Lưu bút chuẩn bị đón Xuân 2013


Tiễn mùa Đông 2012

Những hình ảnh kỷ niệm Năm tháng đã qua của các Anh Chị người thân trong Đại gia đình Việt

 

Scanner_0005Scanner_0006Scanner_0007

Tiễn biệt Mùa Đông lạnh giá, xa xôi và đơn độc:

DSC_0074

Minh Trang, Mát-x-cơ-va, 2012

DSC00721

Anh Dzich, Hà-nội 2011

DSCF4123

Ngọc Hà, Luân-đôn, 2009

31012009_231012009_1

Đào miền bắc, Mai miền nam đang đợi nàng tiên Mùa Xuân trở về để kịp khoe sắc hương.

16 Điều tâm niệm trong cuộc đời làm người mà bạn luôn tu tập làm theo

1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.

2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là giả dối, dối trá.

3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự cao tự đại.

4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen ghét, ghen tỵ.

5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.

6. Tỗi lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu, bất trung.

7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ty.

8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên khi đã từng bị vấp ngã.

9. Phá sản lớn nhất của đời người là Tuyệt vọng.

10. Tài sản lớn nhất của đời người là Sức khỏe và Trí tuệ.

11. Món nợ lớn nhất của đời người là Tình cảm.

12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

15. Thành công lớn nhất của đời người là không làm khổ người khác.

16. Hạnh phúc lớn nhất đời người là đem niềm vui đến cho mọi người.

 

Thơ năm 2011 Tân Mão:

Tiễn “Đông chí” đón “Xuân về”

Mong sao năm nay Tân Mão
Nhiều cái mới, cơ hội mới
Khó khăn thách thức vẫn vượt qua
Như truyền kỳ “Bát tiên quá hải”.

Đường đi mới, thấy chân trời sáng
Phía cuối đường hầm, bóng tối mờ dần
Sau những ngày lao động nghiên cứu miệt mài
Sẽ là tiền tài, lộc phát, niềm vui thành quả.

Năm mới đến, Đông sắp tàn, Xuân sắp về
Lòng này hướng tới Niềm tin “Ất Thái Lai”
Bao công sức quyết giữ gìn
Anh em đoàn kết quyết tiến lên Thắng lợi !

Đầu năm, Đông Chí – Tân Mão 2011.

我希望今年茅挞嗯
新事物,新机会
挑战依然克服
由于公共电视,“第一蝙蝠的习俗。“

新航线,看到明亮的视野
该隧道的尽头,消失在黑暗中
经过几天的辛勤劳动研究
将金钱,财富播放,娱乐性能。

新的一年,东方印染,明年春天
信托目的是请“佚来泰
包括保全工作
兄弟俩决定搬到团结的胜利!

今年早些时候,冬至谈呒熬2011年。

 

Chúc tết Xuân Canh Dần, 10/1/2010:

image

 

Mong Xuân Kỷ Sửu sớm trở về , 26/1/2009:

image

 

image

image

image

Bài thơ không nhan đề Tặng thầy cô giáo nhân ngày 20 – 11


Em vẫn nhớ những ngày cuối thu.

Mùi hoa sữa trên phố ngào ngạt hương.
Nhớ những ngày này, ngày nhà giáo Việt Nam
Bài “Công Cha, nghĩa Mẹ, ơn Thầy” vẫn như văng vẳng bên tai.

Dẫu bây giờ em mới biết làm chút thơ.
Đọc chữ O, viết chữ số 0 Cô dặn phải tròn trĩnh.
Mà sao khó viết lên lời !
Lỗi tại mùa hoa phượng, tiếng ve kêu.

Mải ruổi rong chơi nên chẳng thuộc lời Thầy Cô dặn.
Dường như Thầy Cô già đi mấy tuổi
Đến khi chúng em hiểu điều đơn giản ấy.
Cả cuộc đời Thầy Cô dõi bóng theo bước chúng em…

 

Lại những tháng ngày này

20.11 ngày để chúng em nhớ đến

Bao công lao âm thầm của các Thầy các Cô.

 

Kính chúc Thầy Cô luôn mạnh luôn khoẻ,

Gìn giữ Văn Hoá Việt như gương sạch sáng trong

Cho biết bao thế hệ Việt muôn đời.

