Cách cấu hình NFS/SMB NAS trên Windows 2012 R2 để kết nối NAS với ESXi Host 6.0


Nếu bạn đã có một số phần cứng được ảo hóa mạng, lưu trữ cũng được ảo hóa rồi, Windows Server 2012 có thể là một giải pháp tuyệt vời cho một thiết bị lưu trữ ảo.

Bây giờ bạn có thể làm cả hai khối (iSCSI) và NAS (NFS kết hợp SMB) trên cùng một máy chủ ảo hoặc nhiều máy chủ ảo nằm trên các ESXi Host khác nhau thuận tiện cho việc làm các cấu trúc lưu trữ failover-cluster, cũng như có một hệ điều hành để cài đặt một số ứng dụng quản lý lưu trữ trên đó.

Trong bài thực hành này của tôi, chúng ta sử dụng máy chủ quản lý lưu trữ để chạy VDP/ Veeam Backup cho các sao lưu VMs, màn hình mạng PRTG để theo dõi băng thông, cũng như sử dụng máy chủ windows 2012 R2 này cho việc sử dụng NFS/SMB gắn kết với vSphere ESXi Host.

Bước 1. Cài NFS Server, giao thức SMB và tính năng quản lý nguồn tài nguyên:

Mở “Server Manager” và chọn đường dẫn: “Add roles and features”.

image

Chọn 1 “role-based or feature-based installation”

image

Chọn máy chủ bạn cần cài thêm tính năng NFS.

image

Hãy kéo xuống mục File and Storage Services và chọn trong danh sách Roles để thêm:

  • File Server Resource Manager
  • Server for NFS

image

Tiếp tục đến mục chọn tính năng “Features”

Hãy kéo danh sách xuống và chọn:

  • Enhanced Storage
  • Multipath I/O
  • SMB Bandwidth Limit
  • Telnet Client
  • Desktop Experience

image

image

Cuối cùng bạn xem lại cửa sổ xác nhận và cài đặt

image

 

Bước 2. Cấu hình NFS/SMB Quota, kích hoạt SMB và kết nối ESXi Host với NAS :

Mở “Server Manager”, chọn Menu “Tools”, chọn “File Server Resource Manager”:

image

Các bạn nên tạo ra các mẫu Quota giới hạn kích thước sử dụng NAS khác nhau để linh hoạt trong quản lý sử dụng kích thước tài nguyên NAS. Hệ thống hiện tại chỉ có một vài mẫu quản lý giới hạn chính, bạn nên copy để tạo mẫu riêng

image

Bấm chọn mục “Quota Templates” và chọn một dòng mẫu (ví dụ: 100 MB Limit) và Bấm phải chuột chọn menu pop-bar “Edit Template Properties…”

Lần đầu tiên, bạn nên bấm nút “Copy” để sao chép một Quota mới giống như mẫu đã có, sau đó sửa các thông số như: Template name:, Space limit, chọn Hard quota vì giới hạn về kích thước người dùng nên chính xác.

image

ví dụ:

image

Sau động tác khai thông số và bấm “OK” bạn sẽ nhận được thông báo áp dụng Quota mới này cho cả những cấu hình trước khi khởi tạo Quota này hay chỉ áp dụng mới.

image

Kiểm tra danh sách Quota đã có rule mới:

image

Bước 3: Tạo NFS Share để map Folders Share và Quota:

Mở My Computer bằng Windows Explorer:

Tạo 1 thư mục để làm lưu trữ NFS, bấm phải chuột vào thư mục này và chọn Properties

Quay lại màn hình Server Manager

image

Bấm vào mục Shares > Bấm TASKS và chọn menu pop-bar “New Share…”

image

Bấm chọn mục “NFS Share – Quick” trong cửa sổ “New Share Wizard”

image

Chọn ổ cứng, thư mục cần Share

image

Remote path to share: chính là thông số đường dẫn để ESXi Host kết nối tới

image

Đánh dấu chọn các chuẩn xác thực của Windows Authenticate, UNIX, Linux

image

Mục phân quyền truy cập thư mục Share, bạn có thể cho phép hoặc chặn các quyền của bất cứ Host, Computer name, PC client, ESXi Host theo IP và quyền “no access”, read only, Read/Write.

