VDI. Các thiết lập là:

 

  • 80% Viết

  • 80% Random

  • Block 4K

  • Ranh giới truy cập tới hạn mức 128K, điều này có lẽ là quá mức cần thiết và 4K sẽ là tốt, nhưng nên loại bỏ bất kỳ vấn đề chỉnh đĩa.

  • Những tham số trên là phức tạp, bạn có thể tìm hiểu qua link:  http://www.atlantiscomputing.com/win7iops 

    image

    Sau đó, bạn nên thêm các thông số kỹ thuật truy cập cho việc quản lý.

    image

     

    Lưu ý: Tôi chỉ cấu hình thử nghiệm để chạy trong vòng 30 giây, kết quả sẽ được nhận sau khoảng thời gian đó. Quan trọng hơn, nếu bạn đang thử nghiệm trên SAN, Iometer khi cấu hình một cách chính xác sẽ sơi tất cả các hiệu suất SAN của bạn. Vì vậy, nếu bạn đang có khối lượng công việc khác trên SAN của bạn, chạy Iometer trong một thời gian dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới chúng.

    image

     

    Thiết lập Update Frequency (seconds) để xem kết quả diễn ra.

    Thiết lập ‘Results Since’ để chọn ‘Start of Test’ bạn sẽ nhận được các giá trị tính a reliable average.

    Cả 2 giá trị Read và Write tính giá trị trung bình. response times (Latency) là rất cần thiết.

    Bạn nên lưu kết quả ra 1 file csv, nó sẽ lưu tất cả các kết quả mà bạn đang cần thực nghiệm.

    Lưu cấu hình

    Bạn nên lưu lại cấu hình để sử dụng sau này bằng cách nhấn vào biểu tượng ổ đĩa. Điều này sẽ tiết kiệm cho bạn phải cấu hình lại Iometer mỗi lần chạy thử nghiệm mà bạn làm. Các tập tin được lưu dưới dạng * .icf ở một vị trí lựa chọn của bạn.

    Giải thích kết quả

    iometer_result

    Các giá trị nói về IOPS càng cao thì càng tốt, chính là dòng “Total I/Os per Second” và nó phải được tính toán trên một độ trễ hợp lý, bất kỳ điều gì được thực hiện dưới < 5ms là vô cùng tốt.

    Đối với IOPS tối đa có thể cho một trục số trễ là 200ms, bạn nên kiểm tra kỹ kết quả đừng đi theo suy đoán, dự đoạn giá trị. ví dụ: Đối với một ổ SSD, bạn có thể có được từ 3 – 15.000 IOPS tuỳ thuộc vào độ trống rỗng của ổ cứng đó, nó sẽ như thế nào với việc sử dụng và mức độ tốn kém tới đâu khi phải phục vụ nhiều VM trong VDI ? do vậy, bạn nên kiểm tra kỹ lưỡng hiệu suất sử dụng và lưu trữ.

    Bạn không cần phải chia IOPS cho bao nhiêu máy VM hoặc kiểm tra thông lượng, lượng đọc, ghi v.v. vì chúng ta đã biết fix IOmeter đọc 20%, ghi 80% rồi (phần cấu hình ở trên).

     

    Làm thế nào bạn có thể kiểm tra một người nào đó sử dụng công cụ nào đó để lừa bạn về hiệu suất Lưu trữ ?

    –  Nếu các bạn không để mắt đến chuyện hiệu suất “Performance and sizing” hoặc bạn chưa bao giờ được ROBUSTA đào tạo, hoặc nói thẳng bạn chưa bao giờ có ý định học hỏi ở chúng tôi, bạn sẽ không có nhiều kỹ năng, chia sẻ kinh nghiệm, Bạn sẽ luôn nhận được kết quả  hiển thị chữ “thất bại” làm đại diện cho bạn.

    – Dưới đây là một danh sách những thứ để kiểm tra khi có ai đó đang hiển thị cho bạn một kết quả trong mơ.

  • Điều gì làm nên kích thước của các tập tin thử nghiệm có trong Windows Explorer / Linux Explorer ?
  • – Nó cần phải được thử nghiệm rất lớn (tối thiểu 10- 20GB) bởi ảo hoá đồng nghĩa sẽ có các file VMDK, VHD siêu lớn.