 

Người sáng tác:
Tiến sĩ Vi sinh Lê Toàn Thắng
Tiến sĩ  Công nghệ thông tin

Hồi ký tuỳ bút–một ngày cuối năm 2009 nói về chữ “TẾT” của Dân tộc Việt Nam


Người italia, người tây ban nha, người Đức và người Pháp… mà trong cuộc đời tôi có dịp sống làm việc cùng họ ở liên hiệp quốc, FAO.
Họ đều hiểu văn hóa người Việt và họ đều nói rất rõ “Vietnamese new year” hoặc đơn giản là “Tết“.
Có nhiều điều lý giải cho sự đồng hóa “chiếm” lĩnh văn hóa, xóa bỏ lịch sử của nhiều Triều đại để làm cho các thế hệ sau nhầm lẫn.
(ví dụ: 40 – 50% thế hệ trẻ việt đều nói rằng họ xuất thân là gốc người hoa vì họ cho rằng họ biết lịch sự trung quốc tốt hơn lịch sử Việt nam. Vậy mà tôi đã từng đặt ra nhiều câu hỏi họ đã không trả lời được:
1. Lúa gạo, Trà ẩm thực ngày nay là những sản vật có nguồn gốc từ đất nước Trung hoa ?
2. Những ngày lễ hội như: 1/1, 3/3, 5/5, 7/7, 9/9,11/11 là những ngày gì ? chúng có liên quan gì với nền văn minh “Lúa nước” ?
3. Bạn có biết người Trung quốc cũng có những ngày lễ đó mặc dù không phải là thuộc nền văn hóa “Lúa nước“, các bạn biết tại sao không ?

Những thứ đó chưa bao giờ có nguồn gốc từ người Trung Quốc, mắc dù vậy họ vẫn cố công tạo dựng hình ảnh để thế giới tưởng nhầm rằng những thứ tuyệt tác đó là nguồn gốc của họ, làm cho Trung quốc có cái bong bóng vĩ đại.

Bôi nhọ, nói xấu Việt nam để Thế giới nghĩ rằng Việt nam nhỏ bé, không có nguồn gốc to đẹp, phụ thuộc vào “Bành trướng Bắc Kinh”, những kẻ chỉ giỏi mị dân, nói láo và làm nhiều điều độc ác, thất đức, sằng bậy.

Tóm lại, những câu hỏi trên thật đơn giản và thật khó bởi vì các nhà sử học, môn học lịch sử việt nam lại không viết một cách thực tế như vậy để con cháu người Việt hiểu mà chỉ toàn nêu sự kiện, văn học thì toàn đưa ra những lý giải thích dung dị khó chấp nhận làm cho văn hóa và sử học người Việt ngày càng mờ nhạt lẫn lộn với lịch sử Trung quốc, mặc dù 2 lịch sử, văn hóa hoàn toàn khác nhau.

Ngày nay, chúng ta lại đi cãi nhau về chuyện cái nào có trước, cái nào có sau. Hay phong tục đó là của người Trung quốc, văn hóa đó là của người Việt…  Rồi chuyện người Trung quốc làm sằng làm bậy ở đảo Hoàng xa, Trường xa, đưa mấy ngôi mộ giả theo kiểu kế “72 ngôi mộ giả của Tào Tháo”  rồi bảo với thiên hạ là ngôi mộ cổ của tổ tiên họ mới mọc ra ở đảo – lố bịch quá, bởi Trung quốc còn không có “ngày quốc giỗ” lấy đâu ra cái tôn quí những ngôi mộ cổ của tổ tiên, họ chỉ giỏi đào bới  mộ tổ tiên lên để lấy các vật cổ, giá trị.

Tôi rất hạnh phúc là người Việt, bởi vì đơn giản tôi có gốc tích người Việt cổ xưa, cũng thuộc 1 dòng họ “Đế vương” , tự hào và luôn cố gắng để thể hiện mình là con cháu Đế vương. Điếu đó cho thấy tôi hơn hẳn suy nghĩ của người khác cho dù đó là người Việt hay họ tự cho rằng họ là người Trung hoa.

Và cũng như bao người dân việt khác, toàn thể dân Việt tự hào hơn các dân tộc khác (kể cả người trung quốc hiện đại) vì chúng tôi là dân tộc có ngày thờ cúng tổ tiên “Ngày giỗ tổ“.