ví dụ: Tôi không chặn tất cả mạng LAN

image

Tiếp theo chọn Next

image

Tiếp tục làm thao tác tới phần xác nhận trước khi khởi tạo NFS Share

image

 

Trường hợp để tạo thư mục và tạoNFS Share, bạn cũng có thể thao tác trên My Computer

Chọn tiếp tab “NFS Sharing”, tiếp theo chọn nút “Manage NFS Sharing…”

image

Nhấp vào nút “Permission” để cho phép quyền readwrite trên thư mục đã được cấu hình NFS Share.

image

Bạn có thể Xóa Name: ALL MACHINES và chỉ cho add các máy chủ ESXi host (tên / IP chính xác) để hạn chế quyền truy cập của các máy trong mạng LAN kết nối tới NFS này.

Xin lưu ý: Các bước vừa xong không chia sẻ các thư mục theo Server Message Block (SMB) như bạn có thể được sử dụng để làm cho tiêu chuẩn của Windows File Shares. Đây chỉ là thiết lập NFS Sharing.

Bạn cũng có thể áp dụng Quota cho thư mục vừa cấu hình NFS/SMB bằng cách mở lại Server Manager > File and Storage Services > Shares

image

Chọn thư mục đã cấu hình NFS Share, chuyển xuống màn QUOTA

chọn TASKS > chọn configure Quota…

Tham khảo: http://www.techrepublic.com/blog/data-center/how-to-create-a-quota-template-in-windows-server-2012/ 

 

Bước 4: Tạo NFS Share để map Folders Share và Quota:

Dùng vSphere Client mở ESXi host

image

Chọn Tab “Configuration” > Chọn Storage và bấm mục “Add Storage…”

image

Chọn Network File System (chính là kết nối tới NAS)

image

Lưu ý:

– Bạn có thể cấu hình 2 card mạng ở phần máy chủ NFS và dùng cấu hình Nic Teaming để sinh ra 1 IP bond, điều chỉnh MTU từ 1500 –> Enable Jumbo Frame và MTU đổi lên 9000 giúp an toàn và tốc độ cân bằng tải, nhanh trong kết nối giữa ESXi Host và NAS.

– Bạn nên kiểm tra phần Folder Share theo vị trí và đúng chính xác tên chữ hoa chữ thường khi cấu hình máy NFS Server (nên cho thành chữ thường đỡ nhầm lẫn).

Kết quả sau khi kết nối đúng:

image

 

 

Chúc các bạn thành công !

Cách đấu nối, cài đặt và cấu hình Synology NAS vào máy chủ ESXi Host 5.5


Tổng quan

Datastore là hệ thống lưu trữ thông tin độc lập cho phép kết nối với trung tâm dữ liệu của các máy vật lý  và máy ảo “Centralizing virtual machine’s physical data”. Bạn có thể bổ sung trữ lượng và chia sẻ không gian lưu trữ để tối đa hóa việc sử dụng lưu trữ và đơn giản hóa quản lý với sự linh hoạt tốt hơn bằng cách sử dụng NAS Synology tích hợp với VMware kho dữ liệu. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn quá trình sử dụng NAS Synology của bạn như là kho dữ liệu trong môi trường ảo hoá VMware.

Nội dung

1. Bước đầu

Các bạn chuẩn bị trước các bước sau hoàn chỉnh:

  • Cài đặt thiết bị Synology DiskStation.
  • Cài phần mềm Synology DiskStation Manager (DSM, giao tiếp qua web-based trên hệ thống DiskStation).
  • Tạo ổ cứng iSCSI LUN và Targets.
  • Cài VMware vSphere Client trên máy chủ hoặc máy trạm PC.
  • Cài đặt VMware ESXi host.

 

2. Mount iSCSI Targets trên VMware ESXi

Các bước mount iSCSI Targets trên Synology NAS điều khiển trong VMware ESXi Hypervisor.