  • Làm thế nào xác định tuần tự các khối lượng công việc Workloads cho các bộ vi xử lý CPU ?
  • – Chúng nên xử lý tuần tự, dễ dàng hơn đó là để hiển thị kết quả tốt hơn cho IOPS và kiểu Passthrough. (Nó nên được đặt ở mức tối thiểu là 75% – 80% so với ngẫu nhiên)

  • Kích thước khối “block size” là gì?
  • – Windows có một kích thước khối 4K, VMware VMFS có kích thước 8K – 18K, bất cứ điều gì khác không phải là một cách kiểm tra có liên quan và có thể giúp chúng ta xác định đúng các nhà cung cấp thiết bị chuẩn.

     

    Chúc các bạn tiến bộ không ngừng ở ngành CNTT VDI !

    Các cách nâng cấp máy chủ ảo ESXi 5.1 lên ESXi 5.5


    Cách 1: Khi bạn muốn nâng cấp bằng điều khiển từ xa qua SSH port 22:

    Bước 1. Sao chép bản vá lỗi mới nhất từ:  https://www.vmware.com/patchmgr/findPatch.portal

    image

    Bước 2. Đẩy file này vào trong datastore của máy chủ ESXi host cần update

    image

    Bước 3. Chuyển máy chủ ESXi sang chế độ maintenance mode (phải chuột bấm > enter maintenance mode)

    và kết nối bằng Putty. Lưu ý cần bật SSH chế độ enabled. (configuration > security profile > properties > ssh).

    Bây giờ cần nhập lệnh để update cho máy chủ ESXi host:

    esxcli software vib update -d /vmfs/volumes/<your_volume>/update-from-esxi5.5-5.5_update01.zip

    Bước 4. Khởi động lại máy chủ ESXi host và kết thúc chế độ maintenance mode.

     

    Xem video tham khảo:

     

     

    Cách 2: Khi bạn chỉ có duy nhất dịch vụ điều khiển từ xa qua SSH port 22:

    Đây là trường hợp do máy chủ ESXi5.1 không có ổ CD/DVD, và do tôi điều khiển từ xa, không ở gần trung tâm IDC đặt máy chủ ảo hoá VMware. Máy chủ ESXi 5.1 Host sẽ cần phải cấu hình mở công SSH, bật Shell và SSH Service để cho phép điều khiển máy chủ ESXi từ command shell qua cổng giao tiếp SSH (22).

    Quan trọng nhất, bạn cần phải có phần mềm điều khiển SSH (port 22) ví dụ tôi dùng PuTTy

    bạn có thể download phần mềm này ở link:  http://www.putty.org/

    Tiếp theo để nâng cấp ESXi 5.1 lên ESXi 5.5 bạn làm các bước sau.

    Dùng bản vSphere Client 5.1 cũ (đang dùng) và

    Bước 1. Tắt tất cả các  VMs đang chạy trên ESXi host machine của bạn.

    Bước 2. Kết nối với máy chủ ESXi 5.1 bằng PuTTy thông qua địa chỉ host IP, Giao thức SSH và cổng 22:

    image

    và gõ lệnh sau khi kết nối đăng nhập thành công:

    image

    Gõ lệnh sau:

    vim-cmd /hostsvc/maintenance_mode_enter

    ESXi5.1Upgrade_1

    Bước 3. Sau khi gõ lệnh để chuyển ESXi 5.1 thành chế độ duy trì sửa chữa “maintenance mode” chúng ta nên kiểm tra máy chủ ESXi 5.1 firewall và mở cổng cho phép dùng firewall rules for the httpClient:

    Bạn gõ lệnh sau:

    esxcli network firewall ruleset set -e true -r httpClient

    ESXi5.1Upgrade_2

    Nếu kết qua báo Invalid Rulest Id hoặc một dạng báo thành khác đều có nghĩa là chúng ta hoàn toàn có thể tiếp tục các bước sau.

    Bước 4. Tiếp theo để chạy kiểm tra danh sách các bản cần upgrade ESXi lên 5.5 bạn sẽ cần nhìn trong danh sách kết quả phiên bản có ở cuối dòng tên có chữ “-standard” .

    Bạn gõ lệnh sau:

    esxcli software sources profile list –d https://hostupdate.vmware.com/software/VUM/PRODUCTION/main/vmw-depot-index.xml | grep ESXi-5.5

    ESXi5.1Upgrade_3

    Bước 5. Sau khi nhìn kết quả bạn sẽ thấy phiên bản của VMware: ESXi-5.5.0-1331820-standard, đây .chính là bản bạn sẽ cần nâng cấp.