 (Các nước trên Thế giới, người Trung quốc và các dân tộc khác đông là thế, văn minh là vậy nhưng không có nổi ngày đó).

Tôi nói tất cả những điều này để hiểu đơn giản rằng:
– Tết cổ truyền của Dân tộc Việt nam hoàn toàn khác với tết trung quốc.
– Tết của người Việt có trước cả lễ hội của người Trung Quốc chỉ bởi đơn giản Lịch âm được tính theo lịch mặt trăng. Lịch mặt trăng được tính theo những ngày mùa làm ruộng của nền văn minh “Lúa nước“, Trung quốc không thuộc nền văn minh này, nên hiển nhiên họ không biết gì về lịch âm.

– Có trong sử sách Chiến tranh 1000 năm bắc thuộc, nhà Hán đã học được ở Cha ông người Việt chúng ta có ngày Tết dân tộc, để nhớ ơn công đức tổ tiên.
Từ đó người Trung quốc mới có những ngày lễ “Tết người trung quốc“.

– Thậm chí, những ngày tết nguyên tiêu hay tết thượng nguyên, là những ngày lễ được mùa của nền văn hóa “Lúa nước“, người Trung quốc cũng đem áp dụng và chép sử thành ngày lễ do họ nghĩ ra để ngụy tạo văn hóa. Sử gia Việt nam lại viết thành những tích truyện làm thế hệ chúng ta không thấy rõ giá trị nhân văn, đúng đắn và coi thường văn hóa cha ông mình.

– Tết của người Trung quốc tại sao không được nhà Hán gọi với tên như kiểu người Việt “Tết cổ truyền Trung Hoa” ? bởi vì người Trung quốc có nhiều dân tộc là gốc người Việt, và vì họ đón tết theo phong vị cổ truyền của người Việt, do đó Nhà Hán đã không thừa nhận ngày cuối âm lịch của họ là “ngày tết cổ truyền của người Trung quốc”.

 Trung quốc sợ mang tiếng là phụ thuộc vào văn hóa của người Việt.

– Nói về chiến tranh biên giới việt nam và trung quốc từ 1979, không có một người lính nào có gốc tích từ sông trường giang đổ xuống phía nam tham gia cuộc chiến, vì sao vậy ? thật đơn giản: nhà cầm quyền Bắc kinh quá biết những người đó có gốc Việt, họ sẵn sàng đảo chính hoặc không phục tùng vì lẽ nào họ giết hại chính dân tộc mình. Cũng may là chúng ta đã ngừng được chiến tranh vì, Người Việt cha ông là những người vĩ đại và yêu tổ quốc, hiểu được sử nước Việt.

– Năm nay là năm thứ 4 tôi dậy con tôi về sử Việt nam, con tôi đã thích thú với việc đọc 4 tập “Sử ký” của Cha tôi tặng tôi hồi còn nhỏ, và tôi cũng hiểu rằng những cuốn đó có từ thời xa xưa, có lẽ có từ thời dòng họ “Vua cha Lê” .

Trên tất thẩy mọi thứ mong ước:

Một ngày đầu xuân, chúc toàn thể dân Việt “Hạnh phúc, An khang, thịnh vượng”, chúc các bạn trên toàn thế giới hiểu người Việt và cũng sẽ được hưởng hạnh phúc, thái bình như những người con đất Việt.

 Mùa xuân và Tết nguyên đán “Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam”.

CHÚC MỪNG NĂM MỚI 

===========================================================================
Italians, Spaniards, Germans and French … that in my life have the opportunity to work with them living in United Nations, FAO.
They understand Vietnamese culture and they all say very clearly “Vietnamese new year” or simply “New Year” or Tet.
There is much justification for the assimilation of “constitute” cultural domains, delete the history of many Dynasty to make the next generation confusion.
(e.g: 40-50% the young Vietnamese have said that they came body is the root of chinese because they think they know Chinese history better than history Vietnam.
So I have had many questions they posed were not answered:    
1. Rice, tea production materials are derived from Chinese country?
2. The festivals such as: 1/1, 3/3, 5/5, 7 / 7, 9 / 9, 11/11 on what’s date ? they related to civilization “Rice water”?
3. You also know the Chinese holidays, although it is not the culture of “Rice water“, do you know why? )

In short, these questions are simple and very difficult because historians, historical subjects Vietnam not write such a practice to the Vietnamese children out only if all events, literature shall make all reasonable explanation difficult to accept locally made and cultural historian of Vietnamese increasingly faint confused with Chinese history, although the two different history, different cultures.