  1. Đăng nhập bằng VMware ESXi by vSphere Client.
    Mount iSCSI Targets:
    • Mở Configuration tab.
    • bấm chọn Storage Adapters.
    • Chọn iSCSI Software Adapter.
    • Bấm Properties.
    •   
  2. Bấm Enabled cho phép dùng iSCSI initiator.
  3. Mở the iSCSI Initiator chọn enabled, bấm Dynamic Discovery.
  4. Ở mục Dynamic Discovery:
    • Bấm Add.
    • Nhập địa chỉ primary IP address trỏ tới Synology NAS.
  5. Rescan tìm Host Bus Adapter.
  6. Mở iSCSI Initiator xác định được targets trỏ tới Synology NAS.

 

3. Cài đặt iSCSI LUN trong VMware Datastore

Dưới đây là các bước cài iSCSI LUN trong VMware Datastore.

  1. Đăng nhập VMware ESXi thông qua vSphere Client.
  2. Mở Configuration tab:
    • Bấm Storage.
    • Chọn Add Storage.
  3. Sử dụng Add Storage:
    • Chọn Disk/LUN.
    • Bấm on Next.
  4. Bấm next:
    • Tìm chọn iSCSI target.
    • Bấm Next.
  5. Kiểm tra lại xem ổ cứng hiện thời  và bấm Next.
  6. Nhập tên ổ mới datastore trong Datastore name.
  7. Chọn 1 block size để sử dụng storage mới.
  8. Bấm Finish để xác nhận bước cuối trong cấu hình.
  9. Datastore mới đã được thêm vào danh sách sẵn sàng sử dụng.

 

Sưu tầm từ nguồn: https://www.synology.com/en-global/knowledgebase/tutorials/508

Cách cấu hình thêm iSCSI và NFS cho hệ thống ảo hoá ESXi Host 5.5 – Phần 1


 

1. Cách thêm iSCSI target Server 3.3 trên windows server 2008 R2:

Bước 1: Download phần mềm

image

Download phiên bản Microsoft iSCSI Target 3.3

http://www.microsoft.com/en-us/download/details.aspx?id=19867 

Bước 2. Cài phần mềm iSCSI Target 3.3

image

Mở trình duyệt và tìm phần mềm download tiếp theo

image

Lưu ý: Phần mềm iSCSI Software Target (x64) 3.3 chỉ chạy trên Windows Server 2008 R2 64bit hoặc bản SP1.

Bước 3: cấu hình

image

 

– Tạo iSCSI Target

image

Đặt tên cho iSCSI Target

image

Lấy IQN identifier từ iSCSC initiator

image

Mở iSCSI Initiator để lấy IQN identifier

image

Lấy IQN từ Tab Configuration

image

Copy và dán thông tin Initiator Name

image

Tạo ổ cứng ảo cho iSCSI Target

image

image

Tạo Device gắn với ổ cứng ảo

image

Ánh xạ từ iSCSI với ổ cứng ảo

image

Gán ổ cứng ảo vào với iSCSI

image

Định dạng ổ cứng ảo “Format” và Mount ổ cứng ảo bằng Server Management \ Storage

image

Lúc này, ổ cứng ảo VHD đã được tạo trên thư mục vật lý của máy chủ windows server 2008 R2 vừa cài và cấu hình Microsoft Software Target 3.3

image

 

Ghi chú:

– Sau toàn bộ các bước trên các bạn nên quay về màn IQN Initiator để check và add thêm các IQN của các máy chủ windows server 2008 R2, WIndows 2003, Windows server 2012 hoặc máy chủ ESXi Host nào có trong nhóm muốn sử dụng ổ cứng ảo đã được tạo ở phần vừa xong.