    Bạn gõ lệnh sau:

    esxcli software profile update -d https://hostupdate.vmware.com/software/VUM/PRODUCTION/main/vmw-depot-index.xml -p ESXi-5.5.0-1331820-standard

    ESXi5.1Upgrade_4

    Lưu ý:  Dòng lệnh bạn gõ vào quan trọng nhất là dòng esxcli software profile update . Nếu không khi chạy lệnh profile install có thể nó sẽ đè lên các drivers mà bạn đang dùng trên ESXi host hiện nay đang có.

    ESXi5.1Upgrade_5

    Bước 6. Sau bước nâng cấp, màn hình con trỏ trong PuTTy sẽ báo nháy, bạn gõ lệnh reboot để khởi động lại máy chủ ESXi 5.1:

    Bạn gõ lệnh sau

    reboot

    Bước 7. Sau khi bạn khởi động lại máy chủ ESXi 5.1 thì hãy chạy lại PuTTy để kết nối và điểu khiển ESXi server, gõ lệnh exit maintenance mode để tắt chế độ bảo dưỡng duy trì

    vim-cmd /hostsvc/maintenance_mode_exit

    Bước 8. Bạn chạy lệnh dcui  để kiểm tra phiên bản ESXi host đã được nâng lên ESXi 5.5

    ESXi5.1Upgrade_6

     

    Cách 3: Một khi bạn đang có CD/DVD hoặc USB bootable:

    VMware ESXi 5.5 cho phép bạn nâng cấp từ các phiển bản ESXi host cũ. Các phương pháp cơ bản đều nói đến trong link: Methods for upgrading to ESXi 5.5 (2058352).

    Dưới đây có 1 video nói về cách nâng cấp từ ESXi 5.1 lên ESXi 5.5. thông qua cách phổ biến

    download bản ISO ESXi 5.5 được công bố trong mục download của www.vmware.com

    Sau đó burn ra USB / CD/DVD và chuyển sang máy chủ ESXi để re-boot và cài nâng cấp ESXi 5.1 lên ESXi 5.5

    Xem video tham khảo:

     

     

    Chúc các bạn thành công !

    VMUG

    CUỘC GẶP GỠ CỘNG ĐỒNG VMWARE LẦN ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM


    Vào ngày 29/05 tới đây, từ lúc 14h đến 18h tại Trung Nguyên Coffee – 19B Phạm Ngọc Thạch, Phường 6, Quận 3, TP.Hồ Chí Minh, Cộng đồng người dùng VMware tại Việt Nam (Vietnam VMware User Group – VN VMUG) sẽ có cuộc gặp mặt lần đầu tiên để chia sẻ thông tin cũng như trao đổi kinh nghiệm và cơ hội hợp tác, đào tạo mà VMUG có thể mang lại.

    VMware Inc là một công ty phần mềm lớn vốn thuộc tập đoàn EMC chuyên làm phần mềm tạo máy ảo cho các hệ thống máy tính tương thích chíp x86 của Intel. Sản phẩm chính của công ty bao gồm VMware Workstation cho máy để bàn và VMware ESX serverVMware GSX server cho máy chủ. Các phần mềm tạo máy ảo của VMware được coi là tốt nhất trên thế giới bởi nó hỗ trợ nhiều hệ điều hành khác nhau như GNU/LinuxMac OS X và Microsoft Windows. Các phần mềm máy ảo khác như Virtual PC chỉ hoạt động trên hệ điều hành Microsoft Windows. Đặc biệt VMware là công ty hàng đầu cung cấp các giải pháp ảo hóa cho các trung tâm dữ liệu với các sản phẩm như : VMware vSphere, VMware vCloud, VMware Director,…. VMware là công ty hàng đầu cung cấp các giải pháp hạ tầng ảo hóa và đám mây, giúp các tổ chức phát triển mạnh mẽ hơn trong thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin. Những khách hàng tin tưởng vào VMware sẽ có được những kiến thức vững chắc để có thể lựa chọn cũng như áp dụng các cách thức xây dựng, triển khai và sử dụng tài nguyên CNTT một cách hiệu quả nhất, dựa trên nhu cầu hay lĩnh vực công tác cụ thể của mình. Với doanh thu năm 2013 đạt 5,21 tỉ đô-la Mỹ, VMware hiện có hơn 500.000 khách hàng cùng 75.000 đối tác trên toàn cầu. Công ty VMware Inc có trụ sở chính ở thành phố Palo Alto, California, Hoa Kỳ và văn phòng nghiên cứu, phát triển ở Palo Alto, San FranciscoMassachusetts và Bangalore (Ấn Độ) cùng các văn phòng trên khắp thế giới. Thông tin thêm có thể xem tại website www.wmware.com.