Today, we take an argument about which one is first, which one is later. Tradition of the Chinese, the culture of the Vietnamese…

I am very happy that the Vietnamese, because I have a simple analysis of Vietnamese ancient origin, and a family of “kingly” proud and always trying to express themselves as descendants kingly. This shows that I think superior to others even the Vietnamese people or they themselves think they are Chinese.

And how well as other Vietnamese people, all Vietnamese people are proud than other peoples (including Chinese modern) because we are a nation on ancestor worship “The King Day on the hero. (Chinese people and peoples that almost no).

I say all this is simple to understand that:
– New Year traditional Vietnamese people completely different  Chinese new year.
– Year of the Vietnamese is the first festival of the Chinese Lunar simply just by the lunar calendar. Lunar calendar are the days of the season farming civilization “Rice water“, not the Chinese civilization is so obvious they do not know about lunar calendar.

– The war in history in 1000 in the north, the Han Dynasty have learned in his father we have on the Vietnamese Tet nation, grateful to the ancestral faith.
Since then the Chinese have holidays “Year of China“.

– Even the original title on Tet or Tet Thuong Nguyen, holidays are the season of culture “Rice water“, the Chinese also provide application and copy of the holidays because they think that in order to disguise the literature chemical. Vietnam historians write the story of how systems analysis we can not clearly see the value of humanity and right and generally considered his father his culture.

– Why Year of China in the Han Dynasty is not known to the Vietnamese-style names like “traditional Chinese New Year“? because many Chinese ethnic groups of Vietnamese origin, and because they welcomed the New Year are traditional style of the Vietnamese, so Han Dynasty did not recognize the end of their lunar calendar “Year of the Traditional Chinese country“, they bring fear is dependent on the free culture of the Vietnamese.

– Talking about war borders Vietnam and China since 1979, a soldier does not have the original area from the Yangtze River down south join the war, why so? simple: the authorities said Beijing so that the original Vietnamese, they are ready coup or fail to obey reason they killed the peoples themselves. Fortunately, we have stopped the war because, Vietnamese people his father and the great love of country, understand the history of Vietnam.

– This year the 4th I use up my child in Vietnam, my children enjoy reading the fourth episode “Histories” of the gift I asked my father as a child, and I also understand that from the book ancient, perhaps even longer time before the family “Father of King Le“.

On everything:
One day in spring, wish all of Vietnam “Happiness, lucky, prosperity, wish you the world understand the Vietnamese and will enjoy happiness and peace as children Vietnam.

TET, SPRING and Vietnamese New year.

HAPPY NEW YEAR

Lịch làm việc tại THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI


 

Giờ mở cửa

NỘI QUI CƠ QUAN

  1. Mọi người đến liên hệ với cơ quan phải xuất trình giấy tờ và theo sự hướng dẫn của nhân viên bảo vệ.
  2. Tôn trọng tài sản của thư viện như: Nhà cửa, sách báo và các rtang thiết bị, không tự tiện sử dụng hệ thống thông tin, điện, nước.
  3. Nghiêm cấm mang các chất nổ, chất dễ cháy và khí vào thư viện.
  4. Chú ý tắt động cơ xe máy, tôn trọng sự yên lặng của các bạn đọc khác.
  5. Khi đọc, mượn sách báo ở các phòng chuyên môn phải theo sự hướng dẫn của cán bộ thư viện, không được tự tiện mang sách, báo ra khỏi các phòng đọc nếu không được sự đồng ý của cán bộ thư viện.
  6. Thực hiện nếp sống văn minh giữ trật tự, vệ sinh chung, không hút thuốc lá trong thư viện.
  7. Giờ làm việc hàng ngày: Từ ngày 01/01/2012, Thư viện Thủ đô Hà Nội thực hiện giờ mở cửa các phòng Phục vụ bạn đọc như sau:

Lịch làm việc từ Thứ 2 đến Thứ 6

Tên Phòng

Giờ mở cửa

Phòng Báo – Tạp chí

Sáng: 08h00 – 12h00

Chiều: 13h30 – 17h00

Phòng Khiếm Thị

Phòng đọc tự chọn

Phòng đọc Thiếu nhi

Phòng mượn Thiếu nhi

Phòng mượn người lớn

Từ 08h00 đến 19h30

Phòng đọc Tổng hợp – Ngoại văn

(Chiều thứ 5 của tuần thứ nhất và tuần thứ ba hàng tháng nghỉ vệ sinh kho sách)

Lịch làm việc ngày Thứ 7

Tên Phòng

Giờ mở cửa

Phòng Báo – Tạp chí

Sáng: 08h00 – 12h00

Chiều: 13h30 – 17h00

Phòng mượn người lớn

Phòng Thiếu nhi (đọc và mượn)

Phòng đọc Tổng hợp – Ngoại văn

Các phòng phục vụ nghỉ ngày chủ nhật.

THƯ VIỆN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THỂ LỆ PHÒNG LÀM THẺ THƯ VIỆN HÀ NỘI

Gồm 3 loại thẻ:

  • THẺ ĐỌC NGƯỜI LỚN
  • THẺ MƯỢN NGƯỜI LỚN
  • THẺ THIẾU NHI

    Ngày làm thẻ: thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bẩy.

    (Thẻ được cấp trong ngày)

    Thời gian:

    • Sáng 8h30 đến 11h00.
    • Chiều 13h30 đến 16h00.

    THẺ ĐỌC NGƯỜI LỚN

    Đối tượng: Các em học sinh PTTH trong thành phố Hà Nội. Sinh viên các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; Cán bộ công nhân viên đang công tác tại các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh, lực lượng vũ trang trên địa bàn thành phố, người lao động và người nghỉ hưu tại Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Chứng minh thư nhân dân. (Công an T.p Hà Nội cấp). Nếu người ngoại tỉnh phải có giấy chứng nhận đang tạm trú tại Hà Nội.
    • 2 ảnh 3 x 4 cm.
    • Lệ phí 20.000đ/ thẻ/năm.

    THẺ MƯỢN NGƯỜI LỚN

    Đối tượng: Tất cả công dân từ 16 tuổi trở lên đang sống và làm việc thường xuyên tại Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Chứng minh thư nhân dân. (Công an T.p Hà Nội cấp). Nếu người ngoại tỉnh phải có giấy chứng nhận đang tạm trú tại Hà Nội.
    • Lệ phí: 40.000đ/ thẻ/năm.
    • 02 ảnh 3x4cm
  • Tiền cược sách: 100.000đ/thẻ.
  • Thẻ Mượn người lớn: sử dụng cho cả phòng đọc và phòng mượn người lớn

    THẺ THIẾU NHI

    Đối tượng: Các em học sinh PTTH, THCS và tiểu học trong Thành phố Hà Nội.

    Thủ tục:

    • Sổ hộ khẩu (phô tô).
    • 02 ảnh 3x4cm
  • Lệ phí: 20.000đ/thẻ/năm
  • Cược sách thẻ thiếu nhi: 30.000đ/thẻ.

Chú ý: Đề nghị bạn đọc giữ biên lai tiền cược sách cẩn thận. Nếu mất thư viện sẽ không trả lại tiền cược đó. Khi đổi thẻ không có biên lai cũ phải nộp lại tiền cược sách như làm thẻ mới.

Cách sử dụng các dấu câu trong tiếng Việt !


Tài liệu tham khảo bao gồm:
– Ngữ pháp tiếng Việt – NXB Khoa học xã hội – 1983;
– Tiếng Việt thực hành (dùng cho sinh viên không chuyên ngữ) – NXB Giáo dục – 1997;
– Ngữ văn các lớp 6,7,8,9 – NXB Giáo dục – 2006

Dấu câu là một trong những phương tiện ngữ pháp (thay cho ngữ điệu khi nói). Nó có tác dụng làm cho nội dung của câu văn mạch lạc, khúc chiết; ngăn cách các thành phần trong cấu tạo câu.

Dùng dấu câu không chuẩn xác hoặc dùng dấu câu không phù hợp trong văn bản sẽ làm cho câu sai hoặc có nội dung mơ hồ.

Trong tiếng Việt có các dấu câu sau đây:

1. Dấu chấm

Dấu chấm dùng để kết thúc câu tường thuật (câu kể) trên văn bản.
VD: Anh ấy nói rằng: “Sẽ tới một ngày ta đòi nợ non sông!”.