– Máy chủ cấu hình iSCSI Target phải mở firewall cổng TCP 3260

image

 

Bước 4. Mở iSCSI Initiator từ 1 máy windows server 2008 R2 khác để thêm ổ cứng vào máy chủ đó

image

Thêm IP của máy chủ iSCSI Target

image

Quay trở lại màn iSCSI Target server để thêm IQN Initiator của máy chủ vừa

image

Thêm IQN Initiator đúng với máy client vừa kết nối tới IP của máy chủ iSCSI Target

image

image

Như vậy, có bao nhiêu máy client iSCSI Target cấu hình gọi tới máy chủ Microsoft iSCSI Software Target 3.3 thì trên chính máy chủ này cần phải thêm các IQN Initiator từ chính các máy client trên.

image

Sau toàn bộ động tác thêm các iSCSI Initiator IQN của các máy client

Bước 5. Quay lại với các máy client iSCSI Inittiator các bạn sẽ thấy được tình trạng kết nối và được phép scan thêm ổ cứng ảo iSCSI mới

image

Bước 6. Kiểm tra và dùng các tài nguyên trên ổ cứng ảo vừa được thêm vào hệ thống iSCSI Initiator

image

Ta đã có thêm ổ E:\ đọc ghi theo 2 thành phần tốc độ:

Ghi chú:

– Tốc độ của ổ cứng LUN có trong máy chủ Windows Server 2008 R2 đã cài và cấu hình Microsoft iSCS Software Target 3.3  (100 – 300mps)

– Tốc độ của mạng TCP/IP LAN 10-100-1000-10000Mbps.

 

Phần 2. Thêm ổ cứng iSCSC của windows server 2008 R2 vào ESXi Host 5.5 như thế nào ?

còn tiếp.

VMware Virtual SAN – công nghệ lưu trữ sáng giá trong VMware, hyper-convergence


Bài viết từ  Trang. Nguyễn.

Để có thể hiểu rõ hơn về nhận định trên, có một vài khái niệm chúng ta cần hiểu rõ trước.

1. Virtual SAN

Năm 2013, VMware thông báo công bố một sản phẩm mới trong thế giới ảo hóa, đó là phiên bản VMware Virtual SAN (vSAN) – khuấy động mối qua tâm của nhiều người.

vsan-intro

Mặc dù với cách viết tắt là “vSAN”, nhưng VMware vSAN có gì khác so với các mạng lưới lưu trữ ảo hóa truyền thống (Virtual storage area networks-VSANs). Mạng lưới lưu trữ ảo hóa là một thành phần logic trong mạng lưới lưu trữ (storage area network-SAN). VSANs truyền thống có thể lưu thông tách biệt trong các phần đặc biệt của một SAN. Một VSAN có thể được xây dựng để độc lập với các VSAN khác, thêm vào đó có thể thiết lập chế độ an toàn và ổn định riêng.

Không chỉ có thể giữ các nguồn tài nguyên một cách độc lập, vSAN của VMware còn có thể kết hợp chúng lại với nhau hoặc tách chúng ra riêng biệt khi cần. vSAN là một sản phẩm của VMware góp phần thúc đẩy việc thiết lập trung tâm dữ liệu phần mềm. vSAN được kết hợp với hypervisor – bắt đầu có với phiên bản vSphere 5.5 và được quản lý từ vSphere Web client, cho ra khối lượng lớn các thiết bị phần cứng và bộ lưu trữ flash được lấy từ cụm các máy chủ ESXi làm nơi lưu trữ dữ liệu cho các máy ảo.

Theo như VMware, thì mục tiêu của vSAN là giúp cho việc quản lý lưu trữ được dễ dàng, mở rộng và đưa ra nguồn dự phòng cho VMware.

vsan-intro2

Một lợi ích khác đối với các doanh nghiệp là giá trị; vSAN có thể được sử dụng đồng thời với các thiết bị lưu trữ hiện tại của công ty, miễn là nó có thành phần phần cứng tương thích với VMware, mà không cần phải mua bổ sung phần cứng. vSAN dùng các ổ đĩa solid-state để đọc và ghi cho bộ nhớ đệm và ổ đĩa cứng cho các lưu trữ chính.