    Ra mắt chính thức vào tháng 8/2010, VMware User Group (VMUG) là tổ chức độc lập, mang tính toàn cầu và do các khách hàng sử dụng giải pháp VMware dẫn dắt. Được tạo lập nhằm hỗ trợ và khuyến khích người dùng, VMUG chính là diễn đàn hấp dẫn để các thành viên có thể chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn để thực hành và áp dụng thực tiễn được hiệu quả nhất. VMUG có tới 80.000 thành viên trên 180 quốc gia và là tổ chức người dùng ảo hóa lớn nhất thế giới hiện nay. Mục tiêu mà VMUG hướng tới là tối đa hóa việc sử dụng các giải pháp VMware và của các đối tác thông qua chia sẻ kiến thức, đào tạo, cộng tác và kết nối sự kiện. Hơn 43 sự kiện đang được lên kế hoạch trong năm 2014. Thông tin thêm có thể xem tại websitehttp://www.vmug.com.

    Sự kiện VN VMUG được tổ chức lần này nhằm mang lại một sân chơi bổ ích cho cộng đồng người dùng VMware tại Việt Nam, qua đó giúp họ có thể chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng, cũng như kiến thức chuyên môn và các trải nghiệm thực tế hữu ích nhất. Đây cũng là kênh thông tin giúp cho VMware có thể thu thập ý kiến đóng góp của cộng đồng người dùng Việt Nam về sản phẩm và dịch vụ của mình, để qua đó hãng sẽ có những điều chỉnh, cải tiến và đổi mới kịp thời nhất dựa trên những phản hồi tích cực của người dùng.

    Sự kiện VN VMUG cũng là một cơ hội tuyệt vời để gặp gỡ những thành viên có cùng sự quan tâm đến VMware, là dịp để thảo luận về xu hướng ảo hóa, các bài học kinh nghiệm cũng như những công nghệ mới nhất về ảo hóa hiện nay. Cũng tại sự kiện này, cộng đồng người dùng VMware Việt Nam sẽ có cơ hội gặp gỡ, trao đổi trực tiếp cũng như có thêm thông tin ở các bài thuyết trình từ VMware, HP, Hitachi Data System và Robusta – Trung tâm đào tạo ủy quyền của VMware tại Việt Nam đồng thời cũng là đơn vị hỗ trợ và phối hợp thực hiện sự kiện này. Không chỉ vậy, đây cũng là một cơ hội tốt để các cá nhân, tổ chức thành viên mở ra cho mình các kênh kết nối và sự hợp tác mới, phong phú hơn trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

    Người dùng VMware Việt Nam có thể đăng nhập vào trang web VMUG tại địa chỉ:http://www.vmug.com/e/in/eid=1396 để đăng ký tham gia. Hạn chót để đăng ký tham gia sự kiện này là ngày 28/5/2014. Sẽ có những phần quà rất hấp dẫn dành cho thành viên của VMUG.

    Hãy kết nối với VMUG và tham dự vào sự kiện diễn ra sắp tới, bạn sẽ có một hướng nhìn cũng như trải nghiệm mới, khác biệt về công nghệ ảo hóa của VMware.

    tại ROBUSTA Hà nội, sáng 6h50 AM

    Cách thêm USB device vào máy VM của máy chủ ảo ESXi 5.5


    USB Controller hỗ trợ các phiên bản sau:

    Controller Loại

    Hỗ trợ USB Device phiên bản

    Hỗ trợ Passthrough từ ESXi Host đến máy ảo VM

    Hỗ trợ thông qua USB Passthrough của máy trạm đến máy ảo VM

    EHCI+UHCI

    2.0 and 1.1

    Yes

    Yes

    xHCI

    3.0, 2.0, and 1.1

    Yes (USB 2.0 and 1.1 devices only)

    Yes (Linux guests only)

    Ghi chú:

     

    Trình điều khiển không có sẵn cho bộ điều khiển xHCI trên hệ điều hành Windows client.