2. Dấu chấm hỏi

Dấu chấm hỏi dùng trong câu nghi vấn (câu hỏi) nhất là trong trường hợp đối thoại.
VD:
– Bạn có biết gì về tình hình Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay?
– Tôi không biết. Còn bạn?

Cần chú ý:
a/ Dấu chấm hỏi có thể dùng trong câu tường thuật, đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị sự nghi ngờ.
VD:
– Chúng ta đã mất Trường Sa (?)
– Chúng ta vẫn còn giữ được một số đảo!

b/ Không dùng dấu chấm hỏi trong trường hợp có từ nghi vấn trong cấu tạo của câu ghép với nghĩa nêu lên một tiền đề cho ý kiến tiếp theo.
VD: Trung Quốc là nước như thế nào, ai cũng biết.

c/ Nếu muốn tỏ thái độ khinh bỉ, mỉa mai, đồng thời hoài nghi thì dùng dấu chấm than và dấu hỏi trong một ngoặc đơn.
VD: Người ta đồn rằng hắn là kẻ lừa đảo (!?).

3. Dấu chấm than

Dấu chấm than thường được đặt cuối câu cảm thán, câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh.
VD:
– Câu cảm thán: Trời! Biển đảo Tổ quốc ta đẹp quá!
– Câu cầu khiến, khuyên ngăn, mệnh lệnh: Việt Nam ơi xin nắm chặt tay!

Dấu chấm than còn có thể đặt trong dấu ngoặc đơn để biểu thị thái độ mỉa mai hay dùng cùng với dấu chấm hỏi trong ngoặc đơn để vừa biểu thị thái độ mỉa mai, vừa hoài nghi.
VD: Hắn tự hào vì người ta không tìm được hắn (!)

4. Dấu chấm lửng

Khi nói, dấu chấm lửng được thay thế bằng từ vân vân. Khi viết cũng có thể dùng từ này (viết tắt “v.v…”) hoặc dùng 3 dấu chấm (…). Dấu chấm lửng dùng để:

a. Đặt cuối câu khi người nói không muốn nói hết ý mình.
VD: Sự thể là vậy nhưng hắn nào có muốn…

b. Đặt cuối đoạn liệt kê khi người nói không muốn liệt kê hết sự vật, hiện tượng,… trong một chủ đề.
VD: Câu trên cũng là 1 ví dụ.

VD khác: Năm nay, các loại rau cỏ như: rau muống, mồng tơi, su hào, bắp cải,… đều lên giá.

c. Đặt sau từ, ngữ biểu thị lời nói đứt quãng.
VD: Tôi… không… còn… đủ… sức… nữa!

d. Đặt sau từ tượng thanh để biểu thị sự kéo dài âm thanh.
VD: Phù… Thế là xong!

e. Đặt sau đoạn biểu thị sự châm biếm, hài hước.
VD: Đẹp trai không bằng… chai mặt.

5. Dấu hai chấm

Dấu hai chấm dùng để:

a/ Liệt kê thành phần vị ngữ của câu đơn có động từ là hoặc trong thành phần vị ngữ có các từ biểu thị sự liệt kê ở sau các từ: sau đây, như sau, để,…

VD: Một số yêu cầu khi viết bài trên diễn đàn là:
– Viết đúng chính tả;
– Trình bày dễ nhìn;
– Không sử dụng các ngôn từ thiếu văn hóa.

b/ Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh cho một phần trước đó

VD: Cầu vồng có bảy màu cơ bản: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.

c/ Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp (dùng với dấu ngoặc kép) hay với lời đối thoại (dùng với dấu gạch ngang)

VD:
Bạn tôi hỏi:
– Cậu rảnh hay sao mà lại tham gia vô mấy cái rắc rối đó?
Tôi đáp:
– Tôi không rảnh lắm nhưng tranh thủ chút thời gian vì tôi thấy mình cần phải làm một cái gì đó cho Hoàng Sa Trường Sa, cho đất nước.