Sự ra mắt của vSAN đã sớm nhận được những phản ứng tích cực nhưng một vài người sử dụng vẫn lo ngại và quen dùng với mạng lưới lưu trữ truyền thống. Bởi lẽ, sản phẩm vSAN đã làm lu mờ đi ranh giới giữa người quản trị ảo hóa và quản trị lưu trữ, điều này đặt ra một loạt các câu hỏi về trách nhiệm đối với nhiệm vụ cung cấp.

Điểm cần chú ý nữa là, nhiều hypervisors như KVM và Hyper-V sẽ không thể truy vào cụm lưu trữ được tạo ra từ vSAN.

2. Hyper-convergence

Hyper-convergence được sinh ra từ khái niệm sơ sở hạ tầng hội tụ bao gồm bộ lưu trữ, máy tính và hệ thống mạng. Hệ thống thuộc loại siêu hội tụ, được xây dựng trên hypervisor và cũng được sử dụng đặc biệt trong môi trường ảo hóa. Hệ thống lưu trữ là máy tính thường được quản lý riêng biệt trong môi trường ảo hóa, nhưng với hyper-convergence đưa ra một cách quản lý đơn giản là cho phép tất cả mọi thứ được quản lý thông qua một plug-in.

vsan-intro1-1024x747

Với công nghệ Virtual SAN, VMware không còn có những lo ngại về những vai trò trong việc lưu trữ. Phần mềm hyper-converged làm VMware giống như một công ty lưu trữ – vừa như một nhà cung cấp nhưng vẫn hỗ trợ lưu trữ. Tuy nhiên, nó thiếu tính năng lưu trữ và quản lý dữ liệu, nó cần một hệ thống tổ chức đúng đắn.

Giám đốc điều hành Pat Gelsinger đã có một khẳng định rõ ràng rằng lưu trữ là một thành phần quan trọng trong chiến lược của công ty. VMware vSAN được thiết kế ra rõ ràng là để cạnh tranh với các hệ thống lưu trữ trên thị trường.

Các thành phần ổ đĩa cứng và lưu trữ flash của VSAN được láy từ cụm các máy chủ ESXi hỗ trợ việc chia sẻ lưu trữ cho các máy ảo. Kho lưu trữ được cung cấp và quản lý từ hypervisor.

Không giống như nhiều sản phẩm lưu trữ của VMware, vSAN có thêm nhiều tính năng lưu trữ giám sát hoặc cho phép các công ty nhỏ được chia sẻ lưu trữ. vSAN được xây dựng cho các doanh nghiệp có quy mô. Có cổng ra ngoài hỗ trợ đến 32 nodes ( tăng từ con số 8 nodes trong phiên bản beta và 16 nodes là công bố mới của VMware), 4.5 petabytes và 2 triệu IOPS. Tuy nhiên, nó thiếu các tính năng lưu trữ và quản lý dữ liệu vì thế nó cầ hệ thống quản lý đúng đắn. Tính năng sủ dụng đầu tiên cuản vSAN sẽ được dùng để lưu trữ cho một cơ sở hạ tầng máy tính để bà ảo (VDI) và các văn phòng điều khiển từ xa.

Ngoài ra, thì cũng giống như các sản phẩm lưu trữ khác của VMware, vSAN không được thiết kế cho các quản trị hệ thống lưu trữ truyền thống. Mục tiêu của nó là hướng đến các quản trị viê máy chủ và ứng dụng người muốn lưu trữ mà không cần thiết lập các nhóm LUNs và RAID.

Gelsinger nói rằng việc hoàn thiện hệ thống lưu trữ đã tạo ra thành phần thứ 4 trong chiến lược xây dựng trung tâm phần mềm của VMware, đã bao gồm máy tính, máy chủ và mạng.

Một câu hỏi mà Gelsinger đã đặt ra là “ Tại sao phải thực hiện lưu trữ, chúng ta là một công ty ảo hóa mà? . Câu trả lời rất đơn giản: Vì lưu trữ và quản lý dữ liệu là một trong những tính năng quan trọng của trung tâm dữ liệu – gọi là trung tâm dũ liệu thì nó phải có trách nhiệm về việc đó. Và đó cũng là điểm yếu và thách thức lớn cho những khách hàng của chúng tôi hiện nay. Vì các công ty về cơ bản được đánh giá dựa trên cách lưu trữ, tổ chức và phâ tích dữ liệu”.