    Đối với hệ thống Mac OS X, bộ điều khiển EHCI + UHCI được kích hoạt theo mặc định và là cần thiết cho USB chuột và bàn phím truy cập.
    image
    Cho các máy ảo với máy trạm Linux, bạn có thể thêm một hoặc cả hai điều khiển, nhưng các thiết bị 3,0 superspeed không được hỗ trợ passthrough từ một máy chủ ESXi đến một máy ảo. Bạn không thể thêm hai bộ điều khiển cùng loại.


    image
    Cho USB passthrough từ một máy chủ ESXi đến một máy ảo, các trình điều khiển USB có thể điều chỉnh tối đa là 15 bộ điều khiển USB. Nếu hệ thống của bạn bao gồm bộ điều khiển vượt quá giới hạn 15 điều khiển và bạn kết nối thiết bị USB vào chúng, các thiết bị đó sẽ không thể hoạt động trên máy ảo.

     

     

    Điều kiện sử dụng:

    ESXi hosts cần phải có thiết bị USB controller phần cứng đang cắm vào máy vật lý và hỗ trợ tối thiểu USB 2.0 và 1.1.

    Máy tính trạm phải có phần cứng USB điều khiển và mô-đun hỗ trợ USB 3.0, 2.0, 1.1 các thiết bị hiện nay.

    Để sử dụng bộ điều khiển xHCI trên một máy trạm Linux, đảm bảo rằng các phiên bản Linux kernel 2.6.35 hoặc mới hơn.

    Máy ảo phải được bật.

    Phải có quyền điều khiển trực tiếp can thiệp thiết bị máy chủ ESXi host như tắt bật máy ảo VM, cắm hoặc rút thiết bị kết nối qua USB controller.

    1

    Mở mục vSphere Client inventory, bấm chuột phải vào máy ảo VM và chọn mục Edit Settings.

    2

    Bấm tab Hardware và bấm nút Add.

    3

    Chọn loại USB Controller để thêm và bấm nút Next.

    4

    Kiểm tra thông tin thiết bị và bấm Next.

    5

    Bấm Finish.

    Một USB Controller (adding) mới xuất hiện trong danh sách thiết bị phần cứng với trang thái đề Present.

    6

    Bấm OK để lưu thay đổi và đóng hộp thông báo lại.

    Khi bạn mở lại Properties Editor, bộ điều khiển xHCI xuất hiện trên tab Hardware là 1 USB controller xHCI. Bộ điều khiển EHCI + UHCI xuất hiện là 1 USB controller riêng.

     

    Bạn có thể bấm thêm 1 hoặc nhiều USB devices để cho 1 máy ảo VM sử dụng.

    image

     

    image

    Các bước chuyển từ máy ảo VirtualBox sang chạy trên hạ tầng máy ảo Vmware vSphere


     

    Nhiều người đã biết dùng máy ảo của Microsoft Hyper-V và oracle VirtualBox, xong cũng có nhiều người biết rằng hiệu suất, khả năng tiết kiệm và tính năng của những máy ảo dòng trên không thể đáp ứng được nhiều yêu cầu về hệ thống Labs, Training hay Demo bằng ảo hoá. Vậy các bạn nên chuyển các máy ảo đó sang dùng trên nền VMware vSphere.

    Bước 1.

    Trên máy ảo VirtualBox , bạn tạo máy ảo (hầu hết giống với cách tạo VMs của các dòng ảo hoá khác).

    – Tạo ổ cứng HDD controller theo chuẩn: SCSI.

    – Cấu hình các thiết bị Device cần dùng cho chạy máy VM trên nền VirtualBox.

    – Bấm Power On để bật và chạy VirualBox Console để điều khiển OS và các App trong máy VM nói trên.

    Bước 2. Bạn thực sự cần chuyển máy VM đang chạy trên nền VirtualBox sang máy ảo VMware.

    –  Đưa máy ảo đang dùng vào trạng thái Power Off

    Chọn trình điều khiển File > Export Appliance

    Chọn đường dẫn chứa file *.ova

    image

    – Cấu hình thông số để tạo file OVA

    image

    Đợi quá trình tiến hành hoàn tất

     

    Bước 3.  Sau khi hoàn tất việc xuất ra file OVA, bạn chỉ cần copy file OVA sang máy có dùng VMware vSphere Client để có thể điều khiển và Import / Deploy file OVA vào máy chủ VMware ESXi 5.x

    image

    Tìm đến file OVA để Deploy OVF Template / OVA Package

    image

     

    Sau khi Deploy import file OVA:

    image