6. Dấu gạch ngang

Dấu gạch ngang dùng để:

a/ Chỉ ranh giới của thành phần chú thích

VD: Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã – một người đã giành cả đời để nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa – sắp tới sẽ phát hành một cuốn sách mới

b/ Đặt trước những lời đối thoại

VD:
– Anh đi đâu thế?
– Tôi đi loanh quanh đây thôi.

c/ Đặt ở đầu những thành phần liệt kê

VD:Thi đua yêu nước để:
– Diệt giặc đói;
– Diệt giặc dốt;
– Diệt giặc ngoại xâm.

d/ Đặt giữa hai, ba, bốn tên riêng, hay ở giữa hai con số ghép lại để chị một diên danh, một liên số

VD: Cầu truyền hình Hà Nội – Huế – TP. HCM đã sẵn sàng.
Văn học Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945 có nhiều tác phẩm đáng để đọc.

e/ Dùng trong trường hợp phiên âm tiếng nước ngoài

VD: Lê-nin, pô-li-me,…

7. Dấu ngoặc đơn

a. Dùng để ngăn cách thành phần chú thích với từ ngữ trong thành phần chính của câu.

VD: Tôi quen anh (rất tình cờ) qua một người bạn thân.

b. Sự khác nhau giữa dấu gạch ngang và dấu ngoặc đơn có khi không được rõ. Theo thói quen, người dùng dấu này, người dùng dấu kia đối với thành phần chú thích. Tuy vây, cũng có thể nhận thấy giữa hai loại dấu này có sự khác nhau như sau:

– Khi thành phần chú thích có quan hệ rõ với một từ, một ngữ ở trước nó, thì thường dùng dấu ngang; nếu quan hệ đó không rõ thì thường dùng dấu ngoặc đơn.

VD: Chồng chị – anh Nguyễn Văn Dậu – tuy mới hai mươi sáu tuổi nhưng đã học nghề làm ruộng đến mười bảy năm.
(Ngô Tất Tố)

Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên (Có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
(Giang Nam)

– Một trường hợp đáng chú ý là dấu ngoặc đơn có thể dùng để giải nghĩa cho một từ hoặc một yếu tố ngôn ngữ không thông dụng.

VD: – Italia (Ý), Hàn Quốc (Nam Triều Tiên)
– Tiếng trống của phìa (lý trưởng) thúc gọi nộp thuế vẫn rền rĩ.
(Tô Hoài)

8. Dấu ngoặc kép

a/ Dùng để chỉ ranh giới của một lời nói được thuật lại trực tiếp. Trước dấu ngoặc kép, trong trường hợp này, thường dùng dấu hai chấm.

VD: Thiếu úy Trần Văn Phương đã hô: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”.

b/ Dùng để trích dẫn một danh ngôn, một khẩu hiệu. Trong trường hợp này không dùng dấu hai chấm trước đó. Chữ cái đầu âm tiết của từ trong danh ngôn, tục ngữ, lời dẫn… cần được viết hoa.

VD: Câu “Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ” là có ý khuyên người ta cẩn trọng trong ăn ở, đừng để tiếng xấu ở đời.

c/ Dùng để biểu thị thái độ mỉa mai, chế diễu của người viết hoặc trích dẫn từ, ngữ của người khác hoặc đánh dấu một từ được dùng với nghĩa đặc biệt, khác với nghĩa thông thường..

VD: Xem chừng các anh chị ở đây đều theo chiều hướng “trăm năm cô đơn” hết cả rồi!

Khoảng cách sau các dấu câu bao giờ cũng là một (1) khoảng trắng, sau đó bắt đầu đến ký tự đầu tiên của câu (vế) tiếp theo.
Sau dấu chấm câu thì viết ký tự in hoa. Sau dấu phẩy ( , ), dấu chấm phẩy ( ; ) ngăn cách các vế của một câu thì không viết hoa.
Đầu mối câu viết hoa ký tự đầu tiên. Tên riêng thì viết in hoa ký tự đầu.
Các dấu bỏ ngay sau ký tự cuối cùng của câu (vế) mà không có khoảng cách.

Tuy nhiên, hiện nay, trong các văn bản được in ấn thì người ta vẫn để khoảng trắng trước các dấu sau đây:
– Dấu chấm hỏi;
– Dấu chấm than;
– Dấu hai chấm;
– Dấu gạch ngang;
– Dấu chấm phẩy.
Nhưng đó chỉ là quy ước bất thành văn của các văn bản.

Các bạn có thể tham khảo thêm tại:
Các dấu câu trong tiếng Việt (NgonNgu.Net)
Cẩm nang về văn phong (Wikipedia)