VMware đã tuyên bố có 12 000 khách hàng đang kí sử dụng chương trình thử nghiệm này. Nhà đầu tư sẽ tạo vSAN GA như một phần mềm download hoặc dựa trên hệ thống phần cứng được tạo ra từ các đối tác như: Cisco, Dell, Fusion-io, HGST, Hewlett-Packard, IBM, Intel, LSI, Samsung Electronics, SanDisk và Seagate. Các khách hàng cũng có thể được dụng VMware vSAN của riêng họ với bất kỳ cấu trúc phần cứng nào mà được hỗ trợ của VMware hypervisors.

Một cụm vSAN yêu cầu vCenter Server; với ít nhất 3 máy chủ vSphere có các bộ phân xử đường dẫn máy chủ SAS hoặc máy chủ SATA; ít nhất một ổ đĩa cứng SAS hoặc SATA; và một thiết bị SAS, SATA hoặc PCI Express flash. Mỗi máy chủ cũng cần một Ethernet đường dẫn Gigabit hoặc cạp mạng 10GbE.

Gelsinger cũng nói về giá trị của vSAN là: Nó làm cho việc lưu trữ “dễ dàng thực hiện, hiệu suất cao, và có hiệu quả trong chi phí”. Chúng tôi không thể có đánh giá về các đặc tính này sớm, vì VMware sẽ không đưa ra giá cho tới khi vSAN đi GA trong tuần tới. Hiệu suất sẽ được đánh giá bởi mỗi người dùng. Chúng tôi biết vSAN còn thiếu một số tính năng lưu trữ có giá trị như: không cho sao chép/nén; kết nối;phân chia rộng khắp hoặc tẩy xóa mã hóa; công nghệ bảo vệ dữ liệu như là: bảo vệ dữ liệu liên tục và dựa trên chính sách chuyển dữ liệu lên đám may. Nói một cách khác, nó là lưu trữ có phần mềm xác định mà không có nhiều tính năng cần chúng tôi tích hợp.

VMware có thể thêm các tính năng quản lý lưu trữ trong tương lai. Các khách hàng cũng có thể nhận được chúng thông qua các sản phẩm phần mềm của bên thứ 3, nhưng nó sẽ làm giám giá trị về chi phí, và đơn giản của vSAN.

Nó xuất hiện dễ dàng để thiết lập và quản lý, ít nhất là khi so sánh với cách lưu trữ truyền thống dựa trên LUN. Nó không phải đơn giản là “hai click” vì nó cần nhiều tác vụ hơn để thiết lập các chính sách lưu trữ, nhưng chỉ cần quá trình xử lý đơn giả là đủ. Giám đốc công nghệ của VMware Ben Fathi đã chứng minh một vSAN đã được tiến hành thực nghiệm trong cả ngày thứ 5, nhanh chóng thiết lập các chính sách lưu trữ cho khả năng phục hồi ( số rủi ro phải chấp nhận chịu ) và hiệu suất ( số vạch đĩa cho mỗi đối tượng và lượng ổ flash cần dùng cho đọc bộ nhớ cache), và việc triển khai một ứng dụng bằng cách nhấn kéo thả các trình đơn.

“Tôi đã không lo lắng về LÚN, cấu hình RAID, hay bất kì cái gì, hay bất kì trình quản lý đặc biệt nào” Fathi nói sau khi demo. “ Tôi nghĩ bạn sẽ dùng cách lưu trữ mới này trong tương lai.”

Fathi cũng nói thêm rằng: 32 node vSAN có thể lưu trữ tới 3 200 máy ảo. “ Điều đó đáp ứng cho các yêu cầu của bất kì doah nghiệp nào”.

3. vSAN ảnh hưởng như thế nào đến cảnh quan lưu trữ?

vSAN của VMware ra mắt được sự chứng nhận từ nhiều nhà đầu tư máy chủ như Cisco, Dell và IBM và plus EMC và Intel. Các nhà đầu tư máy chủ và Intel nên vui mừng về sự ra mắt của vSAN bởi vì nó làm tăng giá trị các máy chủ của họ bằng cách chuyển chúng vào bộ nhớ chia sẻ.

Một số nhà đầu tư nhỏ xem ra không chào đón sự xuất hiện của vSAN, điều này thực sự là mối đe dọa cho hệ thống hyper-converged được bán bởi Nutanix, SimpliVity và Maxta, cũng như lưu trữ VM-aware từ Tintri. vSAN cũng có thể gây ảnh hưởng đến các nhà đầu tù mảng flash – những đối tượng đã dành được những thành công bân đầu nhờ việc bán lưu trữ tù VDI.

Giám đốc điều hành Dheerj Pandey của Nutanix, người giúp công ty có được thành công lớn nhất kể từ khi hyper-convergence bắt đầu ra mắt cho đế nay, lại có nhận định khác về vSAN. Ông nói VMware có thể giúp đỡ Nutanix bằng cách chuyển việc mua lại và trích lập dự phòng lưu trữ từ những người quản trị máy chủ và ứng dụng. Họ cũng là người mà Nutanix bán cho.

“Mọi người cứ cố gắng vẽ ra những điều sai lầm giữa chúng tôi” ông nói “ Chúng tôi đang chạy môi trường làm việc, cơ sở dữ liệu, máy chủ mail và các ứng dụng ERP trên máy chủ của Nutanix. Mặc dù, nó khá lôn xộn trong VDI, nhưng tôi tin rằng việc trao quyền cho những người có VDI và những người có máy chủ sẽ kéo luồng gió này ra khỏi các công ty SAN. Đây sẽ là một khó khăn hơn cho EMCs, NetApps và các nhà đầu tư lưu trữ. Đó là những điều chính xác một công ty như Nutanix cần biết từ một công ty lớn như VMware”.

 

Trân trọng cảm ơn em Trang. SV ĐHBK HN !

Cách cấu hình FreeBSD iSCSI thông qua vSphere 5.5 Web Client Workflows


In our last article, we went through the workflow to add each host to our Distributed Virtual Switch, as well as adding the requisite VMkernel ports for each host. In this article, we’ll build upon that as we configure software iSCSI on our hosts.

Add the Software iSCSI Adapter

1. In the vSphere Web Client Home page, click on the Host and Clusters icon.

2. Click the Host you want to configure (1), Manage (2), then Storage (3).

3. Click the green + symbol (1), then Software iSCSI Adapter (2).

4. Click OK on the Add Software iSCSI Adapter popup.

5. You should now see the software iSCSI adapter, named vmhba33 or something similar.

Configure Network Adapters

Since we already added and configured the VMkernel adapters in an earlier article, there’s only one thing we need to do here – set each iSCSI distributed port group to use only a single uplink. Since this is the same procedure for both distributed port groups, I’ll only show it once.

1. In the vSphere Web Client Home page, click on the Networking icon.

2. Right-click on iSCSI1 (1), then click Edit Settings (2).

3. Click Teaming and failover, then move all uplinks but one into Unused uplinks. In this case, iSCSI1 will have Uplink 3 and iSCSI2 will have Uplink 4. Click OK.

Add the iSCSI Software Adapter Network Port Binding

1. Back in Hosts and Clusters > Host > Manage > Storage, click on vmhba33, Network Port Binding, then the green + to add binding.

2. Choose the first VMkernel adapter in the list, then click OK. Repeat these steps for the second VMkernel adapter.

3. Your Software iSCSI adapter should now show two unused VMkernel adapters.

Add New iSCSI Targets

1. On the iSCSI Software Adapter, click Targets, then Add.

2. Fill in the IP address or FQDN of your iSCSI target. Click OK. Repeat for each additional target.

3. Click Rescan to pick up the new block devices.

4. Click OK to scan for new devices and VMFS volumes.

5. We now see the expected LUNs…

Across both paths

6. Now, rinse and repeat for the other hosts in your cluster.

And that’s it for this article. Check back next time for when we actually do something with these LUNs.